Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người và một số bất cập

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 có quy định vềtội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người, góp phần phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm đạt hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người, chúng tôi nhận thấy có một số hạn chế, cần được khắc phục.

1. Một số hạn chế, bất cập

Trong bối cảnh các hành vi mua bán bộ phận cơ thể người đang diễn ra tràn lan và gây tác động tiêu cực đến con người thì việc bổ sung quy định về tội phạm mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người trong BLHS năm 2015 đã tạo cơ sở vững chắc để xử lý loại tội phạm này cũng như góp phần phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm đạt hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người, chúng tôi nhận thấy có một số hạn chế, bất cập phát sinh như sau:
Thứ nhất, có nên xem xét mô là một đối tượng tác động của hành vi phạm tội Điều 154 BLHS không?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006: “Mô là tập hợp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại khác nhau để thực hiện các chức năngnhất định của cơ thể người”. Vậy mô là gì, nó quan trọng như thế nào trong cơ thể?
Cơ thể người là một hệ thống nhất, có thể chia thành nhiều mức độ tổ chức khác nhau, với mức độ lớn nhất là cơ thể rồi đến hệ thống cơ quan, cơ quan, mô, tế bào và phân tử. Trong đó, tế bào là đơn vị sống cơ bản về cấu tạo và chức năng của mọi cơ thể sống. Tuy nhiên, cơ thể đa bào hiếm khi chỉ có một tế bào đơn độc thực hiện một chức năng nào đó, mà thường là một tập hợp tế bào (cùng chấtgian bào) cùng nhau thực hiện, đó chính là mô. Trong một chỉnh thể lớn đang đề cập là cơ thể, thì mô tồn tại và được nhắc tới như một tập hợp các tế bào thực hiện các chức năng nhất định, cao hơn mô là cơ quan (bộ phận cơ thể) rồi đến hệ cơ quan. Như vậy, xét đến đối tượng của hành vi phạm tội, mô là đơn vị nhỏ nhất nó chỉ có chức năng của một tập hợp tế bào, là thành phần cấu tạo nên một bộ phận cơ thể.
Từ thực tiễn cho thấy hầu hết các hành vi mua bán, chiếm đoạt đều xảy ra với đối tượng tác động là bộ phận cơ thể người như nội tạng, giác mạc… Việc mua bán, trao đổi, giao dịch mô dường như không có ảnh hưởng đến sức khỏe bởi lẽ mô là tập hợp của tế bào, tế bào là một thực tế có thể tái sinh, không bị mất đi vĩnh viễn.
Trên thực tế các thẩm mỹ viện họ sử dụng các công nghệ làm đẹp để hút mô mỡ, cắt mô biểu bì (da bụng) để làm săn chắc vòng bụng của phụ nữ; cấy mỡ tự thân để làm đầy cằm, độn mông, giảm hóp má… Tất cả những hành vi đó đều là sử dụng (có thể là mua bán, chiếm đoạt) mô của cơ thể người khác nhưng lại không xem đó là bất hợp pháp. Bởi lẽ, việc sử dụng đó không gây nguy hiểm cho sức khỏe, mà ngược lại còn tốt hơn rất nhiều so với các công nghệ làm đẹp khác từ filler, boxton…
Trường hợp sử dụng mô máu, mô huyết tương trong việc hiến máu nhân đạo, cho máu, bán máu không thực sự gây nguy hại cho sức khỏe của con người, và thực tế không xem đây là hành vi phạm tội.
Thứ hai, bất cập trong việc xử lý đối với hành vi môi giới mua bán bộ phận cơ thể người.
Hiện nay, hành vi mua bán bộ phận cơ thể người thực hiện một cách tràn lan, bất hợp pháp là do sự góp mặt của bên trung gian môi giới giữa người mua và người bán. Hành vi môi giới này rất nguy hiểm, bởi những người này chỉ chú ý tới số tiền lợi nhuận thu được mà không quan tâm tới tình trạng sức khỏe của người bán nội tạng, hay chất lượng của cuộc phẫu thuật lấy nội tạng. Chưa kể đến sự sa sút về sức khỏe sau phẫu thuật.
Vậy, xử lý hình sự như thế nào đối với những đối tượng này? Trường hợp này hiện nay tồn tại hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng người môi giới mua bán bộ phận cơ thể người sẽ bị xử lý về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người với vai trò đồng phạm cùng với người mua, người bán. Quan điểm khác thì cho rằng người môi giới mua bán bộ phận cơ thể người nên được xử lý ở tội riêng biệt, có thể đề xuất điều luật là tội môi giới mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Bởi lẽ, hành vi môi giới này cũng có tính chất, mức độ nguy hiểm không kém gì so với hành vi mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người.
Thứ ba, bất cập trong chế tài hình phạt áp dụng đối với hành vi phạm tội.
Về mức hình phạt tối thiểu 10.000.000 đồng chưa thể hiện được tính răn đe của pháp luật, vì đây là nhóm tội liên quan đến vấn đề xâm phạm sức khỏe, thân thể, tính mạng con người. Bên cạnh đó, giá trị của những bộ phận cơ thể người được bán đi với giá lên đến hàng chục ngàn đô la Mỹ (USD), mang lại lợi nhuận phi pháp cực kỳ lớn cho người phạm tội. Khoản tiền lợi nhuận này lớn hơn nhiều so với mức phạt tiền ở trên.
Thứ tư, bất cập trong việc xác định đối tượng và hình phạt của hành vi mua bán bộ phận cơ thể người gây ra thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác
Có quan điểm cho rằng: “Điều luật quy định “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”, mà không quy định là “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân” nên trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội chỉ cần gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (có thể cho nạn nhân hoặc không phải cho nạn nhân) thì người phạm tội vẫn bị áp dụng tình tiết phạm tội này”.
Để làm rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi đưa ra ví dụ cụ thể như sau: T, C và H đều là đồng phạm trong hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của bà K để đem đi bán lấy tiền. Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội T, C và H bị chồng bà K là ông X phát hiện nên hai bên đã xảy ra xung đột, đánh nhau. Giám định thương tật kết luận ông X bị gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 40%, bà K chưa bị lấy đi bộ phận nào của cơ thể, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0%. Vậy quan điểm nêu trên, theo quy định tại điểm e, khoản 2 Điều 154 BLHS thì T, C và H phải chịu hình phạt tù đối với tội mua bán, chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể người từ 07 đến 15 năm.
Theo chúng tôi, bản chất của hành vi phạm tội quy định ở Điều 154 BLHS là hành vi lấy đi, làm mất đi bộ phận cơ thể trên người bà K. Bộ phận cơ thể của bà K mới là đối tượng tác động của hành vi phạm tội của T, C và H. Do Bà K không bị thương tật, nhưng hành vi phạm tội của T, C và H đã đủ hiệu cấu thành tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 154 BLHS nên T, C và H phải chịu hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Trong trường hợp này, T, C và H đã thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho ông X là hành vi độc lập với hành hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể bà K. Việc T, C và H cố ý gây thương tích cho ông X là do muốn thực hiện đến cùng hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể bà K. Do vậy, việc gây tổn thương cho ông X của T, C và H đã phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo điểm a khoản 2 Điều 134 BLHS.

2. Kiến nghị, đề xuất

Để giải quyết những vướng mắc, bất cập chúng tôi xin đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả đấu tranh, chống tội phạm mua bán, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người.
Thứ nhất, không cần thiết quy định mô là đối tượng tác động của hành vi phạm tội của Điều 154 BLHS mà điều luật chỉ cần tập trung vào đối tượng là bộ phận cơ thể người.
Thứ hai, liên quan đến hành vi trung gian môi giới của việc mua bán, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người, kiến nghị sửa đổi tên Điều 154 BLHS thành: “Tội môi giới, mua bán, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người”. Ngoài ra, hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 4 Điều 154 BLHS là chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa. Bởi lẽ, hành vi mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người mang lại mức siêu lợi nhuận, lớn hơn rất nhiều so với chế tài của điều luật đưa ra. Chúng tôi đề xuất tăng mức phạt tiền tối thiểu lên 50.000.000 đồng. Về mức tối đa, nâng lên mức 500.000.000 đồng. Như vậy, Điều 154 BLHS nên được chỉnh sửa như sau:
“Điều 154. Tội môi giới, mua bán, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người
1. Người nào môi giới, mua bán, chiếm đoạt bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
…4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Thứ ba, cần hướng dẫn cụ thể về tình tiết tăng nặng “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”. Để tránh những cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng pháp luật cần hướng dẫn cụ thể đây là trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân.

ĐỒNG NÔNG PHÚC (Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn)

Sự cần thiết luật hóa chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và Gia đình

Khi xã hội ngày càng phát triển thì kéo theo đó là những hệ lụy với những mối quan hệ vô cùng phức tạp, điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của mỗi gia đình, do không hài hòa được cuộc sống vợ chồng, nhiều cặp vợ chồng đã chọn giải pháp ly thân để giải quyết mâu thuẫn. Hiện nay, Luật Hôn nhân và Gia đìnhnước ta (Luật HN&GĐ năm 2014) vẫn chưa thật sự ghi nhận chế định ly thân.

Đặt vấn đề

Khi xã hội ngày càng phát triển thì kéo theo đó là những hệ lụy với những mối quan hệ vô cùng phức tạp, điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của mỗi gia đình, do không hài hòa được cuộc sống vợ chồng, nhiều cặp vợ chồng đã chọn giải pháp ly thân để giải quyết mâu thuẫn. Hiện nay, Luật Hôn nhân và Gia đình nước ta (Luật HN&GĐ năm 2014) vẫn chưa thật sự ghi nhận chế định ly thân.
Thực tế, ly thân không phải là điều mới mẻ, tuy nhiên những hậu quả phát sinh từ ly thân lại chưa được pháp luật điều chỉnh toàn diện. Đã không ít lần, Dự thảo Luật HN&GĐ sửa đổi đã từng đề xuất luật hóa chế định ly thân nhưng cơ quan Lập pháp của nước ta vẫn còn e ngại, chưa chủ động để nhìn thẳng vào sự vận động thực tế của xã hội về ly thân, chưa đánh giá đúng tác động của sự thiếu hụt chế định ly thân để ghi nhận nội dung này một cách chính thức. Tại mục 1 của Thông báo số 26-TB/TW ngày 9/5/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về sơ kết chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư (khóa IX) về “Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã kết luận một trong những tồn tại của gia đình xuất hiện ngày càng nhiều và chậm được khắc phục là ly thân.
Trong khi đó, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới lại quy định “ly thân là quyền của vợ, chồng lựa chọn phương thức giải quyết mâu thuẫn trong hôn nhân, tạo căn cứ pháp lý cho các quan hệ tài sản, nhân thân, con cái trong giai đoạn quan hệ hôn nhân nhạy cảm này; tức là họ công nhận quyền ly thân của vợ, chồng. Chế định ly thân được xem là một chế định bắt kịp với thực tế cuộc sống hôn nhân vợ chồng đồng thời thể hiện được tinh thần luật hóa đạo đức khi quy định nghĩa vụ cưu mang lẫn nhau về vật chất bằng tài sản riêng và chăm sóc về tinh thần cho bên có bệnh nặng, khó khăn trong thời kỳ ly thân.
Theo thống kê của ngành Tòa án, ở nước ta hiện nay có tới hơn 90% các cặp ly hôn đều trải qua giai đoạn ly thân, có cặp vợ chồng ly thân đến 10 năm mới chính thức gửi đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn. Thực tế, việc sống ly thân giữa vợ chồng vẫn thường xảy ra mà không được pháp luật điều chỉnh rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của hai bên nên dễ gây ra nhiều khó khăn, hệ lụy cho cả hai người và xã hội. Các vấn đề đặt ra như nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung trong thời gian ly thân, căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng phát sinh trong thời gian ly thân, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với các loại tài sản tương ứng.
Thực tế, ly thân là giải pháp được nhiều cặp vợ chồng lựa chọn để giải quyết mâu thuẫn khi họ chưa muốn ly hôn và vì vậy Luật HN&GĐ không thể né tránh mà cần quy định rõ ràng. Chẳng hạn như với những người theo đạo Công giáo, ly thân là giải pháp hữu ích cho họ, theo giáo lý họ không được phép ly hôn. Bên cạnh đó, ly hôn còn là biện pháp giúp các bên vợ chồng tránh được tình trạng bạo lực gia đình, tạo điều kiện cho các bên cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định ly hôn. Quy định về ly hôn còn giúp minh bạch hóa các giao dịch dân sự, kinh tế do một bên vợ, chồng thực hiện, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của các con, các thành viên khác trong gia đình.
Đồng thời, để bảo đảm tự do định đoạt trong quan hệ vợ chồng khi thực hiện các giao dịch dân sự, theo kịp với sự vận động khách quan từ thực tế cuộc sống hôn nhân của các cặp vợ chồng, đồng thời góp phần công khai, minh bạch về tình trạng hôn nhân, hòa nhập với xu thế chung của nhiều quốc gia trên thế giới thì việc quy định chế định ly thân trong Luật HN&GĐ là điều rất cần thiết. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đi sâu phân tích về tầm quan trọng của chế định ly thân, nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly thân, từ đó đưa ra những kiến nghị (giải pháp) để các cơ quan lập pháp nên nghiên cứu đưa vào điều chỉnh ở trong luật.

1. Những vấn đề lý luận chung về chế định ly thân

1.1. Khái niệm ly thân

Ngay tại khoản 10, Điều 8 Dự thảo Luật HN & GĐ năm 2000 đã nêu rằng: “Ly thân là tình trạng pháp lý, theo đó vợ chồng không có nghĩa vụ sống chung với nhau do cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của hai vợ chồng”. Tuy nhiên, khái niệm này so với pháp luật của các quốc gia như Anh, Pháp là chưa đề cập đến nghĩa vụ chung thủy, giúp đỡ, tương trợ nhau ngay cả khi trong thời kỳ ly thân. Theo quan điểm của tác giả Phan Thị Vân Hương – Trần Minh Tuấn, Tòa Dân sự – TANDTC cho rằng “việc không cùng chung sống của vợ chồng không nên quan niệm là tình trạng pháp lý trong khái niệm ly thân. Ngoài ra, hai tác giả cho rằng với quy định của Luật Phòng chống bạo lực gia đình cho phép người bị bạo lực có quyền yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc cũng như có biện pháp xử lý đối với người có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở, và có thể bảo vệ được quyền lợi của người yếu thế nếu mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nên chế định ly thân chưa thật sự cần thiết khi có mâu thuẫn vợ chồng. Nếu ghi nhận ly thân thì không nên quy định một bên có quyền xin ly thân, chỉ nên quy định nếu vợ chồng cùng có yêu cầu công nhận thỏa thuận ly thân thì giải quyết.
Nhiều nhà nghiên cứu không đồng tình với quan điểm trên vì đó là sự thiếu sót của pháp luật, đó là: (1) sống chung không nên hiểu là một nghĩa vụ pháp lý. Theo khoản 2 Điều 15 Luật cư trú quy định vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thoả thuận. Như vậy, ngay cả khi chưa ly thân thì vợ, chồng vẫn có quyền không cùng nơi cư trú, hoặc không cùng hộ khẩu với nhau, vấn đề này do hai vợ chồng tự thỏa thuận; (2) không phải mọi trường hợp ly thân đều xuất phát từ hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở nên áp dụng Luật Phòng chống bạo lực gia đình không giải quyết được tận gốc của vấn đề; (3) việc quy định chỉ được ly thân khi đạt được sự thoả thuận của cả hai vợ chồng sẽ ảnh hưởng đến quyền hợp pháp của một bên vợ hoặc chồng nếu bên còn lại không đồng ý ly thân nhằm trốn tránh xác định trách nhiệm với con chung hoặc nhằm trục lợi từ khối tài sản chung để cầm cố, thế chấp.
Đối với pháp luật của một số nước như pháp luật của Cộng hòa pháp, chế định ly thân (Séparation de Corps) được quy định tại Điều 296 BLDS Cộng hoà Pháp. Ly thân được hiểu là sự giảm độ gắn kết quan hệ vợ chồng, theo đó, hệ quả quan trọng nhất là sự hủy bỏ nghĩa vụ chung sống giữa vợ và chồng, trong khi những nghĩa vụ khác như nghĩa vụ chung thủy, nghĩa vụ tương trợ giúp đỡ nhau vẫn phải được duy trì giữa hai vợ chồng. Việc ly thân theo quy định của pháp luật Pháp, do tòa án ra quyết định trên cơ sở những căn cứ và điều kiện giống như căn cứ và điều kiện ly hôn (vợ chồng ly thân, vợ chồng thống nhất chấm dứt hôn nhân, vợ chồng ly thân do lỗi của một bên hoặc ly thân do cuộc sống chung đã hoàn toàn chấm dứt). Đây là một khái niệm tiến bộ ở chỗ đã thể hiện được yếu tố nhân văn bằng nghĩa vụ chăm sóc về vật chất và tinh thần trong một số điều kiện cụ thể đối với quan hệ vợ chồng thời kỳ ly thân. Tuy nhiên, việc ly hôn chỉ được thừa nhận hợp pháp trên cơ sở quyết định của Toà án, làm thủ tục tố tụng trong ly thân trở nên rườm rà hơn so với một số quốc gia cho phép hai bên tự thoả thuận thông qua văn bản tự chứng thư; Còn theo Theo pháp luật Vương quốc Anh thì ly thân (Separation) được hiểu là đình chỉ quyền và nghĩa vụ sống chung, chỉ còn để lại nghĩa vụ trung thành và không thể thiết lập cuộc hôn nhân mới. Ly thân có thể là ly thân tư pháp (judicial separation) hay ly thân thuận ý (voluntary separation) được thực hiện bởi chứng thư ly thân (separation deed). Khái niệm này gần giống tinh thần với pháp luật Cộng hoà Pháp, tuy nhiên, thủ tục mở rộng chấp nhận sự thuận ý hai bên chứng minh bởi chứng thư ly thân.
Như vậy, có có nhiều khái niệm về ly thân với các cách tiếp cận khác nhau phù hợp với đời sống thực tiễn và đặc thù của mỗi quốc gia. Từ những cách hiểu kể trên, tác giả cho rằng: “Ly thân là tình trạng hai bên vợ chồng vẫn chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân và có nghĩa vụ đối với con chung, tài sản chung và những nghĩa vụ khác trong quan hệ hôn nhân, nhưng không còn nghĩa vụ sống chung với nhau do cơ quan có thẩm quyền công nhận theo yêu cầu của hai vợ chồng hoặc của vợ, chồng.”

1.2. Đặc điểm của ly thân

Chế định ly thân có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đa số các nước có quy định về ly thân đều ghi nhận ly thân là quyền của vợ chồng nhằm giải quyết mâu thuẫn trong hôn nhân. Tuy nhiên cũng có rất ít nước như Ailen, Philippines…do không thừa nhận ly hôn, đã quy định ly thân như là giải pháp pháp lý bắt buộc khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn tới không thể sống chung.
Thứ hai, đa số các nước cũng quy định căn cứ ly thân được quy định tương tự như căn cứ ly hôn. Căn cứ ly hôn dựa trên quyết định, xem xét của cơ quan có thẩm quyền khi xét thấy tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tương tự, vợ chồng ly thân khi đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được như: hai bên không còn thương yêu, quý trọng nhau, có quan hệ ngoại tình, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau nên họ quyết định ly thân như giải pháp hoà giải tạm thời.
Thứ ba, về thủ tục ly thân. Pháp luật của một số nước như pháp luật của Anh quy định ly thân là sự đồng thuận mang tính cá nhân, riêng tư giữa hai bên vợ, chồng, do đó thủ tục ly thân cũng không cần tuân theo một trình tự, thủ tục quá chặt chẽ mà chủ yếu dựa trên một văn bản thỏa thuận về ly thân, hay chứng nhận ly thân giữa hai vợ chồng để qua đó có thể dễ dàng xác định thời điểm bắt đầu ly thân và tạo điều kiện để giải quyết hậu quả của ly thân (trong trường hợp sau này hai bên muốn dẫn tới ly hôn). Chứng nhận ly thân là văn bản riêng tư mang tính cá nhân, không cần phải nộp cho bất cứ cơ quan Nhà nước nào. Chứng nhận này có thể được hủy bỏ tại bất kỳ thời điểm nào theo sự đồng thuận của hai bên. Hoặc, pháp luật của một số nước hoặc vùng lãnh thổ (Cộng hòa Pháp, Bang California của Hoa Kỳ, Philippines…) quy định ly thân phải theo thủ tục tố tụng thực hiện tại Tòa án, việc ly thân chỉ có hiệu lực khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án.
Thứ tư, về hậu quả pháp lý của ly thân. Việc ly thân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật, vợ chồng có quyền thỏa thuận về những hậu quả của ly thân (tình trạng sống tách biệt; quyền, nghĩa vụ về tài sản; quyền, nghĩa vụ đối với con; vấn đề cấp dưỡng cho nhau…) Tuy nhiên, có thể hai bên vẫn có trách nhiệm với nhau một số nghĩa vụ khác như: vẫn có nghĩa vụ trợ giúp lẫn nhau khi ly thân (BLDS Pháp), nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dạy và chăm sóc con chung, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng. Nói cách khác, trong giai đoạn ly thân vợ hoặc chồng không có quyền kết hônhoặc chung sống như vợ chồng với người khác vì họ vẫn là người đang có vợ/có chồng.

1.3. Ý nghĩa của ly thân

Chế định ly thân ra đời nhằm thực hiện ba mục đích chính đó là: giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng, tạo căn cứ pháp lý điều chỉnh về nhân thân, tài sản và con trong khi hôn nhân của họ chưa chấm dứt và đảm bảo sự minh bạch, công khai trong các giao dịch dân sự. Vì vậy, ly thân có ý nghĩa sau:
Thứ nhất, ly thân được coi là một phương thức giúp vợ chồng có thêm thời gian nhìn nhận lại mối quan hệ hôn nhân, giảm thiểu những căng thẳng, xung đột gay gắt giữa vợ chồng, để cho các bên có thời gian suy ngẫm, nhìn nhận lại bản thân, hướng tới sự hòa hợp, đoàn tụ. Khác với ly hôn, ly thân là giai đoạn “quá độ”, giúp vợ chồng có thời gian suy nghĩ để chọn đúng hướng giải quyết cuộc hôn nhân đang rạn nứt. Tuy nhiên, ly thân chỉ là giải pháp hữu hiệu với những ai có thiện chí hàn gắn đổ vỡ, vun đắp gia đình, biết nhìn nhận phần lỗi của mình và tha thứ lỗi của người vợ, chồng. Có thể thấy đây là phương thức giúp vợ chồng bảo vệ quyền của mình. Tức là nếu vợ chồng cảm thấy cuộc sống hôn nhân không như ý… nên cần có thời gian sống riêng để suy nghĩ có nên ly hôn hay không thì họ có quyền ly thân. Luật Hôn nhân và gia đình nên quy định ly thân với tư cách là một quyền mới trong hôn nhân và gia đình.
Thứ hai, chế định ly thân là làm đơn giản hoá thủ tục ly hôn về sau: nếu sau thời gian ly thân mà cặp vợ chồng vẫn quyết định ly hôn thì cần xem bản công chứng về ly thân hay quyết định ly thân của Toà án như một bằng chứng về nỗ lực cố gắng hàn gắn của hai bên nhưng không thành. Khi đã có chứng cứ này thì tòa án không nên tiến hành thêm bước hòa giải nữa. Việc quy định về ly thân theo hướng trên, ngoài tác dụng bảo đảm giá trị pháp lý, giúp đơn giản hóa thủ tục ly hôn.
Thứ ba, việc ly thân cũng làm thuận tiện việc hai bên muốn xác lập lại tình trạng sống chung. Bởi khi ly hôn, có thể sau một thời gian các cặp vợ chồng lại thấy vẫn còn tình cảm với nhau, hoặc vì thương con cái mà muốn kết hôn lại. Lúc đó, họ phải làm lại từ đầu. Còn với chế định ly thân, khi suy nghĩ của hai người thực sự chín chắn, vẫn muốn tiếp tục đời sống hôn nhân thì vẫn về sống với nhau một cách dễ dàng.

2. Thực trạng, nguyên nhân vấn đề ly thân ở nước ta hiện nay

Ly thân mô tả quan hệ vợ chồng theo đó một người hay cả hai không còn muốn sống chung với nhau. Trên pháp lý họ vẫn là vợ chồng cho tới khi được xử ly hôn, và họ không cần ra tòa để được sống ly thân. Theo thống kê thì tỷ lệ ly hôn của các gia đình tại Việt Nam ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong các gia đình trẻ ở các thành phố lớn. Ví dụ, tại thành phố HCM hiện nay cứ bình quân 2,7 cặp kết hôn lại có 1 cặp ly hôn. Độ tuổi ly hôn dưới 35 tuổi chiếm tỉ lệ 30% và năm sau luôn có xu hướng tăng hơn năm trước. Trong thực tế, trước khi ly hôn các cặp vợ chồng thường có quãng thời gian sống ly thân với nhau và có thể hiện vẫn đang sống ly thân nhưng chưa ly hôn. Suy ra, tỷ lệ ly thân chiếm một con số không hề nhỏ trong đời sống của các cặp vợ chồng. Vậy nên dù muốn hay không thì vẫn phải thừa nhận ly thân là một hiện tượng xã hội đã đang và sẽ tiếp tục tồn tại.
Thực tế có khá nhiều nguyên do mà nhiều cặp vợ chồng tuy xác định mâu thuẫn không thể hàn gắn, nhưng vẫn không ly hôn mà chọn cách ly thân như ngại mang điều tiếng bị vợ bỏ, chồng bỏ, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín gia đình, ảnh hưởng đến công việc, ảnh hưởng tâm lý con cái, khó khăn trong chia tài sản chung; Có nhiều trường hợp, biết không thể cứu vãn quan hệ hôn nhân, nhưng khi biết người kia có hạnh phúc mới thì có tâm lý “trả thù”. Những người này viện cớ, luật đâu có quy định vợ chồng bắt buộc phải “ở cùng nhà, ăn cùng mâm”, nên khi ra Tòa, vẫn cho rằng tuy vợ chồng không sống cùng một nơi, nhưng quan hệ hôn nhân của họ vẫn đang bình thường, mâu thuẫn chưa trầm trọng, không đồng ý ly hôn để ngăn cản người kia có cơ hội kết hôn với người khác, dẫu thực tế, quan hệ hôn nhân giữa những cặp vợ chồng này chỉ là “cái vỏ”, tồn tại trên danh nghĩa pháp lý, còn cả về tình cảm, lẫn tài sản đều đã rạch ròi.
Vì ly thân diễn ra nhiều, nên khi xét xử, nhiều thẩm phán vẫn xem xét đến tình trạng ly thân như là một trong những cơ sở cho thấy mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, không thể hàn gắn để cho ly hôn. Nhưng vì không được luật quy định nên ngay cả việc xác định một cặp vợ chồng nào đó trong tình trạng ly thân hay không cũng không dễ dàng. Trong khi đó, ly thân (được hiểu là vợ chồng không cùng chung sống, không có quan hệ tình cảm, không thiết lập khối tài sản chung… với nhau) lại nảy sinh rất nhiều vấn đề phức tạp. Thực tế, không ít chị em phụ nữ khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra đã bế con bỏ đi, hoặc bị đuổi ra khỏi nhà chồng, đã chịu thiệt thòi lớn khi phải tự mình vất vả kiếm tiền nuôi dưỡng con cái mà người chồng không hề có trách nhiệm cấp dưỡng trong thời gian dài. Có những bà vợ cũng muốn đòi tiền khi chồng trốn tránh trách nhiệm nuôi con, nhưng khi họ nhờ cơ quan, đoàn thể, ngay cả luật sư để tư vấn trong những trường hợp này thì các luật sư cũng khó xử, bởi luật đâu có quy định trách nhiệm cấp dưỡng trong thời gian ly thân?
Trong thời gian ly thân, nhiều người đã tìm cách tẩu tán, hợp thức hóa tài sản chung thành tài sản riêng, hoặc cố tình vay mượn để bắt người kia phải chung trách nhiệm “vợ chồng” trả nợ… Đặc biệt, con cái là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều vì ly thân vẫn đang là thời kỳ hôn nhân, song do không cùng chung sống, nên ai là người có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con cái cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Không ít đứa trẻ vì bố mẹ mâu thuẫn mà bị “đá bóng” trách nhiệm, lơ là việc nuôi dưỡng, dẫn đến buồn chán, bỏ bê học hành, sa vào tệ nạn xã hội, hoặc phạm pháp; Cũng trong giai đoạn hôn nhân không bền chặt này, vấn đề “cơ hội” cho “người thứ ba” cũng nhiều chuyện đáng bàn. Rất nhiều trường hợp, mâu thuẫn vợ chồng bắt nguồn từ việc một bên có quan hệ tình cảm với người khác, khi vợ chồng ly thân, thì người này chuyển đến ở cùng người mới. Tranh chấp tài sản, tranh chấp “quyền chính chủ” với vợ/chồng cũng từ đó mà thêm rắc rối vì người vợ/chồng lúc này lại cùng ăn ở, cùng xác lập khối tài sản chung với người thứ ba. Đặc biệt khi người chồng/vợ góp vốn làm ăn với người thứ ba nhưng sau đó thua lỗ, nợ nần, dẫn đến người vợ/chồng hợp pháp bị buộc trách nhiệm cùng trả nợ vì giữa vợ chồng chưa có thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân…

3. Nên luật hóa chế định ly thân

Các nhà làm luật đều thừa nhận một thực tế rằng ly thân là một hiện tượng xã hội đang tồn tại trong nhiều gia đình Việt Nam. Tuy nhiên có nên luật hóa hiện tượng này hay không thì có những quan điểm trái chiều. Vấn đề này đã từng được đem ra thảo luận trong quá trình dự thảo Luật hôn nhân gia đình năm 2000, đến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì chế định này vẫn chưa được ghi nhận. Vì vậy, đã có nhiều luồng ý kiến ủng hộ và không ủng hộ:
Quan điểm ủng hộ, tiêu biểu cho quan điểm này là của nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường, ông cho rằng: “Ly thân là vấn đề thực tiễn ở Việt Nam. Pháp luật không thể né tránh thực tiễn và nhu cầu này của người dân, đặc biệt trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em’”. Theo Bộ trưởng, trong thực tế, khi cần ly thân, người dân có thể có nguyện vọng lựa chọn ly thân thực tế hoặc ly thân pháp lý, nếu thấy việc ly thân pháp lý mang lại lợi ích cho mình thì họ mong muốn có sự công nhận của Nhà nước và pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định về ly thân cho nên nguyện vọng chính đáng đó không thực hiện được.
Quan điểm không ủng hộ, dù ly thân là một hiện tượng xã hội đã tồn tại từ lâu, nhưng với đặc điểm văn hóa Việt Nam, rất ít người muốn công khai tình trạng này. Mặt khác, ly thân là sự thỏa thuận mang tính riêng tư của hai vợ chồng, vì vậy không cần thiết phải có sự can thiệp của Tòa án và nên coi ly thân là thử thách bình thường của cuộc sống. Hơn nữa, còn có những lo ngại việc lợi dụng ly thân, biến ly thân thành “hôn nhân treo” mà đối tượng chịu thiệt thòi thường là phụ nữ và trẻ em.
Quan điểm khác cho rằng, nếu không luật hóa chế định ly thân sẽ phát sinh nhiều bất cập (tức là ủng hộ chế định ly thân phải được quy định trong luật )vì:
Thứ nhất, không có cơ sở để bảo vệ quyền lợi của các bên khi phát sinh tranh chấp.
Như chúng ta đều biết, ly thân hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện của đôi bên và việc thực hiện đúng như những cam kết cũng chỉ xuất phát từ sự tự nguyện đó. Do vậy, khi một trong 2 bên tự ý thay đổi thỏa thuận, gây phương hại đến lợi ích của bên còn lại thì hoàn toàn không có cơ sở để bảo vệ lợi ích của bên bị thiệt hại.
Thứ hai, pháp luật hiện hành không giúp giải quyết được triệt để vấn đề.
Quy định pháp luật hiện hành cho phép vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2014) và các bên có quyền thỏa thuận về việc không sống chung với nhau (Khoản 2 Điều 19 Luật HN&GĐ năm 2014). Về bản chất đây không phải là những quy định có thể thay thế và giải quyết được về việc ly thân giữa vợ, chồng mà chỉ là những quy định nhằm giúp cho vợ, chồng có sự thuận lợi hơn trong đời sống hôn nhân. Hơn nữa, ly thân về bản chất là chấm dứt đời sống tình cảm chứ không phải chấm dứt về tình trạng tài sản hay không gian sống, nơi sống.
Thứ ba, không có quy định rõ ràng dễ gây xung đột lợi ích giữa những người trong cuộc với quy định của pháp luật.
Khi đã ly thân, vợ hoặc chồng, thông thường sẽ được thoải mái tự do về mặt tình cảm, có thể yêu và sống chung như vợ chồng với người khác, việc này nằm trong thỏa thuận của đôi bên và đôi bên tôn trọng quyền đó của nhau nhưng theo quy định của pháp luật thì hành vi trên lại xem là hành vi vi phạm pháp luật, nhẹ có thể bị xử lý hành chính, nặng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cụ thể, người nào đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đến 3.000.000 đồng (Nghị định số 110/2013/NĐ-CP).
Nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì người vi phạm có thể thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữđến một năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến một năm. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó hoặc làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm (Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017).

4. Kiến nghị ghi nhận chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và Gia đình

Việc ghi nhận chế định ly thân trong Luật HN & GĐ sẽ mang lại những ưu điểm sau:
Thứ nhất, thỏa thuận ly thân sẽ được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Khi pháp luật đã có những quy phạm điều chỉnh vấn đề ly thân, nếu các bên thực hiện theo đúng yêu cầu pháp luật quy định thì thỏa thuận ly thân này sẽ được pháp luật bảo vệ. Quyền và lợi ích của các bên sẽ được đảm bảo khi có sự xâm phạm từ phía đối phương do vi phạm thỏa thuận. Theo quan điểm tác giả thì thỏa thuận ly thân này không cần thiết phải do Tòa án công bố thừa nhận mà chỉ cần sự chứng thực xác nhận từ phía UBND cấp xã và có ghi nhận trong giấy tờ hộ tịch là đủ. Khi có tranh chấp phát sinh, UBND cấp xã sẽ là nơi tiến hành thủ tục hòa giải. Trong trường hợp hòa giải không thành thì Tòa án mới can thiệp. Quy định như vậy một phần sẽ giúp cho các bên phải suy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định có ly thân hay không (hạn chế tình trạng ly thân tràn lan do không có sự can thiệp từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền), mặt khác cũng hạn chế sự phức tạp về thủ tục khi phải nhờ đến Tòa án (trong trường hợp các bên đã thực sự muốn ly thân).
Thứ hai, cơ sở quan trọng để Tòa án chấp nhận việc ly hôn
Hiện nay ly thân trong thực tế không phải là một trong các căn cứ để Tòa án quyết định có đồng ý cho ly hôn hay không. Tòa án sẽ xem xét đến các yếu tố nhằm chứng minh cho mục đích đời sống hôn nhân không đạt được v.v…Thông thường thì việc chứng minh này khá phức tạp (đặc biệt là trong trường hợp đơn phương ly hôn), đó là lý do tại sao các vụ án liên quan đến ly hôn thường phải tiến hành hòa giải rất nhiều lần, tốn thời gian và công sức của đôi bên. Một khi giữa các bên đã có thỏa thuận về ly thân trước đó và đã quyết định tiến tới ly hôn thì Tòa án cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc chứng minh mục đích hôn nhân không đạt được và không cần thiết phải hòa giải nhiều lần vì Tòa đã có được thông tin trong hồ sơ hộ tịch do UBND cấp xã cung cấp.
Thứ ba, hạn chế tình trạng đơn phương ly hôn.
Đơn phương ly hôn khi một bên muốn chấm dứt hôn nhân nhưng bên còn lại thì không. Đơn phương ly hôn thường dẫn đến những tranh chấp về tài sản và con cái, do các bên chưa đạt được sự đồng thuận. Nếu các bên đã ly thân và đã có những thỏa thuận về tài sản chung, con chung trước đó thì khi ly hôn những tranh chấp hầu như sẽ không còn, các bên dễ dàng đạt được sự đồng thuận và khi đó việc của Tòa án chỉ là công nhận sự thuận tình ly hôn của các bên. Mọi việc sẽ trở nên dễ dàng và nhanh chóng.
Như vậy, hoàn thiện pháp luật HN&GĐ nhằm điều chỉnh toàn diện và cụ thể những vấn đề liên quan đến quan hệ hôn nhân tồn tại trong đời sống thực tiễn thể hiện trình độ cao của kỹ thuật lập pháp. Sự hình thành chế định ly thân trong pháp luật một số quốc gia không nằm ngoài điều ấy. Cùng với sự vận động phát triển đa dạng của quan hệ hôn nhân, việc đòi hỏi có sự điều chỉnh bởi pháp luật là cần thiết, bởi nó giúp đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và đồng thời đặt cơ sở pháp lý để giải quyết những vấn đề đang tồn tại trong thực tiễn, giúp định hướng quan hệ hôn nhân hình thành đi theo mặt tích cực trong khuôn khổ pháp luật./.
Ths. ĐOÀN THỊ NGỌC HẢI ( Sở Tư pháp Ninh Bình)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)
Tài liệu tham khảo.
1. wikipedia.org https://vi.wikipedia.org/wiki/Ly_th%C3%A2n.
2. Nguồn: https://vtv.vn/chuyen-dong-24h/bao-dong-tinh-trang-ly-hon-o-cac-gia-dinh-tre-20170801190658797.htm.
3. Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/hop-phap-hoa-ly-than-cong-khai-139677.html.
4. Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/hop-phap-hoa-ly-than-cong-khai-139677.html.
5. Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ly_th%C3%A2n.
6. Nguồn: https://hocluat.vn/nen-hay-khong-nen-luat-hoa-van-de-ly-than/

Góp ý kiến Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn về các hành vi dâm ô, khiêu dâm

Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng các điều 141,142, 143, 144, 145, 146 và 147 của Bộ luật Hình sự (BLHS) là rất cần thiết cho việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Do đó, vấn đề đặt ra là nội dung hướng dẫn phải thật đầy đủ, chặt chẽ và thuận tiện trong việc áp dụng.

BLHS 2015 với các quy định chung, chưa hướng dẫn cụ thể hành vi thế nào là dâm ô, thế nào là hành vi tình dục khác để có cơ sở truy tố, xét xử với tội dâm ô, giao cấu với người dưới 16 tuổi hoặc hành vi lôi kéo dụ dỗ ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm. Vì vậy, để kịp thời điều chỉnh xử phạt nghiêm đối với các hành vi đang diễn ra thực tế xâm hại tình dục đối với trẻ em rất cần thiết hướng dẫn quy định cụ thể. Nghiên cứu Dự thảo của Nghị quyết, chúng tôi xin góp ý như sau:

1. Góp ý Điều 2 khoản 8 Dự thảo Nghị quyết về giải thích hành vi dâm ô

Theo Dự thảo, hành vi dâm ô được hướng dẫn tại khoản 8 Điều 2 như sau:
“Dâm ô quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự là một trong các hành vi sau đây nhằm kích thích tình dục nhưng không nhằm mục đích giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:
a. Dùng tay, chân, miệng, lưỡi hoặc các bộ phận khác trên cơ thể của người phạm tội để tiếp xúc (trực tiếp hoặc qua lớp quần áo) vào bộ phận sinh dục, hậu môn, háng, đùi, mông, ngực, miệng của người dưới 16 tuổi;
b. Dùng các đồ vật để tiếp xúc (trực tiếp hoặc qua lớp quần áo) vào bộ phận sinh dục, hậu môn, háng, đùi, mông, ngực, miệng của người dưới 16 tuổi;
c. Dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi dùng tay, chân, miệng, lưỡi hoặc các bộ phận khác trên cơ thể của họ tiếp xúc (trực tiếp hoặc qua lớp quần áo) vào bộ phận sinh dục, hậu môn, háng, đùi, mông, ngực, miệng của người phạm tội hoặc của người khác.
Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tại khoản 1 Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Chúng tôi đề nghị ban soạn thảo sửa thành “Điều 2 khoản 8. Dâm ô quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự là một trong các hành vi sau đây nhằm kích thích tình dục nhưng không nhằm mục đích giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:
a. Dùng tay, chân, miệng, lưỡi hoặc các bộ phận khác trên cơ thể của người từ đủ 18 tuổi trở lên để tiếp xúc (trực tiếp hoặc qua lớp quần áo) vào bộ phận sinh dục, hậu môn, háng, đùi, mông, ngực, miệng của người dưới 16 tuổi.
Ngoài ra, cần mở rộng phạm vi xử lý đối với hành vi dâm ô. Bổ sung thêm các hành vi sau cũng bị coi là dâm ô: thủ dâm trên phương tiện giao thông công cộng nhằm mục đích kích thích tình dục.

2. Góp ý khoản 9 Điều 2 Dự thảo Nghị quyết về hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm.

Theo Dự thảo, hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm được giải thích như sau:
Lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 thực hiện các cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh, mô tả (bằng lời nói hoặc chữ viết) nội dung gây kích thích ham muốn tình dục; phô bày bộ phận sinh dục, khỏa thân, thoát y hoặc thực hiện các động tác mô phỏng hoạt động tình dục (bao gồm giao cấu, thủ dâm và các hành vi tình dục khác).
Chúng tôi đề nghị Ban soạn thảo sửa thành:
“9. Lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người đủ 18 tuổi trở lên lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 thực hiện hoặc trực tiếp chứng kiến các cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh, mô tả (bằng lời nói hoặc chữ viết) nội dung gây kích thích ham muốn tình dục; phô bày bộ phận sinh dục, khỏa thân, thoát y hoặc thực hiện các động tác mô phỏng hoạt động tình dục (bao gồm giao cấu, thủ dâm và các hành vi tình dục khác) ở nơi công cộng, nhà ở hoặc các phương tiện internet, mạng xã hội .
Đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi, bổ sung quy định nơi thực hiện lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc để phù hợp thực tiễn, với sự phát triển công nghệ thông tin, các đối tượng có thể lợi dụng Internet để gạ gẫm, dụ dỗ trẻ em, yêu cầu trẻ em chụp ảnh, quay video phơi bày các bộ phận trên cơ thể. Bởi vậy, Nghị quyết cần quy định những hành vi như vậy thực hiện qua mạng internet cũng bị xử lý về hành vi lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm.

3. Để bảo vệ tốt nhất trẻ em trong việc xét xử vụ án hình sự xâm hại tình dục có người bị hại là người dưới 18 tuổi.

Tại Điều 5 Dự thảo quy định tại điểm d. “Việc xét hỏi, tranh luận với bị hại là người dưới 18 tuổi tại phiên tòa được tiến hành phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển của họ. Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu. Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc và hạn chế tối đa việc để bị hại là người dưới 18 tuổi tham gia đối đáp.”
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã dành riêng một chương đó là chương XXVIII để quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi. Người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, chưa phát triển đầy đủ cả về tâm lý và sinh lý. Việc để họ trực tiếp tranh luận tại tòa sẽ gây ra những áp lực tâm lý nhất định cho họ nên cần bổ sung thêm quy định việc tranh luận tại tòa của người dưới 18 tuổi có thể thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ của họ. Ngoài ra, để giữ cho bị hại là người dưới 18 tuổi giữ được tâm lý ổn định tại phiên tòa cũng như cả những thời gian về sau, Nghị quyết cần bổ sung quy định: Nếu bị cáo không mời luật sư, hội đồng xét xử sẽ đặt câu hỏi. Trong quá trình đối đáp tranh luận, không ngắt lời người dưới 18 tuổi, cho các em thời gian suy nghĩ về câu hỏi và đưa ra câu trả lời.
Từ những phân tích trên, đề nghị Ban soạn thảo sửa điểm đ khoản 2 điều 5 như sau: “Việc xét hỏi, tranh luận với bị hại là người dưới 18 tuổi tại phiên tòa được tiến hành phù hợp với lứa tuổi, mức độ phát triển của họ. Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu. Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc và hạn chế tối đa việc để bị hại là người dưới 18 tuổi tham gia đối đáp. Tranh luận tại tòa của người dưới 18 tuổi có thể thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ ”.

Những vướng mắc bất cập trong công tác giải quyết nguồn tin về tội phạm

Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (nguồn tin về tội phạm) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; là căn cứđể kịp thời phát hiện hành vi phạm tội xảy ra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để xem xét, quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.

Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS)  quy định thành một chương riêng (Chương IX); ngày 29/12/2017, Liên ngành Trung ương cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng. Tuy nhiên, qua nghiên cứuvà thực tiễn áp dụng những quy định của BLTTHS năm 2015, TTLT số 01/2017 trong công tác tiếp nhận, thụ lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Nguồn tin về tội phạm

Nguồn tin về tội phạm được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự gồm: “tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”, đây cũng là các căn cứ để Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Điều 143 BLTTHS quy định:

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:
1. Tố giác của cá nhân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
6. Người phạm tội tự thú.

Về căn cứ pháp lý, trình tự thủ tục, chức năng nhiệm vụ của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thụ lý, giải quyết một số nguồn tin được quy định từ Điều 144 đến Điều 152 Bộ luật Tố tụng hình sự và TTLT số 01/2017, cụ thể: Tố giác của công dân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước và Người phạm tội tự thú. Tuy nhiên, nguồn tin do “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm” chưa được quy định trong BLTTHS và TTLT số 01/2017 gây khó khăn cho việc thụ lý, giải quyết về trình tự, thủ tục, thời hạn của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói chung và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) nói riêng trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Thực tiễn tại nhiều địa phương, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (chủ yếu là Cơ quan Cảnh sát điều tra) đã phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm qua “hoạt động nghiệp vụ”, mặc dù đã tiến hành kiểm tra, xác minh nhưng không tiến hành thụ lý, phân công người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và  không chuyển nguồn tin đến Viện kiểm sát để Viện kiểm sát thụ lý, phân công Kiểm sát viêntheo quy định. Có một số vụ việc kéo dài, không giải quyết triệt để; một số vụ đã vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình kiểm tra, xác minh, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia tố tụng. Do pháp luật hiện hành (BLTTHS, TTLT số 01/2017) không quy định về trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết nguồn tin này nên VKSND cũng không có căn cứ để ban hành Kiến nghị khắc phục vi phạm và Yêu cầu Cơ quan CSĐT thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của TTLT số 01/2017 và BLTTHS về trình tự và thời hạn giải quyết theo Điều 147 BLTTHS.
Đối với một số nguồn tin về tội phạm do “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”. Sau khi kiểm tra, xác minh có đủ dấu hiệu của tội phạm (không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 9 TTLT số 01/2017) được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Cơ quan CSĐT đã khởi tố vụ án, bị can và chuyển hồ sơ đến VKSND đề nghị phê chuẩn theo quy định. Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, VKSND nhận thấy có dấu hiệu của tội phạm. Tuy nhiên, việc này không được thụ lý, kiểm tra, xác minh theo trình tự của BLTTHS và TTLT số 01/2017, dẫn đến những tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ không có giá trị pháp lý và không dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án. Hoạt động của Cơ quan CSĐT đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm nên không có căn cứ để xét phê chuẩn.
Điều 86 BLTTHS quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Khoản 2 Điều 87 BLTTHS quy định: “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”. Điều 102 BLTTHS quy định: “Những tình tiết được ghi trong biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được lập theo quy định của Bộ luật này có thể được coi là chứng cứ”.

Về trình tự, thủ tục tố tụng

Khoản 3 Điều 147 BLTTHS quy định:

Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động:
a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin;
b) Khám nghiệm hiện trường;
c) Khám nghiệm tử thi;
d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản.

Như vây chúng ta có thể thấy: Sau khi tiếp nhận, thụ lý Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được áp dụng 04 nhóm biện pháp (quyền) nêu trên và trong thời hạn luật định (tối đa 120 ngày) phải ban hành 01 trong 03 Quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 BLTTHS, cụ thể: Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thực tiễn, quy định nêu trên gây rất nhiều khó khăn đối với Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cụ thể:
Một là, Một số biện pháp kiểm tra, xác minh: Một số vụ việc, sau khi khám nghiệm hiện trường, thu thập tài liệu có liên quan đối với tổ chức, cá nhân và lấy lời khai của những người tham gia tố tụng nhưng còn mâu thuẫn trong lời khai, nhiều tình tiết chưa rõ hoặc các vụ tai nạn giao thông, cố ý gây thương tích,…Sau khi xảy ra vụ việc, hai bên không yêu cầu khởi tố hình sự mà tự thỏa thuận bồi thường dân sự, một thời gian sau, do không thống nhất được mức bồi thường dân sự nên có bên yêu cầu khởi tố hình sự. Đối với các vụ việc nêu trên, cần thiết và bắt buộc phải dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, khám xét,…thì mới có đủ căn cứ Quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án. Tuy nhiên, Luật chỉ cho phép Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng 01 trong 04 nhóm biện pháp kiểm tra, xác minh như đã nêu trên.
Hai là, Công tác Giám định: Trong giai đoạn kiểm tra, xác minh tin báo, điểm d khoản 4 Điều 147 và Điều 206 BLTTHS quy định về “Trưng cầu giám định” có 06 trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật giám định tư pháp ngày 20/6/2012, lại quy định: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương phápkhoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám địnhtheo quy định của Luật này”. Quy định này được hiểu: Cơ quan giám định, Giám định viên được trưng cầu giám định chỉ thực hiện giám định những vấn đề liên quan đến hoạt động điều tra (từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự), truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Thực tiễn, một số trường hợp Cơ quan giám định tư pháp và Giám định viên từ chối giám định với lý do cơ quan trưng cầu giám định chưa khởi tố vụ án, gây khó khăn cho cơ quan trưng cầu giám định trong giai đoạn xác minh, giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Một số địa phương Cơ quan điều tra và cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (Cơ quan Kiểm lâm) trong quá trình hoạt động đã thu giữ cá thể động vật hoang dã. Khi xử lý tội phạm này nhất thiết phải xác định tên, loài cá thể để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố vụ án, bị can). Tuy nhiên, Điều 206 BLTTHS quy định 06 trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định và  Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 của Liên ngành Trung ương quy định có 06 trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định thì “động vật hoang dã” không thuộc trường hợp bắt buộc hoặc cần thiết phải trưng cầu giám định; trong khi điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 lại quy định: “Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật”. Mâu thuẫn, bất cập này khiến các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gặp khó khăn, vướng mắc khi xử lý các vụ án, vụ việc liên quan đến động vật hoang dã.

Về tạm đình chỉ 

Khoản 1 Điều 148 BLTTHS quy định:

Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả;
b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả.

Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thường gặp vướng mắc khi áp dụng khoản 1 Điều 148 BLTTHS, cụ thể:
Về quy định “cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định…”. Có thể khẳng định, đây là quy định mang tính định tính, tùy theo cách hiểu của từng người. Khi đã hiểu tùy nghi, đồng nghĩa việc áp dụng cũng tùy nghi và khác nhau giữa các địa phương và giữa những người tiến hành tố tụng. Ví dụ: A tố cáo B Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi thụ lý, Cơ quan điều tra đã triệu tập và xác minh nhiều lần với gia đình và chính quyền địa phương nhưng không xác định được B đang ở đâu, chưa lấy lời khai của B. Do vậy, không đủ căn cứ để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Vậy, nội dung này có được coi là “đã yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định…” để tạm đình chỉ việc kiểm tra, xác minh không.
Đối với một số vụ việc bị hại trình báo mất tài sản, qua khám nghiệm hiện trường, ghi lời khai và áp dụng các biện pháp kiểm tra, xác minh theo quy định nhưng chưa đủ căn cứ khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ án và cũng không thuộc trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 148 BLTTHS thì giải quyết như thế nào.
Về phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm
Khoản 1 Điều 149 BLTTHS quy định:

1. Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi.

Chế định “phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm” là quy định mới của BLTTHS năm 2015, nhằm khắc phục những bất cập khi thực hiện BLTTHS năm 2003 và TTLT số 06/2013 trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm. Tuy nhiên, Điều luật chỉ quy định phục hồi nguồn tin trước đó đã tạm đình chỉ, không đề cập việc phục hồi (giải quyết) nguồn tin trước đó đã tạm dừng. Thực tế, rất nhiều địa phương khi thực hiện BLTTHS năm 2003, TTLT số 06/2013 và Quyết định số 1319/QĐ-BCA-C41 ngày 20/3/2015 của Bộ Công an về Quy trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong Công an nhân dân đã tạm dừng việc kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm rất nhiều vụ việc; đối với những nguồn tin này hiện nay chưa biết giải quyết như thế nào.
Mặc dù có nhiều tiến bộ và giải quyết được nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tế áp dụng; tuy nhiên, quá trình thực hiện, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 vẫn còn một số vướng mắc, bất cập đặc biệt là thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm như đã phân tích nêu trên. Trong thời gian chờ sửa đổi bổ sung Bộ luật, thiết nghĩ Liên ngành Trung ương cần sớm sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2017 để công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt hiệu quả cao, hạn chế thấp nhất tình trạng bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa người tham gia tố tụng, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa./.

Một số khó khăn và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Xâm hại tình dục trẻ em đang là vấn nạn trên toàn Việt Nam, hậu quả mà các em phải gánh chịu là những tổn thất về sức khỏe thể chất và tinh thần, làm giảm khả năng học tập, hòa nhập xã hội và thậm chí có thể hủy hoại các em, ảnh hưởng đến việc trở thành con người tốt, trở thành cha mẹ tốt trong tương lai. Nhằm hạn chếđến mức tối đa hậu quả của loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, cần có cách nhìn toàn diện về loại tội phạm này để từ đó áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời, góp phần tạo hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng ngừa.

1. Khái quát chung về trẻ em và các hình thức xâm hại tình dục trẻ em.

“Trẻ em” được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau. Tuy nhiên theo Luật Trẻ em năm 2016, “trẻ em” được hiểu là người dưới 16 tuổi. Còn theo Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam thì: Trẻ em được hiểu là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về xác định độ tuổi trẻ em nhưng tựu chung lại có thể hiểu, trẻ em là người đang trong giai đoạn phát triển, chưa hoàn thiện về mặt sinh lý và tâm lý, dễ bị tổn thương do các tác động tiêu cực từ môi trường xã hội.
Luật Trẻ em năm 2016 quy định rõ cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và các cá nhân có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em… Mặc dù vậy, tình trạng phạm xâm hại tình dục trẻ em hiện nay đang diễn biến hết sức phức tạp với nhiều thủ đoạn mới. Có thể hiểu Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Trẻ có thể bị xâm hại tình dục dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó phổ biến là xâm hại bằng cách đụng chạm và không đụng chạm. Xâm hại tình dục trẻ em bằng cách đụng chạm bộc lộ qua một số hành vi như hôn hít hoặc ôm trẻ theo kiểu tình dục, sờ mó vào bộ phận sinh dục của trẻ, hoặc bắt trẻ sờ mó vào bộ phận sinh dục của người lớn hoặc của một đứa trẻ lớn hơn, ép trẻ thực hiện hành vi mại dâm… Xâm hại tình dục trẻ em bằng cách không đụng chạm là những hành vi như dùng lời nói hoặc tranh ảnh khiêu dâm để làm cho trẻ sốc, làm cho trẻ hưng phấn tình dục hoặc làm cho trẻ quen với tình dục, cho trẻ nghe hoặc nhìn những cảnh tình dục, bắt trẻ đứng ngồi theo tư thế gợi dục để chụp ảnh (khiêu dâm), hoặc cho trẻ xem sách báo khiêu dâm…

2. Một số khó khăn khi giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.

Nhận diện loại tội phạm và các hình thức thực hiện tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, góp phần ngăn chặn, phòng ngừa chung. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định 5 điều về xâm hại tình dục trẻ em gồm: Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; Điều 147. Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Trong đó quy định các hành vi xâm hại tình dục trẻ em gồm: Hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, quan hệ tình dục khác, dâm ô và sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm. Tuy nhiên, các khái niệm “quan hệ tình dục khác”, “dâm ô”, “khiêu dâm” đến nay Tòa án nhân dân tối cao vẫn đang thực hiện dự thảo hướng dẫn chưa có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, khi xảy ra vụ việc cụ thể các cơ quan tố tụng không thống nhất được cách hiểu dẫn đến việc áp dụng pháp luật còn nhiều lúng túng. Ngoài ra, quá trình giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em các cơ quan tố tụng còn gặp nhiều khó khăn:
Thứ nhất, trong hoạt động thu thập chứng cứ, chứng minh.
Thực trạng giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em hiện nay cho thấy việc phát hiện, thu thập tài liệu chứng cứ ban đầu như các dấu vết, mẫu tinh dịch, mẫu AND của đối tượng gây án để lại trên người và quần áo của nạn nhân, hoặc ở hiện trường còn gặp nhiều khó khăn bởi có nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong cách giải quyết dẫn đến khai báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng nên vô hình chung đã tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (vùng kín bị hóa sẹo, không thu được tinh dịch…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi. Trong khi đó yêu cầu của việc thu thập mẫu tinh dịch, mẫu ADN để lại trên người và quần áo của nạn nhân, hoặc ở hiện trường và giám định pháp y cần phải tiền hành nhanh chóng, kịp thời nhưng theo quy trình giải quyết tin báo thì khi cơ quan điều tra sau tiếp nhận tin báo về tội phạm, phải phân loại và tổ chức lấy lời khai ban đầu, xác minh, làm thủ tục giới thiệu đến cơ quan chuyên môn thăm khám, lấy mẫu, giám định,… quy trình này mất trên dưới 1 tuần, có trường hợp còn kéo dài hơn. Vì vậy, thời gian càng kéo dài, việc thu thập dấu vết tội phạm, chứng cứ chứng minh thủ phạm càng khó khăn hơn.
Do có tính đặc thù như đối tượng bị xâm hại đang trong giai đoạn phát triển, chưa hoàn thiện về mặt sinh lý và tâm lý, cần được quan tâm bảo vệ đặc biệt; các dấu vết của loại tội phạm này thường nhanh chóng bị mất. Vì thế, cơ quan có thẩm quyền cần chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng quy trình giải quyết theo hướng khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm về xâm hại tình dục trẻ em, Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện ngay một số hoạt động như:
Một là, kịp thời thu giữ dấu vết vật chất đặc biệt là lông, tóc, sợi, dịch, máu, quần áo, công cụ trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.
Hai là, phối hợp với Bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý, bác sĩ chuyên khoa phụ sản, cán bộ đã được đào tạo chuyên môn về quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em để xử lý thông tin ban đầu, thăm khám, thu thập dấu vết, vật chứng có liên quan trên thân thể nạn nhân để tiến hành giám định pháp y trong thời gian nhanh nhất nhằm kết luận có hay không dấu hiệu xâm hại tình dục.
Ba là, công tác khám nghiệm hiện trường phải kịp thời, tỉ mỉ, toàn diện để đánh giá lời khai của bị hại có căn cứ hay không, để làm căn cứ để đấu tranh với bị can vì đây là những chứng cứ quan trọng để truy nguyên đối tượng.
Thứ hai, kỹ năng của cán bộ trực tiếp xử lý, giải quyết vụ việc.
Khi giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em cơ quan tiến hành tố tụng cần phải làm rõ các đặc điểm riêng biệt như: độ tuổi, đặc điểm tính cách của nạn nhân, hoàn cảnh gia đình. Căn cứ vào đặc điểm của từng em để có những biện pháp tác động cụ thể, kịp thời. Ví dụ trong trường hợp các em do chưa nhận thức đầy đủ đã đồng tình hoặc chủ động trong quan hệ tình dục, khi người lớn phát hiện không động viên, nâng đỡ mà dùng bạo lực với các em, dẫn đến các em sẽ khai báo không đúng sự thật. Hoặc khi trẻ em bị xâm hại nhưng do bị đe dọa nên sợ không dám nói ra sự thật,… Những trường hợp này cần có biện pháp phối hợp với gia đình động viên, tôn trọng trẻ và có biện pháp chia sẻ để các em hiểu, yên tâm trình bày nội dung sự việc một cách trung thực nhất.
Tuy nhiên, cán bộ giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em còn chưa được đào tạo về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi, nên khi tiến hành lấy lời khai trẻ em đã dùng những từ ngữ mang tính chất chuyên môn hoặc các câu hỏi áp dụng như người lớn khiến trẻ em không biết trả lời hoặc trả lời không chính xác. Vì thế, khi tiến hành lấy lời khai trong trường hợp này cần phải mời chuyên gia tâm lý tham gia cùng. Trong trường hợp không mời được thì khi tiếp cận trẻ em cần quan sát thái độ, cử chỉ, hành động của các em. Khi hỏi trẻ em cần hỏi những câu rõ ý để trẻ em trả lời đúng, cần sử dụng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu mà ở nhà ông bà, bố mẹ hay dùng để trao đổi với trẻ.
Cần chú ý, những trẻ bị xâm hại thường có những biểu hiện như: Nép và bám chặt vào cha mẹ, không dám nhìn người lạ, òa khóc khi gặp người lạ, trên người có dấu vết,… Khi lấy lời khai người nhà nạn nhân cần hỏi gia đình xem khi đêm ngủ các em có biểu hiện giật mình và tự nhiên khóc thét lên, ngại tắm, sợ cởi quần áo khi tắm, sợ bị người khác chạm vào người, không thích đến chỗ đông người, không thích ở một mình, thay đổi tính nết. Tự nhiên có tiền hoặc quà, phát ngôn những từ mới, vẽ hình ảnh bất thường về tình dục, có hành vi tình dục không phù hợp,… để có phương pháp tiếp cận trẻ phù hợp khi lấy lời khai của các em.
Thứ ba, từ chính người bị hại hoặc gia định người bị hại.
Trong nhiều vụ án mặc dù tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng và khẳng định hành vi của bị cáo đã xâm hại tình dục đối với trẻ em. Nhưng do trong quá trình chờ xét xử, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể do bị đe dọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa người bị hại lại thay đổi lời khai, phủ nhận lời khai trước đó và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện,…qua đó đã gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án đó.
Trong các vụ án xâm hại tình dục đối với trẻ em, người bị hại và gia đình của người bị hại thường có tâm lý e ngại, lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống gia đình nên khi xảy ra vụ việc, họ thường không trình báo với cơ quan có thẩm quyền mà giấu diếm, bỏ qua hoặc tự thỏa thuận với người có hành vi phạm tội và gia đình của người phạm tội gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án, do thời gian xảy ra đã lâu, sự hợp tác không chặt chẽ của người phạm tội, người bị hại nên việc giám định của cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn, cũng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.
Cũng có trường hợp khi biết sự việc thì phía gia đình bị hại và gia đình bị cáo tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, sau đó do không thống nhất được mức bồi thường nên bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội, nhưng việc khai báo sau đó không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án nên việc điều tra và nhận định các chứng cứ gặp nhiều khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em và công tác đấu tranh phòng ngừa.

Để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án xâm hại tình dục nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng các thì cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện đồng bộ các việc sau:
Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn, giải thích thống nhất về các khái niệm còn đang mâu thuẫn nhằm đảm bảo cách hiểu thống nhất và vận dụng đồng bộ trong thực tế. Ví dụ: như khái niệm “hành vi quan hệ tình dục khác” là hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình với người khác dưới những hình thức nhất định.
Khái niệm “hành vi dâm ô” là có hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi giao cấu nhưng cũng nhằm thoả mãn tình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục của người đó. Hoặc khái niệm về hành vi dâm ô đối với trẻ em là hành vi của người phạm tội, như sờ, bóp… vào những bộ phận kích thích tình dục của trẻ em hoặc buộc trẻ em phải có hành vi như sờ, bóp … vào những bộ phận kích thích tình dục của người đó hoặc của người khác, nhưng không có việc giao cấu với trẻ em.
Khái niệm “hành vi khiêu dâm” là hành vi dùng cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục của người khác. Các hình thức của khiêu dâm bao gồm: mô tả bộ phận sinh dục, khoả thân, mô tả khoả thân hoặc không khoả thân nhưng kích thích tình dục, mô tả nhu cầu tình dục, thủ dâm dưới mọi hình thức.
Thứ hai, cần sớm có kế hoạch đào tạo về trình độ tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi cho cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán để giải quyết các vụ án có liên quan đến người chưa thành niên trong đó có nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em; thường xuyên tổ chức việc trao đổi, rút kinh nghiệm trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về xâm hại tình trẻ trong liên ngành tư pháp. Đồng thời, quan tâm sắp xếp các cán bộ theo hướng chuyên sâu, có tính ổn định theo từng lĩnh vực công tác.
Thứ ba, liên ngành các cấp cần chủ động xây dựng Quy chế phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan, trong công tác giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em như chủ động phối hợp để xác minh, điều tra, xử lý từng trường hợp trẻ em bị xâm hại, trong đó quy định rõ các thủ tục, quy trình và trách nhiệm phòng ngừa, phát hiện, tố giác, trợ giúp và giải quyết các trường hợp trẻ em bị xâm hại của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình, cá nhân và trẻ em.
Đối với công tác đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về giới, về tình dục, về quyền của phụ nữ và trẻ em một cách sâu rộng, có trọng tâm, trọng điểm để các nạn nhân, gia đình nạn nhân hiểu và nhận thức đầy đủ quyền của mình để đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật này phải có kế hoạch, chương trình cụ thể, trong đó chú trọng đến việc lồng ghép nội dung truyền thông vào trong sinh hoạt của thôn, ấp, tổ dân phố; trong sinh hoạt ngoại khóa của các cấp học và sinh hoạt chuyên đề của các tổ chức, đoàn thể các cấp… Đặc biệt là việc quan tâm quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt, có nhiều khả năng bị xâm hại.
Hai là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em bằng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác, phát hiện sớm, tự phòng ngừa các hoạt động xâm hại tình dục và hỗ trợ tư vấn pháp lý khi cần thiết. Khi bị xâm hại tình dục, nạn nhân và gia đình phải trình báo ngay cho cơ quan Công an để được hỗ trợ tư vấn, giải quyết, tránh để lọt tội phạm…
Ba là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cha mẹ và người thân để tránh những sự việc đau lòng do tội phạm xâm hại tình dục gây nên, cha mẹ cần thường xuyên quan tâm, chia sẻ với con em mình để nhận thấy những thay đổi tâm, sinh lý cần thiết. Bên cạnh đó, do khả năng nhận thức và tự bảo vệ của trẻ em còn nhiều hạn chế nên các em có nguy cơ bị lạm dụng, xâm hại tình dục cao. Vì vậy, cha mẹ cũng cần phải trang bi cho con cái biết cách thức phòng vệ trước những đối tượng có ý định thực hiện hành vi đồi bại.
Bốn là, chủ động xác minh, nắm tình hình, diễn biến hoạt động của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, có kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn và quản lý chặt chẽ số lượng thanh thiếu niên chậm tiến, có tiền án, tiền sự, các băng nhóm trên địa bàn là những đối tượng có nguy cơ phạm tội xâm hại tình dục. Đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác điều tra, xử lý tội phạm xâm hại tình dục trẻ em kết hợp với công tác đấu tranh, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên, học sinh và vận độngnhân dân tố giác kịp thời các hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Đối với người phạm tội cần xử lý nghiêm minh, kịp thời đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Tổ chức tốt các phiên tòa lưu động đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em nhưng phải đảm bảo thuần phong mỹ tục.
Có thể nói công tác đấu tranh phòng chống xâm hại tình dục trẻ em không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà thuộc về mọi gia đình, nhà trường và toàn xã hội./.

Bị tai nạn trong thời gian nghỉ phép được hưởng chế độ gì?

Tham gia bảo hiểm là cách tốt nhất để người lao động được hỗ trợ khi có rủi ro xảy ra trong cuộc sống. Việc hưởng chế độ khi đang làm việc là điều tất yếu, vậy khi nghỉ phép, quyền lợi này còn được đảm bảo?

Điều kiện hưởng chế độ ốm đau

Theo quy định tại Điều 3 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, người lao động được hưởng chế độ ốm đau khi thuộc trường hợp:
– Bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động hoặc điều trị thương tật, bệnh tật tái phát do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việcvà có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền.
– Phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền.
– Lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con mà thuộc một trong các trường hợp nêu trên.
Đặc biệt, không giải quyết chế độ ốm đau với các trường hợp:
– Bị ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy.
– Nghỉ việc điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
– Bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động trong thời gian đang nghỉ phép năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương; nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Như vậy, người lao động bị tai nạn trong thời gian nghỉ phép năm sẽ không được hưởng chế độ ốm đau theo pháp luật bảo hiểm xã hội.

Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động

Theo khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Đồng thời, Điều 45 Luật này quy định chi tiết 02 điều kiện để người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động:
– Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp:
+ Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh.
+ Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được ủy quyền.
+ Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.
– Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.
Lưu ý, không giải quyết chế độ tai nạn lao động với các trường hợp theo khoản 6 Điều 11 Thông tư 26/2017/TT-BLĐTBXH:
– Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
– Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân.
– Do say rượu, bia, sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy hoặc chất gây nghiện khác trái pháp luật.
Đối chiếu với các quy định nêu trên, người lao động bị tai nạn trong thời gian nghỉ phép năm không được coi là tai nạn lao động. Do đó, cũng sẽ không được hưởng chế độ tai nạn lao động.
Trên thực tế, với những trường hợp như vậy, khi người lao động không được hưởng bất cứ quyền lợi nào từ bảo hiểm thì các doanh nghiệp thường sử dụng quỹ phúc lợi của mình để động viên, thăm hỏi và hỗ trợ một phần chi phí điều trị cho người lao động.
Tuy nhiên, số tiền này thường rất nhỏ và chỉ mang tính chất khích lệ tinh thần. Nhưng dù sao đây cũng là một chính sách đáng ghi nhận của doanh nghiệp.

Pháp luật định nghĩa thế nào về “khiêu dâm”?

Ngày 01/8/2019 – Nghị định 46/2019/NĐ-CP chính thức có hiệu lực; một trong những quy định gây chú ý nhất của Nghị định này là phạt đến 10 triệu đồng nếu tập luyện thể thao mang tính khiêu dâm. Vậy, theo quy định của pháp luật, khiêu dâm là gì?

Khiêu dâm = kích thích ham muốn tình dục

Khoản 5 Điều 3 Nghị định 178/2004/NĐ-CP của Chính phủ giải thích về thuật ngữ khiêu dâm như sau: “Khiêu dâm là hành vi dùng cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục”.
Trong khi đó, Thông tư 09/2010/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch định nghĩa cụ thể, rõ ràng hơn:
“Khiêu dâm là hành vi dùng hình ảnh, ngôn ngữ, âm thanh, hành động khêu gợi, kích thích dâm ô, ham muốn tình dục trái với truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, gồm: Mô tả bộ phận sinh dục, khỏa thân, mô tả khỏa thân hoặc không khỏa thân nhưng kích thích tình dục, mô tả nhu cầu tình dục, thủ dâm dưới mọi hình thức”.
Tuy nhiên, Thông tư 09 nêu trên đã hết hiệu lực.
Do xâm phạm đến truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục, các hành vi khiêu dâm được coi là vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt theo quy định riêng của từng lĩnh vực.

Các mức xử phạt liên quan đến khiêu dâm

Ngoài quy định phạt từ 05 – 10 triệu đồng đối với hành vi sử dụng các bài tập, môn thể thao hoặc phương pháp tập luyện, thi đấu thể thao mang tính chất khiêu dâm, đồi trụy tại khoản 1 Điều 7 của Nghị định 46/2019/NĐ-CP, pháp luật hiện hành còn có nhiều quy định khác về mức phạt đối với các hành vi liên quan đến khiêu dâm.
Tiêu biểu như:
– Phạt từ 5 – 10 triệu đồng nếu bán hoặc phổ biến tranh, ảnh, văn hóa phẩm khác có nội dung khiêu dâm (điểm a khoản 2 Điều 19 Nghị định 158/2013/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 28/2017/NĐ-CP);
– Phạt từ 10 – 15 triệu đồng nếu bán, cho thuê băng, đĩa trò chơi điện tử có nội dung khiêu dâm, kích động bạo lực, đồi trụy (điểm b khoản 2 Điều 18 Nghị định 158/2013/NĐ-CP);
– Phạt từ 10 – 15 triệu đồng nếu dùng các phương thức phục vụ có tính chất khiêu dâm tại vũ trường, nhà hàng, karaoke, cơ sở lưu trú du lịch… (điểm a khoản 3 Điều 19 Nghị định 158/2013/NĐ-CP);
– Phạt từ 10 – 15 triệu đồng đối với hành vi dạy khiêu vũ có nội dung khiêu dâm, kích động bạo lực, đồi trụy (khoản 3 Điều 20 Nghị định 158/2013/NĐ-CP)…
Trên đây là những quy định của pháp luật về khiêu dâm là gì? Và những mức phạt tương ứng với các hành vi khiêu dâm.

Sắp tăng mức đóng BHXH của người sử dụng lao động?

Tham gia BHXH là trách nhiệm của bất cứ người sử dụng lao động nào. Hiện nay, tổng mức đóng BHXH của người sử dụng lao động là 21,5%. Liệu những năm tới, mức đóng này có thay đổi?

Tăng mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Theo Dự thảo Nghị định quy định mức đóng BHXH bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, dự kiến mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của người sử dụng lao động sẽ tăng lên 0,7% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động thay vì 0,5% như hiện nay, ngoại trừ 04 trường hợp:
– Đóng 0,5% với người sử dụng lao động trong các cơ quan Đảng, đoàn thể, lực lượng vũ trang, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.
– Đóng 0,5% với người sử dụng lao động đáp ứng đủ 05 điều kiện:
+ Báo cáo định kỳ tai nạn lao động và an toàn, vệ sinh lao động trong 03 năm liền kề trước thời điểm đề xuất điều chỉnh mức đóng trung thực, chính xác và đầy đủ mẫu biểu, đúng nội dung và thời gian theo quy định;
+ Không có vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động trong 03 năm liền kề trước thời điểm đề xuất điều chỉnh mức đóng;
+ Giảm 50% tần suất tai nạn lao động (cả trường hợp bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở) tính từ năm liền kề năm đề xuất điều chỉnh so với tần suất tai nạn lao động trung bình 03 năm liền kề tính từ năm trước năm đề xuất điều chỉnh đối với doanh nghiệp thuộc ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Hoặc giảm 75% tần suất tai nạn lao động (cả trường hợp bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở) tính từ năm liền kề năm đề xuất điều chỉnh so với tần suất tai nạn lao động trung bình 03 năm liền kề tính từ năm trước năm đề xuất điều chỉnh đối với doanh nghiệp còn lại;
+ Chi phí thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động bình quân trong 03 năm liền kề trước thời điểm đề xuất điều chỉnh bằng ít nhất 0,3% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động;
+ Đạt được chứng nhận tiêu chuẩn hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động theo tiêu chuẩn ISO 45001:2018.
– Đóng 0,3% với người sử dụng lao động đáp ứng đủ 05 điều kiện:
+ Báo cáo định kỳ tai nạn lao động và an toàn, vệ sinh lao động trong 03 năm liền kề trước thời điểm đề xuất điều chỉnh mức đóng trung thực, chính xác, đầy đủ mẫu biểu, đúng nội dung và thời gian theo quy định;
+ Không có vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động trong 03 năm liền kề trước thời điểm đề xuất điều chỉnh mức đóng;
+ Giảm 75% tần suất tai nạn lao động (cả trường hợp bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở) tính từ năm liền kề năm đề xuất điều chỉnh so với tần suất tai nạn lao động trung bình 03 năm liền kề tính từ năm trước năm đề xuất điều chỉnh đối với doanh nghiệp thuộc ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Hoặc không để xảy ra tai nạn lao động (cả trường hợp bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở) tính từ 03 năm liền kề năm đề xuất điều chỉnh đối với doanh nghiệp còn lại;
+ Chi phí thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động bình quân trong 03 năm liền kề trước thời điểm đề xuất điều chỉnh bằng ít nhất 0,5% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động;
+ Đạt được chứng nhận tiêu chuẩn hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động theo tiêu chuẩn ISO 45001:2018.
– Đóng 1% với người sử dụng lao động bị phát hiện khai báo gian dối, làm giả hồ sơ đánh giá an toàn, vệ sinh lao động theo kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, nếu dự thảo này được thông qua thì tổng mức đóng BHXH bắt buộc của người sử dụng lao động tăng lên 21,7%.

Các loại thuế và phí phải nộp khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất vẫn luôn diễn ra sôi nổi. Việc người mua và người bán nắm rõ quy trình mua bán và chuyển nhượng sẽ giúp giao dịch diễn ra thuận lợi. Bài viết dưới đây chia sẻ các loại thuế và phí phải nộp khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
I. MUA BÁN:
1. Lệ phí trước bạ (bên Mua chịu)
Tiền nộp đất= (Diện tích đất) x (Giá đất) x (Lệ phí)
Tiền nộp nhà= (Diện tích nhà) x (Cấp nhà) x (Lệ phí)
– Diện tích đất tính bằng m2
– Giá đất theo bảng giá
– Lệ phí 0,5%
2.Thuế thu nhập cá nhân (bên Bán chịu)
2% trên giá trị chuyển nhượng.
3. Các chi phí khác liên quan:
– Phí công chứng,
– Phí đo vẽ.
II. TẶNG CHO:
1. Lệ phí trước bạ:
Tiền nộp đất= (Diện tích đất) x (Giá đất) x (Lệ phí)
Tiền nộp nhà= (Diện tích nhà) x (Cấp Nhà) x (Lệ Phí)
– Diện tích đất tính bằng m2
– Giá đất theo bảng giá
– Lệ phí 0,5%
2. Thuế thu nhập cá nhân:
Tiền nộp bằng : Tổng giá trị Bất Động Sản (trên 10 triệu) x 10%.
** Trường hợp không phải nộp lệ phí trước bạ:
– Nhà đất đã được cấp GCN chung cho hộ gia đình, khi phân chia nhà đất cho những người trong hộ gia đình.
– Chuyển giao tài sản cho vợ, chồng, con cái, cha mẹ
– Nhà đất được đền bù, kể cả nhà đất được mua bằng tiền đền bù.
** Trường hợp không phải nộp thuế thu nhập cá nhân:
– Chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
– Chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.
– Nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.