Thẩm quyền tổng hợp hình phạt tù có thời hạn của Tòa án cấp huyện

Thực tiễn xét xử đã gặp phải một số tình huống vướng mắc liên quan đến mức hình phạt tù có thời hạn mà Tòa án cấp huyện có thẩm quyềntổng hợp trong hoạt động xét xử. Những vướng mắc này đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, vì vậy trong thực tiễn công tác đã và đang có nhiều quan điểm khác nhau.
Thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp được quy định tại Điều 170 BLTTHS năm 2003 và hiện nay được quy định tại Điều 268 BLTTHS năm 2015. Theo đó, Tòa án cấp huyện chỉ được xét xử sơ thẩmnhững vụ án hình sự về tội ít nghiêm trọng, tội phạmnghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm được quy định tại các điểm a,b,c,d khoản 1 Điều 268 BLTTHS. Mức hình phạt tù có thời hạn cao nhất mà Tòa án cấp huyện có thẩm quyền xử phạt người thực hiện hành vi phạm tội là 15 năm tù.

Nhiều quan điểm khác nhau

Để tiện cho việc trao đổi, tác giả xin được nêu một ví dụ cụ thể như sau: Tháng 9 năm 2018, Nguyễn Văn A bị Tòa án huyện B xử phạt 10 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 174 BLHS năm 2015 (Bản án đã có hiệu lực pháp luật). Đến tháng 12 năm 2018 Nguyễn Văn A lại bị VKSND huyện C truy tố ra trước Tòa án huyện C để xét xử về tội Cướp tài sản theo khoản 2 Điều 168 BLHS năm 2015, có mức hình phạt từ 7 đến 15 năm tù.
Sau khi nhận và thụ lý hồ sơ vụ án đã có nhiều quan điểm khác nhau về thẩm quyền xét xử và tổng hợp hình phạt của Tòa án huyện C.
Quan điểm nhứ nhất: Tòa án huyện C vẫn tiến hành xét xử đối với Nguyễn Văn A về tội Cướp tài sảnvà tổng hợp 10 năm tù của bản án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, kể cả trường hợp khi tổng hợp hình phạt của 02 bản án mà mức hình phạt chung bị cáo A phải chấp hành trên 15 năm tù, thì cũng không bị coi là vi phạm về thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện.
Lập luận của quan điểm thứ nhất là: Thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện được xác định theo tội danh, điều khoản, mức hình phạt mà bị cáo A bị VKSND huyện C truy tố để xét xử. Còn việc tổng hợp hình phạt của bản án do Tòa án huyện B xét xử đã có hiệu lực pháp luật chỉ là tổng hợp hình phạt mang tính số học, không căn cứ vào hình phạt chung sau khi đã tổng hợp để xác định thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.

TAND huyện Chợ Mới, Bắc Kạn xét xử vụ án hình sự – Ảnh: Nguyễn Triệu Giang
TAND huyện Chợ Mới, Bắc Kạn xét xử vụ án hình sự – Ảnh: Nguyễn Triệu Giang

Quan điểm thứ hai cho rằng: Tòa án huyện C vẫn tiến hành thụ lý, xét xử Nguyễn Văn A về tội cướp tài sản theo khoản 2 Điều 168 BLHS 2015 mà không tiến hành tổng hợp hình phạt 10 năm tù của bản án do Tòa án huyện B xét xử. Vì khi tổng hợp hình phạt của cả 2 bản án thì mức hình phạt chung bị cáo A phải chịu sẽ vượt quá mức tối đa hình phạt tù có thời hạn 15 năm mà Tòa án cấp huyện được quyền xét xử “ giả sử A sẽ bị xử phạt 10 năm tù về tội cướp tài sản, nếu tổng hợp 2 bản án mức hình phạt chung mà Tòa án huyện C buộc A phải chấp hành là 20 năm tù”. Như vậy là vi phạm về thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện. Những người theo quan điểm thứ hai cho rằng cứ xét xử mà không tổng hợp hình phạt của bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã có hiệu lực pháp luật, sau khi xét xử Tòa án huyện C đề nghị Chánh án Tòa án cấp tỉnh của mình tổng hợp hình phạt chung của 2 bản án.
Quan điểm thứ ba cho rằng: Trường hợp này sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án huyện C phải báo cáo và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp tỉnh xét xử mới đúng thẩm quyền.
Lập luận của quan điểm này là, thẩm quyền của Tòa án cấp huyện chỉ được xử hình phạt tù có thời hạn tối đa là 15 năm. Vậy nên, nếu Tòa án huyện C vẫn tiến hành xét xử và tổng hợp hình phạt 10 năm tù của bản án đã có hiệu lực, dẫn đến vi phạm quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện.

Chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp tỉnh

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba với những lập luận sau đây:
Một là, khi nói đến thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện, có nghĩa là chúng ta đang bàn về việc Tòa án cấp huyện được xét xử các loại tội phạm nào, được áp dụng các loại hình phạt nào, mức hình phạt tối đa của các loại hình phạt mà Tòa án cấp huyện có quyền áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bán án (hoặc nhiều tội) cũng là một hoạt động xét xử. Mà đã coi tổng hợp hình phạt trong quá trình tố tụng là hoạt động xét xử thì vẫn phải tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 268 BLTTHS quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện. Theo đó, mức hình phạt tù có thời hạn mà Tòa án cấp huyện có quyền áp dụng đối với người phạm tội là không được quá 15 năm tù. Nếu bản án của Tòa án cấp huyện áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội có mức tối đa quá 15 năm tù là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 268 BLTTHS. Do đó, tác giả cho rằng lập luận của những người theo quan điểm thứ nhất là thiếu tính chính xác, chưa đúng về mặt lý luận và hiểu không đúng quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp.
Hai là, nếu Tòa án huyện C vẫn xét xử về hành vi cướp tài sản nhưng không tổng hợp hình phạt của bản án đã có hiệu lực pháp luật mà đề nghị Chánh án Tòa án cấp tỉnh tổng hợp của hai bản án cũng không hợp lý, vì theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLHS thì “trong trường hợp một người đang phải chấp hành hình phạt của một bán án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung”.
Như vậy, nếu trường hợp khi xét xử A về tội cướp tài sản mà không tiến hành tổng hợp hình phạt 10 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã có hiệu lực pháp luật là không đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLHS. Hơn nữa, nếu thực hiện theo quan điểm thứ hai, thì đây cũng chỉ là giải pháp tình thế mà không thể áp dụng lâu dài vì không bảo đảm tuân thủ của quy định của BLHS.
Ba là, nếu Tòa án huyện C vẫn tiến hành xét xử A về tội cướp tài sản nhưng không tiến hành tổng hợp hình phạt 10 năm tù của bản án đã có hiệu lực pháp luật, sau đó đề nghị Chánh án Tòa án cấp tỉnh tổng hợp hình phạt của 2 bản án (giả sử hình phạt chung là 20 năm tù như đã nêu), điều này sẽ tiếp tục nảy sinh vướng mắc về thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Vì theo quy định tại khoản 1 Điều 364 BLTTHS 2015 thì “Chánh án toà án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án…”, mà thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện được áp dụng tối đa không qúa 15 năm tù. Vậy thì Chánh án Tòa án cấp huyện có thẩm quyền ra quyết định thi hành án theo quyết định tổng hợp hình phạt của Chánh án tỉnh với mức hình phạt là 20 năm tù hay không? Mặt khác Chánh án Tòa án cấp huyện (Tòa án xét xử sơ thẩm) có thẩm quyền ra quyết định thi hành án theo quyết định tổng hợp hình phạt của Chánh án cấp tỉnh hay không? Đây là những vấn đề mà hiện này chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể.
Bốn là, theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 thì “Trường hợp bị cáo bị truy tố về một hoặc một số tội thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dâncấp huyện mà khi thụ lý vụ án xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại một bản án khác và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật thì Toà án nhân dân cấp huyện phải báo cáo với Toà án nhân dân cấp tỉnh để Toà án nhân dân cấp tỉnh thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh rút hồ sơ vụ án lên để truy tố, xét xử ở cấp tỉnh.”. Mặc dù, hướng dẫn này chỉ quy định trường hợp bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc chung thân thì Tòa án cấp huyện phải báo cáo, đề nghị VKS và Tòa án cấp tỉnh rút hồ sơ lên để truy tố, xét xử theo thẩm quyền nhưng là định hướng quan trọng.
Năm là, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 268 BLTTHS thì “Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáohoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người”.
Tuy các quy định nêu trên chưa cụ thể, tuy nhiên chúng ta có thể vận dụng quy định tại điểm này để đề nghị Tòa án cấp tỉnh rút hồ sơ vụ án để xét xử khi thụ lý vụ án Tòa án cấp huyện xét thấy nếu tiến hành xét xử sẽ vi phạm quy định về thẩm quyền xét xử và điều này cũng phù hợp với việc ra quyết định thi hành án hình sự. Mặc dù không có quy định Chánh án Tòa án huyện được ra quyết định thi hành án hình phạt tù đến bao nhiêu năm, song căn cứ thẩm quyền xét xử thì Tòa án huyện chỉ được xét xử đối với những loại án có mức hình phạt đến 15 năm. Do đó, mặc định Chánh án huyện cũng chỉ có thể ra quyết định thi hành án tương ứng với mức hình phạt được phép xét xử, còn trên 15 năm sẽ do Chánh án cấp trên ra quyết định.
Trên đây là một số vướng mắc còn có nhiều quan điểm khác nhau về thẩm quyền tổng hợp hình phạt (bao gồm cả tổng hợp hình phạt nhiều bản án và tổng hợp hình phạt nhiều tội) của Tòa án cấp huyện trong quá trình xét xử, cần phải được HĐTP TANDTC hướng dẫn.
Tác giả rất mong nhận được ý kiến trao đổi của quý độc giả, các chuyên gia pháp lý, các đồng nghiệp và Ban biên tập về vấn đề này./.
HÀ QUANG HUY (Phó Chánh Tòa Hình sự TAND tỉnh Bắc Kạn) 
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

Áp dụng hình phạt bổ sung đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Qua nghiên cứu một số vụ án về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, nhận thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung còn mang tính chất tùy nghi, bên cạnh đó một số bất cập khi người đang chấp hành án về tội này vẫn được đổi, cấp lại giấy phép lái xe.

1. Hình phạt bổ sung còn tùy nghi

Hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định được quy định tại Điều 41 BLHS năm 2015, theo đó: “Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội. Thời hạn cấm là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo”.
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tại khoản 6, Điều 260, BLHS năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy nếu người phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ bị kết án với hình phạt tù có thời hạn nếu bị áp dụng hình phạt bổ sung thì thời hạn được tính từ khi chấp hành xong bản án; Nếu bị kết án là án treo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền áp dụng hình phạt bổ sung thì thời hạn cấm hành nghề, làm công việc lái xe được tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trước tình trạng một số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả lớn do người điều khiển xe ô tô sử dụng bia rượu, sử dụng ma túy nên đã có một số ý kiến cho rằng phải tước giấy phép lái xe vĩnh viễn đối với những người này hoặc xử lý hình sự đối với người sử dụng bia rượu khi điều khiển xe ô tô. Để các đề xuất trên thành quy định của pháp luật cần phải có nghiên cứu chuyên sâu và đánh giá tác động khi luật hóa các hành vi trên các phương diện lý luận cũng như thực tiễn, do đó cần thời gian để nghiên cứu và đánh giá.
Qua nghiên cứu các điều kiện quy định về người điều khiển phương tiện giao thông thấy rằng tại Điều 58, Luật giao thông đường bộ năm 2008 về điều kiện của người lái xe ô tô không có quy định nào là đang chấp hành bản án của Tòa án thì không được điều khiển xe ô tô.
Bên cạnh đó theo quy định tại Thông tư 12/2017/TT-BGTVT ngày 15/04/2017 của Bộ Giao thông vận tải quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ cũng không có quy định là người đang chấp hành bản án của Tòa án thì không được đổi giấy phép lái xe( ), chỉ có quy định nâng hạng giấy phép lái xe phải kê khai số km an toàn.
Do đó người đang chấp hành bản án nếu Tòa án không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc lái xe thì người đó hoàn toàn đủ điều kiện để điều khiển xe ô tô và được đổi giấy phép lái xe ôtô khi đến hạn.
Qua nghiên cứu một số vụ án về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thấy rằng việc áp dụng hình phạt bổ sung này còn tùy nghi, chưa tương xứng với tính chất mức độ phạm tội, trong một số trường hợp thời hạn tạm giữ giấy phép lái xe còn ngắn hơn thời hạn vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực giao thông đường bộ, được thể hiện qua một số vụ án sau.

2. Một số trường hợp cụ thể

2.1.Thời gian tạm giữ giấy phép lái xe trong vụ án ngắn hơn thời gian tước giấy phép lái xe trong vi phạm hành chính.
Thời gian tước giấy phép lái xe theo Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, thời gian tước giấy phép lái xe ô tô cao nhất từ 04- 06 tháng đối với hành vi: Điều khiển xe đi ngược chiều trên đường cao tốc, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định; Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.
– Từ 22 tháng đến 24 tháng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy.
Qua nghiên cứu một số vụ án có liên quan nhận thấy sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Theo Bản án số 11/2019/HS-ST ngày 28/02/2019 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình: Khoảng 7 giờ 50 phút ngày 15/11/2018 tại km 978+400m đường mòn Hồ Chí Minh thuộc tổ dân phố Hữu Nghị, thị trấn Nông Trường Việt Trung, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đỗ Đức Đ có giấy phép lái xe hạng C, A1 điều khiển xe ô tô tải mang BKS 73C-033.24 theo hướng Đồng Hới – Phong Nha nhưng không tuân thủ các qui định về luật giao thông đường bộ, thiếu quan sát nên khi tránh va chạm với 01 xe ô tô ngược chiều (Không xác định được) đã đánh lái về phía phải quá mức làm cho xe ô tô bị cáo điều khiển có nguy cơ rơi xuống rảnh thoát nước ven đường, nên bị cáo giật mình và đánh lái về phía bên trái đột ngột để điều khiển xe ô tô đi vào phần mặt đường nhưng đã bị mất tay lái và lao qua phần đường của xe ngược chiều và đâm vào xe mô tô mang BKS 73F1-339.56 làm anh Nguyễn Văn N và ông Nguyễn Văn Nh tử vong tại chỗ.
Sau khi vi phạm, bị cáo luôn tỏ rõ sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, kịp thời khắc phục thiệt hại về vật chất và tổn thất tinh thần cho gia đình người bị hại và được gia đình bị hại có đơn yêu cầu đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, Tòa án xử phạt: Đỗ Đức Đ 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Về hình phạt bổ sung Hội đồng xét xử nhận định: Xét thấy bị cáo với nghề nghiệp là lái xe, nên công việc này là nguồn thu nhập chính để bị cáo sinh sống, phụ giúp gia đình cũng như nuôi 02 con đang còn nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo. Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng A1, C.
Như vậy vụ tai nạn làm chết 02 người, nhưng thời gian tạm giữ giấy phép lái xe từ 15/11/2018 đến 28/02/2019 chỉ là 3 tháng 15 ngày, không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề thì liệu đủ sức giáo dục và răm đe đối với những người khác và có tác dụng ngăn ngừa tội phạm này.
Bản án số 07/2019/HS-ST ngày 11/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 04/12/2018, bị cáo Lê Hoàng A điều khiển xe ô tô khách biển số 70B-011.66 chở công nhân từ hướng xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đến xã G, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Khi đến đoạn đường huyện 7 thuộc ấp P, xã T thì bị cáo Lê Hoàng A điều khiển xe chạy lấn sang lề đường bên trái hướng đi gây tai nạn với xe mô tô không biển số do ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963, ngụ ấp p P, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh điều khiển theo hướng ngược lại, hậu quả làm ông Đ tử vong trên đường đưa đi cấp cứu.
Ngày 11/3/2019, Hội đồng xét xử tuyên Bị cáo Lê Hoàng A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt Bị cáo Lê Hoàng A 01 năm 6 tháng (Một năm sáu tháng) tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm, được tính từ ngày tuyên án. Trả cho bị cáo Lê Hoàng A một giấy phép lái xe hạng E mang tên Lê Hoàng A.
Như vậy thời gian tạm giữ giấy phép lái xe trong vụ án này từ ngày 04/12/2018 đến ngày 11/3/2019 chỉ hơn 3 tháng.

Một vụ tai nạn giao thông tại Đà Nẵng – Ảnh: tc gt
Một vụ tai nạn giao thông tại Đà Nẵng – Ảnh: tc gt

2.2.Vụ án có áp dụng hình phạt bổ sung
Theo bản án số 166/2018/HSST ngày 07/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh: Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe ô tô hạng B2. Khoảng 11 giờ ngày 20/5/20218, H điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu Huyndai, loại 3,5 tấn, BKS 99C-028. đi trên đường 295, hướng thị trấn Chờ – huyện Yên Phong đi thị xã Từ Sơn. Khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Ng, thị trấn C, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thì H điều khiển cho xe đi sang làn đường bên trái theo chiều đi (phần đường dành cho xe đi từ thị xã Từ Sơn đến thị trấn Chờ) để vượt xe ô tô tải đi cùng chiều nên đã va chạm với xe mô tô BKS 98N8-2920 do anh Trương Đức T điều khiển chở sau anh Phạm Văn P và Trương Anh D đi ngược chiều.
Hậu quả làm anh Phạm Văn P và anh Trương Đức T tử vong tại chỗ, anh Trương Anh D bị thương. Thiệt hại tài sản đối với ô tô BKS 99C-028.81 do H điều khiển là 71.282.000đ.
Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, tích cực cùng gia đình bồi thường khắc phục hậu quả toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của những người bị hại và đại diện hợp pháp cho người bị hại. Những người bị hại, đại diện hợp pháp cho gia đình người bị hại đã chấp nhận mức bồi thường và cùng có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Cấm bị cáo hành nghề lái xe một năm kể từ ngày tiếp theo của ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Đây là một bản án khá nghiêm khắc về hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung.
Trái lại, theo bản án số 11/2019/HS-ST ngày 28/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ xảy ra khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 14/9/2018 tại ngã tư đường liên thôn thuộc địa phận Thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân đề nghị Hội đồng xét xử: Cấm bị cáo hành nghề lái xe 01 năm, kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù.
Hội đồng xét xử nhận định: Xét thấy bị cáo là lao động chính, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn và chỉ có nghề nghiệp chính là lái xe, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
2.3. Hậu quả đã được báo trước
Theo bản án số 199/2013/HSST ngày 26/7/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa: Khoảng 17 giờ ngày 19/11/2012 Nguyễn Minh Th có giấy phép lái xe hợp lệ điều khiển xe ô tô BKS: 36C – 005 39 đi trên đường Bà Triệu, phường Hàm Rồng, TP. Thanh Hóa theo hướng Bắc Nam, khi đi đến đoạn đường trước nhà nghỉ Hoa Lan đường Bà Triệu, phường Hàm Rồng, TP. Thanh Hóa do phần đường bên phải xấu có nhiều ổ gà nên Th điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường bên trái, cùng lúc đó Th phát hiện xe mô tô BKS 36B2 34801 do anh L. Q. L ở xã Hoằng Quang, TP. Thanh Hóa đang chạy ngược chiều. Th trả lái sang phần đường bên phải nhưng do khoảng cách quá gần nên đã đâm vào xe mô tô gây tai nạn. Hậu quả: Anh L chết tại chỗ.
Ngày 26/7/2013 Hội đồng xét xử tuyên Nguyễn Minh Th phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ” theo khoản 1, Điều 202, xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng từ ngày tuyên án.
– Giấy phép lái xe hạng C số AQ 673883 của Nguyễn Minh Th có giá trị đến ngày 07/12/2013. Ngày 25/10/2013 Nguyễn Minh Th có đơn đề nghị cấp lại giấy phép lái xe hạng C và đến ngày 27/10/2013 được Sở giao thông vận tải tỉnh Thanh Hóa cấp giấy phép lái xe số 380109383373. (xin đổi và được cấp trong thời gian chấp hành bản án).
Hơn 3 năm 6 tháng sau Nguyễn Minh Thtiếp tục gây ra vụ án thứ hai.
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 23/6/2016 Nguyễn Minh Th, điều khiển xe ôtô biển kiểm soát: 36C-11xxx theo hướng từ huyện Yên Lâm đi thành phố Thanh Hóa trên Quốc lộ 45 khi đến Km 65+300 thuộc địa phận xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa do thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã để phía trước đầu xe ôtô biển kiểm soát: 36C – 11xxx đâm vào phía sau xe môtô biển kiểm soát: 36N – 88.xxx do anh Đ. T. T điều khiển đi phía trước cùng chiều, phía sau chở chị H. T. N.
Hậu quả: chị N tử vong, anh Đ. T. T bị thương, hai phương tiện hư hỏng.
Ngày 10/10/2016 Viện kiểm sát đã ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án do đủ điều kiện áp dụng quy định miễn trách nhiệm hình sự tại khoản 3, Điều 29, Bộ luật hình sự năm 2015 (Theo hướng dẫn của Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội) và trao trả giấy phép lái xe ôtô hạng C cho Th.
Vụ án thứ 2 thời gian tạm giữ giấy phép lái xe chưa đến 4 tháng.
Như vậy sau khi gây ra vụ án thứ nhất (tháng 11/2012) làm một người thiệt mạng hơn 3 năm 6 tháng (tháng 6/2016) sau Th lại tiếp tục gây ra vụ án thứ hai làm một người tử vong. Nếu như Hội đồng xét xử áp dụng nghiêm khắc quy định về hình phạt bổ sung hoặc quy định không được đổi giấy phép lái xe trong thời gian chấp hành bản án thì có thể ngăn ngừa được vụ án thứ hai.

3. Hướng hoàn thiện

Về người đang chấp hành án được điều khiển xe ô tô, đổi giấy phép lái xe, chúng tôi cho rằng, những người này vừa có hành vi vi phạm nghiêm trọng Luật Giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, do đó có hạn chế nhất định về kỹ năng điều khiển xe ô tô cũng như ý thức chấp hành pháp luật về tham gia giao thông.
Vì vậy những người này được phép tiếp tục điều khiển xe ô tô cũng như cấp lại giấy phép lái xe ô tô mà không qua đào tạo thì kỹ năng điều khiển xe ô tô lại cũng như ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông chưa khắc phục, những điều kiện, nguyên nhân chưa được loại trừ có khả năng sẽ gây ra những vụ tai nạn giao thông tiếp theo là rất lớn.
Do đó những người này cần phải học lại để bồi dưỡng kỹ năng xử lý tình huống tham gia giao thông trên đường cũng như kiến thức pháp luật có liên quan.
Đối với việc áp dụng hình phạt bổ sung trong vụ án vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, nhận thấy một số vấn đề như sau:
Thứ nhất: Một số hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bởi vì lý do hoàn cảnh gia đình, nuôi con nhỏ, mẹ già, lao động chính…. Như vậy lý do thuộc về yếu tố chủ quan của người phạm tội mà không phải do diễn biến phức tạp của loại tội phạm này dụng. Trong khi đó mục đích cơ bản của hình phạt bổ sung là phòng ngừa tội phạm, hạn chế hoặc loại trừ các điều kiện phạm tội.
Thứ hai: Những vụ án không áp dụng hình phạt bổ sung thì sau khi trao trả giấy phép lái xe, người đó có thể tiếp tục điều khiển ngay. Trong một số ví dụ như trên thời gian tạm giữ giấy phép lái xe còn ngắn hơn thời gian tước giấy phép lái xe trong vi phạm hành chính, đặc biệt có trường hợp người phạm tội được cơ quan tiến hành tố tụng miễn trách nhiệm hình sự. Như vậy trên một phương diện nào đó chế tài hình sự nhẹ hơn chế tài hành chính, không có tác dụng trong việc cải tạo, giáo dục đối với người phạm tội và những người khác.
Thứ ba: Cấm hành nghề là hình phạt bổ sung có thể nói là có tính trừng trị nghiêm khắc cao nên hội đồng xét xử có cân nhắc kỹ nên rất ít được áp dụng đối với người phạm tội bị tuyên các hình phạt không phải hình phạt phạt tù có thời hạn. Thường được áp dụng đối với các bản án có hình phạt tù có thời hạn.
Thứ tư: Trong giai đoạn hiện nay xảy ra một số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng do người điều khiển xe ô tô sử dụng rượu bia, chất ma túy. Do đó cần phải áp dụng đồng loạt hình phạt bổ sung để tăng cường giáo dục răn đe và góp phần giảm các vụ tai nạn giao thông.
Với các đề xuất mới nhằm sửa đổi quy định của pháp luật có liên quan để hạn chế trình trạng giao thông thì cần có thời gian để nghiên cứu và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành. Do đó thời gian tới Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn về áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 6, Điều 260, BLHS năm 2015 để áp dụng thống nhất, không để áp dụng có tính chất tùy nghi, chủ quan của Hội đồng xét xử như hiện nay. (Như trước đây TANDTC ban hành nghị quyết hướng dẫn áp không được xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các tội phạm mà dư luận xã hội lên án.
Đối với các trường hợp như sử dụng rượu bia, ma túy, chất kích thích gây tai nạn hoặc gây chết 2 người trở lên hoặc hành vi phạm tội vào Khoản 2 Điều 260 thì bắt buộc phải áp dụng hình phạt bổ sung để phòng ngừa, ngăn chặn loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng gây hậu quả rất lớn và diễn biến phức tạp như hiện nay.
Bên cạnh đó nếu quá trình giải quyết vụ án nhanh với thời gian ngắn thì cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung để đảm bảo thời gian tạm giữ giấy phép lái xe phải dài hơn thời gian tước giấy phép lái xe vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
– Bộ Giao thông Vận tải cần sửa đổi thông tư quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ theo hướng những người đang chấp hành bán án của tòa án về tội vi phạm về tham gia giao thông đường bộ thì không được đổi giấy phép lái xe; yêu cầu trong hồ sơ có bảng kê khai số km an toàn khi đổi lại, cấp lại giấy phép lái xe./.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Bàn về quy định miễn chấp hành hình phạt theo BLHS 2015

Bài viết bàn về những bất cập của các quy định về miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 và đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cụ thể để hoàn thiện chế định này.
 
1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về miễn chấp hành hình phạt
Miễn chấp hành hình phạt (CHHP) quy định trong BLHSnăm 2015, được áp dụng đối với người bị kết án bằng loại hình phạt đã tuyên được đặt ra có thể đưa đến việc chấm dứt, hủy bỏ toàn bộ, phần còn lại hoặc không buộc phải chấp hành trong giai đoạn thi hành án hình sự. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy các quy định hiện hành về miễn CHHP đã bộc lộ bất cập về tính hợp lý trong thực tiễn áp dụng, căn cứ khoa học và kỹ thuật lập pháp, theo chúng tôi cần phải tiếp tục hoàn thiện chế định này ở những vấn đề sau:
Một là, phân tích quy định của BLHS hiện hành về các trường hợp miễn CHHP cho thấy tính hợp lý về mặt cấu trúc của quy phạm chưa chặt chẽ, còn phân tán và không có sự đồng nhất bản chất pháp lý giữa sự liên kết của các biện pháp này. Ngoài ra, quy phạm mang tính định nghĩa trong BLHS năm 2015 vẫn chưa được xây dựng, cách sắp xếp chế định này trong Chương IX (Thời hiệu thi hành bản án, miễn CHHP, giảm thời hạn CHHP) với các chế định khác có liên quan đến miễn CHHP nhưng chưa phản ánh hết nội hàm đã liệt kê như: (i) Án treo (Điều 65), (ii) Tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66), (iii) Hoãn CHHP tù; (iv) Tạm đình chỉ CHHP tù (Điều 68). Do đó, cần xây dựng thành một chế định độc lập, trong đó có khái niệm với những căn cứ và điều kiện về miễn CHHP cụ thể trong BLHS năm 2015.
Hai là, miễn CHHP được nhìn nhận dưới các tiêu chí của pháp luật Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật một số nước trong việc thiết lập và cần thiết tính toán đến căn cứ, điều kiện được miễn khỏi sự trừng phạt nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng hoặc tác động đến an ninh, trật tự xã hộihoặc lợi ích của các nạn nhân nhằm tăng cường tính hiệu quả trong việc tha miễn khỏi sự trừng phạt của từng nhóm tội phạm (kể cả trường hợp tiếp nhận người bị kết án về Việt Nam CHHP tù). Ở cách tiếp cận này, tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định tại Điều 66, nhà làm luật hạn chế và không áp dụng đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia; tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh hoặc các tội phạm cụ thể khác… Tuy nhiên, căn cứ để miễn CHHP theo Điều 62 về hình phạt tù có thời hạn đến 30 năm thì theo chiều hướng ngược lại, không giới hạn về một trong các tội thuộc nhóm tội này là chưa tương thích với những chế định khác nói trên.
Ba là, việc sửa đổi, bổ sung các thuật ngữ để thống nhất chung giữa khoản 2 và khoản 4 với khoản 3 trong Điều 62  đó là “chấp hành tốt pháp luật”. Lý giải điều này trên cơ sở căn cứ vào loại hình phạt áp dụng ở các điều luật có liên quan tương ứng với miễn CHHP. Người bị kết án với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm (tội ít nghiêm trọng) là đối tượng được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt theo khoản 2 Điều 62 khi có một trong những điều kiện bắt buộc là “chấp hành tốt pháp luật”. Trong khi đó, việc miễn CHHP tù có thời hạn trên 03 năm đến giới hạn tối đa của tù có thời hạn (tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) là 30 năm tù cho thấy tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tội phạm mà người bị kết án đã thực hiện rất cao. Tuy nhiên, nhà làm luật chỉ yêu cầu có một trong những điều kiện “đã lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” mà bỏ qua yếu tố quan trọng nhất thể hiện ý thức chủ quan tích cực của người bị kết án “chưa chấp hành” về sự ăn năn, hối cải hay sự phản kháng, chống đối xã hội. Như vậy, quy định ở khoản 3 Điều 62  là chưa phù hợp, tỉ lệ nghịch với sự thiết lập miễn CHHP toàn bộ hình phạt khi dựa vào phân loại tội phạm theo chiều hướng từ thấp đến cao.
Bốn là, việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung và trong BLHS năm 2015 nói riêng trong đó có đối tượng thuộc nhóm người dễ bị tổn thương: Phụ nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật trong chế định CHHP hay miễn CHHP vẫn chưa quan tâm đúng mức. Có thể nói Bộ luật Hình sự 2015 đã tập hợp hóa, pháp điển hóa các hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử khi lần đầu tiên xây dựng các quy phạm không chỉ phản ánh sự gia tăng TNHS là đối tượng tác động của tội phạm hoặc giảm nhẹ chúng khi thực hiện hành vi phạm tội đối với người từ 70 tuổi trở lên mà còn là điều kiện – đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66 ). Tuy nhiên, đối chiếu với quy định tại Điều 62 thì người bị kết án từ 70 tuổi trở lên không thuộc đối tượng – là một trong những điều kiện để miễn CHHP cho loại hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn đến 03 năm (ít nghiêm trọng) hoặc người bị kết án tù trên 03 năm không phân biệt loại tội bị kết án, mức hình phạt đã tuyên khi chưa chấp hành là chưa phù hợp với một trong những dạng miễn CHHP đã nêu. Do đó, bên cạnh những quy định hiện hành cần mở rộng hơn nữa người bị kết án thuộc nhóm (đối tượng) nói trên nghĩa là, ghi nhận chính thức những điều kiện đã phân tích vào BLHS năm 2015 để xem xét trong trường hợp miễn chấp hành toàn bộ hình phạt tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62.
Năm là, quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62 chưa có sự đồng nhất nếu xét về tính chất, mức độ nguy hiểm theo phân loại tội phạm. Đối với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm nếu có đủ điều kiện quy định thì được “miễn CHHP” mà không phải “miễn toàn bộ hình phạt” như khoản 3 Điều 62 . Do đó, cần thống nhất khoản 2 và khoản 3 Điều 62  với quy định chung là “miễn chấp hành toàn bộ hình phạt”.
Sáu là, quy định khoản 1 Điều 67 BLHS năm 2015 về hoãn CHHP tù và quy định tạm đình chỉ CHHP tù tại Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 2015 là trùng khớp nhau về điều kiện áp dụng. Điều kiện hoãn và tạm đình chỉ CHHP tù được đặt chung một điều luật để dẫn chiếu tương tự là không chặt chẽ về mặt quy phạm. Khi căn cứ và điều kiện giống nhau được sử dụng cho hai trường hợp khác biệt “chưa chấp hành” (do hoãn CHHP tù) và “đang chấp hành” (được tạm đình chỉ CHHP tù) đã cho kết quả không tương thích về tình trạng pháp lý chỉ mức độ miễn chấp hành của người bị kết án. Hay nói cách khác, căn cứ và điều kiện chưa chấp hành” và “đang chấp hành” hình phạt do người bị kết án tạo ra như nhau đã không mang lại kết quả giống nhau khi xem xét tổng thể về miễn, hoãn, tạm đình chỉ CHHP tù.
Bảy là, phân tích quy định của BLHS năm 2015 về các trường hợp miễn CHHP cho thấy sự đa dạng và tính chất không đồng nhất của các biện pháp này, bao gồm: (i) Các biện pháp của pháp luật hình sự không liên quan đến TNHS, không phải là một phương tiện để thực hiện (các biện pháp y tế bắt buộc áp dụng đối với người mắc bệnh tâm thần); (ii) Các biện pháp của pháp luật hình sự (hiệu ứng) gắn liền với TNHS, đó là những phương tiện thực hiện của nó (về CHHP, trách nhiệm bồi thường thiệt hạido tội phạm gây ra, khấu trừ thu nhập, bắt buộc chữa bệnh). BLHS năm 2015 không quy định thực hiện khấu trừ một phần thu nhập (tư pháp dân sự); bắt buộc chữa bệnh; án phí, kể cả phạt tiền là hình phạt bổ sung (trong một số trường hợp) phải thực hiện khi được miễn CHHP.
Tám là, hệ thống hình phạt quy định trong BLHS 2015 bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Miễn CHHP tiền còn lại không chỉ được áp dụng cho hình phạt chính mà còn được áp dụng cho hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 62 chỉ quy định việc miễn CHHP tiền còn lại, không phân định loại hình phạt nào là chưa được chặt chẽ.
Chín là, miễn CHHP do thay đổi hoặc chuyển biến tình hình khi Nhà nước hoạch định chính sáchhình sự bằng việc phi tội phạm hóa, xóa bỏ một tội phạm hoặc điều luật có quy định giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý. Đây là một trường hợp của miễn CHHP nếu người bị kết án chưa CHHP, đang được hoãn CHHP thì Tòa án ra quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; hoặc đang tạm đình chỉ CHHP thì được miễn CHHP còn lại và như vậy, đồng nghĩa với việc xóa toàn bộ cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (cấm cư trú, quản chế,..). Tương tự, đối với người bị kết án cố tình trốn tránh việc CHHP, trong thời gian đó đã “lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo” nhưng BLHS năm 2015 không quy định, về vấn đề này, cần thiết đề xuất để sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.
2. Một số đề xuất, kiến nghị 
– Đối với quy định tại Điều 62 Miễn chấp hành hình phạt (giữ nguyên tên gọi của Điều luật, sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1, 2, 3, 5 và 6 Điều 62 BLHS năm 2015 như sau:
1. Miễn chấp hành hình phạt là việc hủy bỏ loại hình phạt tương ứng khi có những căn cứ, điều kiện do pháp luật hình sự quy định và không buộc người bị kết án phải chấp hành toàn bộ hoặc phần hình phạt còn lại đã được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.
2. Người bị kết án có thể được miễn chấp hành hình phạt nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Khi có quyết định đặc xá hoặc đại xá;
b) Chưa chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, hoặc được hoãn chấp hành hình phạt tù;
c) Đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù;
d) Đang chấp hành hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung;
đ) Đang chấp hành hình phạt hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế;
e) Khi BLHS xóa bỏ không quy định một tội phạm đối với người bị kết án;
g) Do tình trạng bệnh tật.
3. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 62.2, khoản 1 Điều 62.3, Điều 62.4, 62.5, 62.7 và 62.9 của Bộ luật này vẫn thực hiện trách nhiệm dân sự do hành vi phạm tội gây ra, hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, các biện pháp tư pháp khác và án phí được tuyên trong bản án.
– Bổ sung thêm một số điều luật sau:
+ Điều 62.1. Không áp dụng miễn chấp hành hình phạt (quy định mới)
Không áp dụng miễn CHHP quy định tại Điều 62.4 của Bộ luật này đối với các tội phạm sau đây:
1. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này;
2. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này.
+ Điều 62.2. Miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá (quy định mới về tên gọi của Điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 62 của BLHS năm 2015).
1. Đặc xá là quyết định của Chủ tịch nước tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân quy định như khoản 3, Điều 3 Luật Đặc xá năm 2007.
2. Đại xá là quyết định của Quốc hội cho người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt.
+ Điều 62.3. Miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ (quy định mới về tên gọi của điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 62 của BLHS năm 2015, đồng thời quy định mới khoản 1 và khoản 2).
1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sau khi bị kết án đã lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo;
b) Chấp hành tốt pháp luật và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
2. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều này vẫn thực hiện việc khấu trừ thu nhập.
+ Điều 62.4. Miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn (quy định mới về tên gọi của Điều luật, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 62 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời quy định mới khoản 3).
1. Người bị kết án tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sau khi bị kết án đã lập công hoặc có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn;
b) Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
c) Chấp hành tốt pháp luật và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
2. Quy định tại  khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sau khi bị kết án đã lập công lớn; hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
b) Quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều này.
3. Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được áp dụng để miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với người bị kết án được hoãn chưa chấp hành hình phạt tù.
+ Điều 62.5. Miễn chấp hành hình phạt tù khi được tạm đình chỉ (giữ nguyên như khoản 4 Điều 62 BLHS năm 2015).
+ Điều 62.6. Miễn chấp hành hình phạt tiền còn lại (quy định mới về tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng như quy định tại khoản 5 Điều 62 của BLHS năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm a, b, khoản 1, quy định mới khoản 2).
1. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt, theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Lập công lớn hoặc do tai nạn hoặc ốm đau không tự mình gây ra;
b) Có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn;
2. Quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.
+ Điều 62.7. Miễn chấp hành hình phạt hình phạt bổ sung (quy định mới về tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng như quy định tại khoản 6 Điều 62 của BLHS năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung cụm từ chấp hành tốt pháp luật).
Người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế, nếu chấp hành tốt pháp luật và được một phần hai mức hình phạt, theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể được Tòa án quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
+ Điều 62.8. Miễn chấp hành hình phạt do bệnh tật (quy định mới)
Người bị kết án bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đã được điều trị bắt buộc tại cơ sở y tế chuyên khoa nhưng không khỏi bệnh, thì được miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn.
+ Điều 62.9. Miễn chấp hành hình phạt khi Bộ luật Hình sự không quy định là tội phạm (quy định mới)
1. Khi BLHS xóa bỏ không quy định một tội phạm, người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng đối với người bị kết án trong trường hợp cố tình trốn tránh chấp hành hình phạt.
– Đối với Điều 66. Tha tù trước thời hạn có điều kiện (giữ nguyên tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng tại 05 khoản từ khoản 1đến khoản 5, Điều 66 như quy định của BLHS năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm đ, khoản 1 như sau:
1. Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:
…
d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, trách nhiệm dân sự và án phí;
– Đối với quy định tại Điều 67. Hoãn chấp hành hình phạt tù (giữ nguyên tên gọi của điều luật và nội dung tương ứng tại khoản 1 Điều 67 như quy định của BLHS năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung điểm c, d khoản 1 và khoản 2; quy định mới khoản 3 như sau:
1. Người bị kết phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây: …
c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm.
d) Bị kết án phạt tù đến 03 năm, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.
2. Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu có căn cứ quy định tại Điều 62.3 và 62.4 của Bộ luật này thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; nếu thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
3. Không áp dụng hoãn chấp hành hình phạt tù quy định tại khoản 1 Điều này đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII, các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này.

NGUYỄN VĂN THỦY (TAND huyện Long Khánh, Đồng Nai)

Nguồn: tcdcpl.moj.gov.vn

Tội đánh bạc theo quy định của Bộ luật hình sự

Tội đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 248 BLHS 1999.
 

Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

 
Bình luận:

1. Khái niệm

– Đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.
– Đánh bạc được hiểu là nhiều người (ít nhất từ hai người trở lên) cùng tham gia thực hiện hành vi dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật.

2. Các yếu tố cấu thành tội đánh bạc

2.1. Mặt khách quan.

Mặt khách quan của tội phạm này có một trong các dấu hiệu sau:
– Có sự thỏa thuận được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên.
– Nếu tiền hay hiện vật có giá trị dưới 5.000.000 đồng thì phải thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 (tội tổ chức đánh bạc) đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều 322 (tội tổ chức đánh bạc) chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
Lưu ý: Về tiền hoặc hiện vật xác định đưa vào đánh bạc gồm:
– Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc.
– Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã hoặc sẽ được dùng để đánh bạc
– Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc
Một số vấn để khác cần chú ý (tham khảo Nghị quyết  số 01/2010/NQ- HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán);

1. Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội hoặc tội tổ chức đánh bạc chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;
b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó
c) Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đánh bạc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”
d) Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp”.

2. “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp ở chiếu bạc;
b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được ở trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;
c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

3. Khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc cần phân biệt:

a) Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP;
b) Trường hợp đánh bạc dưới mọi hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đưa ngựa… trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.
Ví dụ 1: Tại kỳ đua ngựa thứ 39, tổ chức vào ngày 15-7-2010, trong khoảng thời gian  từ 9 giờ đến 11 giờ A đã cá độ ba đợt cụ thể là đợt một 500.000 đồng, đợt hai 1.000.000 đồng, đợt ba 2.000.000 đồng, trong trường hợp này chỉ coi A đánh bạc một lần trong kỳ đua ngựa đó với tổng số tiền là 3.500.000 đồng.
Ví dụ 2: Ngày 20-7-2010, trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 16 giờ, B mua ba số đề trong một lô đề cụ thể là: mua số 17 với số tiền là 500.000 đồng, mua số 20 với số tiền 2.100.000 đồng, mua số 25 với số tiền 3.000.000 đồng; trong trường hợp này, chỉ coi B đánh bạc một lần.
Trong các trường hợp nêu tại ví dụ 1 và ví dụ 2 trên đây, nếu số tiền cá độ đua ngựa, số tiền mua số đề của mỗi đợt từ 2.000.000 đồng trở lên thì cũng không được áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

4. Việc xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ và của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… như sau:

4.1. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc

a) Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ.
Ví dụ: B mua 5 số đề với tổng số tiền là 100.000 đồng, tỷ lệ được thua 1/70, trong đó có 4 số đề mua mỗi số 10.000 đồng, 1 số đề mua với số tiền 60.000 đồng, hành vi của B bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa… và B đã trúng số đề mua với số tiền  60.000 đồng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng + (60.000 x 70 lần) = 4.300.000 đồng.
b) Trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ.
Ví dụ 1: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, nếu B không trúng số nào thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng.
Ví dụ 2: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, nếu hành vi của B bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền khi B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng (không phụ thuộc vào việc khi có kết quả mở thưởng B có trúng số đề hay không trúng số đề)

4.2. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc

a) Trường hợp có người chơi số đề, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là toàn bộ số tiền thực tế mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ và số tiền mà chủ đề, chủ cá độ phải bỏ ra để trả cho người trúng (có thể là một hoặc nhiều người)
b) Trường hợp không có người chơi số để, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa… thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ.
Ví dụ 1: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.2 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, nếu cả 5 người chơi không trúng số đề thì số tiền mà chủ đề dùng đánh bạc là 50.000 đồng x 5 người = 250.000 đồng.
Ví dụ 2: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.2 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, nếu hành vi của D bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền D dùng để đánh bạc trong trường hợp này là 50.000 x 5 người = 250.000 đồng (không phụ thuộc vào việc khi có kết quả mở thưởng có hay không có người trúng số đề).

2.2. Khách thể.

Hành vi phạm tội xâm phạm đến trật tự công cộng.

2.3. Mặt chủ quan.

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể.

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
Cần lưu ý: Việc tham gia hoặc thực hiện đánh bạc bao giờ cũng phải là có nhiều người (có hai người trở lên) cùng thực hiện.

3. Về hình phạt.

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 02 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

4. Hình phạt bổ sung.

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Dấu hiệu pháp lý của Tội môi giới hối lộ tại Bộ luật Hình sự 2015

Tội mô giới hối lộ được quy định trong Điều 365 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
 

Điều 365. Tội môi giới hối lộ
1. Người nào môi giới hối lộ mà của hối lộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
b) Lợi ích phi vật chất.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Biết của hối lộ là tài sản của Nhà nước;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
e) Phạm tội 02 lần trở lên;
g) Của hối lộ trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc trường hợp của hối lộ trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
4. Phạm tội thuộc trường hợp của hối lộ trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
6. Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
7. Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.

 

1. Làm môi giới hối lộ là gì?

Làm môi giới hối lộ là hành vi làm trung gian tạo điều kiện (móc nối) để đưa hối lộ và bên nhận hối lộ(có thể theo yêu cầu của bên đưa hối lộ hoặc bên nhận hối lộ) thỏa thuận việc đưa và nhận hối lộ.

2. Các yếu tố cấu thành tội môi giới hối lộ

2.1. Mặt khách quan

– Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi. Có hành vi giới thiệu hoặc giúp cho bên đưa hối lộ và bên nhận hối lộ gặp nhau để thỏa thuận việc hối lộ (như chọn địa điểm, thời gian, chuyển lời đề nghị, yêu cầu…giữa hai bên), kể cả chuyển hoặc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất hoặc phi vật chất khác cho bên đưa hối lộ hoặc nhận hối lộ;
– Thời diểm hoàn thành tội môi giới hối lộ được tính từ thời điểm bên nhận hối lộ và bên đưa hối lộ đạt được sự thỏa thuận đưa và nhận hối lộ.
b) Dấu hiệu khác. Có một trong các dấu hiệu sau:
– Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất trị giá 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
– Lợi ích phi vật chất.

2.2. Khách thể

– Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến hoạt đông đúng đắn của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế của Nhà nước.

2.3. Mặt chủ quan

– Người phạm tội môi giới hối lộ thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể

– Chủ thể của tội môi giới hối lộ là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

3. Những tình tiết được miễn trách nhiệm hình sự

– Theo quy định tại khoản 6 thì: Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự về hành vi môi giới hối lộ.
– Đây là quy định mang tính khoan hồng nhằm phòng ngừa chung, đồng thời tạo điều kiện để đấu tranh với các tội phạm tham nhũng (tội nhận hối lộ và tội đưa hối lộ).

4. Về hình phạt của tội môi giới hối lộ

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 04 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1)
Có mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
b) Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
c) Khung ba (khoản 3)
Có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
d) Khung bốn (khoản 4)
Có mức phạt tù từ 08 năm đến 15 năm.

5. Hình phạt bổ sung

Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
Lưu ý: Theo quy định tại khoản 6 thì:
Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Dấu hiệu pháp lý của Tội đưa hối lộ tại Bộ luật Hình sự 2015

Tội đưa hối lộ quy định tại Điều 364 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
 

Điều 364: Tội đưa hối lộ
1. Người nào môi giới hối lộ mà của hối lộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
b) Lợi ích phi vật chất.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Biết của hối lộ là tài sản của Nhà nước;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
e) Phạm tội 02 lần trở lên;
g) Của hối lộ trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc trường hợp của hối lộ trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
4. Phạm tội thuộc trường hợp của hối lộ trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
6. Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
7. Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.

 

1. Đưa hối lộ là gì?

Đưa hối lộ là hành vi dùng tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật chất trực tiếp hoặc qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn, hoặc người khác hoặc tổ chức khác để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

2. Các yếu tố cấu thành tội đưa hối lộ

2.1. Khách thể của tội phạm

– Là xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

– Là hành vi đưa hối lộ cho người có chức vụ quyền hạn.
– Một hành vi bị coi là hối lộ khi giá trị hối lộ từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc các loại giá trị phi vật chất khác (như tình dục, vị trí, việc làm,…). Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi đã loại bỏ tình tiết định tội “từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần”. Như vậy, theo Luật hình sự mới, mọi hành vi đưa của hối lộ có trị giá dưới 2.000.000 đồng bất luận gây hậu quả gì hoặc được thực hiện nhiều lần cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hối lộ.
– Hành vi ở đây được thể hiện dưới hình thức: đã đưa hoặc sẽ đưa trực tiếp hoặc qua trung gian. Như vậy, hành vi hối lộ cần phải được xác định trước hết bởi hai yếu tố: chủ thể “đưa của hối lộ” và “của hối lộ” của ai. Một điểm mới của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi so với Bộ luật hình sự năm 1999, đó là đã đưa ra định nghĩa cụ thể cho hành vi đưa hối lộ. Tuy nhiên, việc quy định hành vi hối lộ bao gồm cả hành vi “sẽ đưa” có thể sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố tội phạm liên quan đến xác định chứng cứ và thời điểm hoàn thành tội phạm này.
– Cũng cần phân biệt giữa hành vi đưa hối lộ với hành vi môi giới hối lộ.

2.3. Mặt chủ quan

Mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp.
– Nếu người đưa hối lộ đưa nhầm cho người không có chức vụ quyền hạn thì vẫn cấu thành tội đưa hối lộ, nếu người nhận biết đưa nhầm mình là người có chức vụ quyền hạn mà vẫn nhận của hối lộ thì người nhận sẽ bị xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
– Tội đưa hối lộ có động cơ vụ lợi. Mục đích là để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặ theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Tuy nhiên, động cơ không phải là dấu hiệu cấu thành bắt buộc của loại tội phạm này.
Tình tiết tăng nặng:
+ Có tổ chức;
+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
+ Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
+ Phạm tội 02 lần trở lên;
+ Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng trở lên.

2.4. Chủ thể của tội phạm:

Bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm chịu trách nhiệm hình sự và đến một độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự thì đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

3. Về hình phạt tội đưa hối lộ

– Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về tăng cường tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, giảm khả năng áp dụng hình phạt tù, mở rộng khả năng áp dụng các hình phạt không tước tự do, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án linh hoạt xem xét áp dụng hình phạt phù hợp đối với một số trường hợp phạm tội chức vụ ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi đã bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ và quy định phạt tiền là hình phạt chính đối với tội đưa hối lộ (khoản 1 điều 364). Đồng thời, khung hình phạt cũng được điều chỉnh xuống mức thấp hơn so với Bộ luật hình sự 1999.
– Khung cơ bản: phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
– Khung tăng nặng: so với Bộ luật hình sự năm 1999, khung tăng nặng đối với tội đưa hối lộ của Bộ luật hình sự năm 2015 cũng có sự điều chỉnh theo xu hướng giảm nhẹ hơn.
– Cụ thể:
+ Khung tăng nặng thứ nhất: phạt tù từ 02 đến 07 năm;
+ Khung tăng nặng thứ hai: phạt tù từ 07 năm đến 12 năm;
+ Khung tăng nặng thứ ba: phạt tù từ 12 năm đến 20 năm;
+ Như vậy mức khung “trần” cho tội đưa hối lộ theo Bộ luật hình sự năm 2015 là 20 năm.
Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

4. Miễn trách nhiệm hình sự

Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Hành vi quan hệ tình dục khác là những hành vi nào?

Trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, các tội xâm phạm tình dục từ Điều 141 đến Điều 146, ngoài khái niệm giao cấu đã được quy định bổ sung khái niệm “hành vi quan hệ tình dục khác”. Hiểu thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác là câu hỏi cần được giải đáp để có nhận thức thống nhất.
 
Các nội dung liên quan:

  • Các yếu tố cấu thành Tội hiếp dâm tại BLHS 2015
  • Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
  • Tội cưỡng dâm
  • Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

 
Giao cấu được hiểu là hình thức quan hệ tình dục bằng cách đưa bộ phận sinh dục nam vào bên trong bộ  phận sinh dục nữ. Hành vi quan hệ tình dục khác có thể bao gồm các hình thức quan hệ tình dục như: quan hệ tình dục qua đường hậu môn, quan hệ tình dục bằng miệng (đưa bộ phận sinh dục nam vào miệng nữ, miệng nam xâm nhập bộ phận sinh dục nữ), quan hệ sinh dục bằng tay (tay của nam xâm nhập bộ phận sinh dục nữ, tay của nữ  “ xóc “ bộ phận sinh dục nam), quan hệ tình dục bằng cách liếm hoặc hôn hít bộ phận sinh dục.
Như vậy, những hành vi không phải là hành vi quan hệ tình dục khác nhằm thoả mãn khoái lạc tình dục là hành vi dâm ô. Do đó, khái niệm về tội dâm ô như  sau: Dâm ô tức là có hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi giao cấu nhưng cũng nhằm thoả mãn tình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục của người đó (ví dụ như: dùng tay sờ mó hoặc kích thích bộ phận sinh dục, tác động dương vật vào những chỗ khác trong thân thể người phụ nữ ngoài bộ phận sinh dục hoặc chỉ quệt bên ngoài bộ phận sinh dục không có ý định ấn vào trong , ấn dương vật vào sau quần,cho xuất tinh vào sau quần , bắt nạn nhân sờ mó bộ phận sinh dục của mình v.v…(1). Hoặc khái niệm về hành vi dâm ô đối với trẻ em là hành vi của người phạm tội, như sờ,bóp… vào những bộ phận kích thích tình dục của trẻ em hoặc buộc trẻ em phải có hành vi như sờ, bóp … vào những bộ phận kích thích tình dục của người đó hoặc của người khác ,nhưng không có việc giao cấu với trẻ em (2), đều không còn phù hợp với quy định của BLHS.
Theo đó, có thể hiểu tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi quy định tại Điều 146 BLHS là hành vi của người đủ 18 tuổi trở lên sờ soạng lên thân thể của người  dưới 16 tuổi như: sờ đùi, sờ mông, sờ ngực, sờ bộ phận sinh dục mà không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện hành vi quan hệ tình dục qua đường hậu môn, qua đường miệng, hoặc quan hệ tình dục bằng tay , bằng cách liếm hoặc hôn hít bộ phận tình dục. (Ở Nhật Bản hành vi sờ soạng lên thân thể người chưa đủ 13 tuổi, kể cả trường hợp được nạn nhân đồng ý, bị coi là phạm tội dâm ô với mức hình phạt từ 6 tháng đến 10 năm tù; trong trường hợp người đủ 13 tuổi trở lên đồng ý thì không bị coi là phạm tội).
Việc xác định khái niệm hành vi quan hệ tình dục khác như nêu trên sẽ đáp ứng được yêu cầu xử lý đối với những hành vi xâm hại tình dục chỉ dùng tay hoặc dùng miệng … Nếu không, sẽ xử lý như thế nào đối với kẻ tấn công một người phụ nữ bằng cách chỉ dùng tay, dùng miệng … xâm nhập vào bộ phận sinh dục của họ ?
Tôi nghĩ rằng, TANDTC, VKSNDTC và BNV nên sớm hướng dẫn vấn đề này đáp ứng yêu cầu đấu tranh với loại tội phạm xâm phạm tình dục nói chung và xâm phạm tình dục đối với trẻ em nói riêng đang xảy ra rất phức tạp hiện nay.
NGÔ CƯỜNG (Nguyên Vụ trưởng Vụ HTQT- TANDTC)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)


(1)Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về tình dục , số 329-HS2 ngày 11-5-1967 của TANDTC (theo hướng dẫn tại văn bản này , dâm ô với người dưới 16 tuổi tròn bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù).
(2)Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT- TANDTC-VKSNDTC- BVN ngày 2-1-1998 của Toà án nhân dân tối cao- Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an)hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự.

Các yếu tố cấu thành Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định tại Điều 144 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sủa đổi, bổ sung năm 2017). 
 

Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tính chất loạn luân;
b) Làm nạn nhân có thai;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
đ) Phạm tội 02 lần trở lên;
e) Đối với 02 người trở lên;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Nhiều người cưỡng dâm một người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
d) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 
Bình luận Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

1. Khái niệm

Đây là hành vi cưỡng dân trẻ em, được hiểu là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là người đang bị lệ thuộc vào người phạm tội hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách phải giao cấu với người phạm tội một cách miễn cưỡng. Nếu cưỡng dâm người dưới 13 tuổi thì sẽ phạm tội Hiếp dâm trẻ em Điều 142 Bộ luật hình sự.

2. Các yếu tố cấu thành Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

* Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội này gồm có các dấu hiệu sau đây
Về hành vi. Có hành vi giao cấu trẻ em là người bị lệ thuộc hoặc cần sự giúp đỡ bằng việc sử dụng thủ đoạn như dụ dỗ, mua chuộc, đe dọa ….
Dấu hiệu khác : Trẻ em bị hại phải có mối quan hệ lệ thuộc voeis người phạm tội. Được hiểu là mối quan hệ lệ thuộc về nhiều mặt như : về vật chất (được nuôi dưỡng, được trợ giúp các điều kiện sinh sống, được chăm sóc….), về xã hội (giữa giáo viên với học sinh, giữa bác sĩ với bệnh nhân ), về tín ngưỡng (giữa tín đồ với nhiều chức sắc tôn giáo); về gia đình (giữa anh chị em cùng cha khác mẹ…).
Nhìn chung các dấu hiệu của mặt khách của tội này giống với tội cưỡng dâm nhưng chỉ khác đối tượng nạn nhân là trẻ em.
+ Tội phạm hoàn thành từ lúc trẻ em giao cấu với người phạm tội.
+ Trẻ em bị hại là người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
+ Việc đe dọa không phải là đe dọa bằng vũ lực.
* Khách thể:  Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền được tôn trọng, bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em, xâm phạm đến sức khỏe, sự phát triển bình thường của trẻ em.
* Mặt chủ quan: Người phạm tội cưỡng dâm trẻ em thực hiên tội phạm này với lỗi cố ý.
* Chủ thể: Chủ thể của tội cưỡng dâm trẻ em là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Đồng thời phải có quan hệ lệ thuộc với trẻ em hoặc có quan hệ nhất định trong việc giúp đỡ trẻ em thoát khỏi tình trạng quẫn bách.

3. Về hình phạt Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Các tình tiết tăng nặng định khung của tội cưỡng dâm trẻ em giống với các tình tiết tăng nặng của tội hiếp dâm trẻ em. Điều 144 Bộ luật hình sự năm 2015.
– Làm rõ hành vi cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi.
– Thêm trương hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, đó là các trường hợp:
+ Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
+ Gây rối loạn tinh thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
+ Phạm tội 02 lần trở lên (chuyển khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân thành khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm).
+ Đối với 02 người trở lên (chuyển khung hình phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân thành khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm).
– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
+ Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên.
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi cảu nạn nhân 46% trở lên.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015. tương ứng với Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ BLHS 1999.
 

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

 
Bình luận Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Khái niệm

Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, được hiểu là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ đã không thực hiện, thực hiện không đúng các quy định pháp luật giao thông đường bộ.

2. Các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có một trong các dấu hiệu sau:
– Làm chết người;
– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
– Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng
Lưu ý:
–  Hậu quả được quy định chung với từng trường hợp phạm tội cụ thể. Đây là các quy định mới so với BLHS 2009.
– Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người tham gia giao thông đường bộ là hành vi không thưc hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản.
– Trường hợp phương tiện giao thông đường bộ di chuyển, hoạt động nhưng không tham gia giao thông đường bộ (như di chuyển, hoạt động của trường học, công trường đang thi công hoặc đang khai khác) mà gây ra tai nạn thì người điều khiển phương tiện giao thông đường không bị truy cứu trách nhiệm trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về  tham gia giao thông đường bộ mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng khác nếu thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm đó như tội vô ý làm chết người quy định tại Điều 128, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính tại Điều 129 hoặc tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người quy định tại Điều 295.

2.2. Khách thể

– Hành vi  phạm tội xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông  đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.

2.3. Mặt chủ quan

– Người phạm tội thực hiện tội này với lỗi cố ý.

2.4. Chủ thể

– Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào tham gia giao thông đường bộ có năng lức trách nhiệm hình sự.

3. Về hình phạt

Mức hình phạt của tội được chia thành 4 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (Khoản 1):
– Có mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
b) Khung hai (Khoản 2):
– Có mức phạt từ 03 năm đến 10 năm.
c) Khung ba (Khoản 3):
– Có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
d) Khung bốn (Khoản 4):
– Có mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

4. Hình phạt bổ sung

– Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nếu trên, tùy từng trường  hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn) 

Tòa án nào có thẩm quyền tổng hợp hình phạt?

Trong thực tiễn xét xử, việc áp dụng khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật còn nhiều quan điểm khác nhau. Dưới đây là một vụ án cụ thể, mong nhận được ý kiến trao đổi của quý độc giả.
Nguyễn Văn Đ và anh S (là quân nhân) bị bắt vì có hành vi đánh bạc. Quá trình điều tra, Đ khai có hành vi trộm cắp xe máy của chị H. Cơ quan tiến hành tố tụng đã tách 2 hành vi trên của Đ thành 2 vụ án hình sự khác nhau.
Ngày 26/3/2018, TAND cấp huyện ra bản án số 6, phạt Đ 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Đ kháng cáo toàn bộ bản án này.
Ngày 15/4/2018, TAQS Khu vực ra bản án số 7, phạt Đ 10 tháng tù về tội đánh bạc. Đ kháng cáo toàn bộ bản án này.
Ngày 26/5/2018, TAND cấp tỉnh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm ra bản án số 08 quyết định y án sơ thẩm. Ngày 27/5/2018, TAND cấp huyện ra quyết định thi hành án phạt tù đối Đ, Đ chấp hành án tại trạm giam Bộ Công an 12 tháng tù từ ngày 30/5/2018.
Ngày 01/6/2018, Nguyễn Văn Đ rút toàn bộ kháng cáo đối với bản án số 07. TAQS Quân khu ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. TAQS Khu vực ra quyết định thi hành án phạt tù đối với Đ theo bản án số 07.
Khi thi hành án phạt tù thì Cơ quan thi hành án hình sự xác minh Đ đang chấp hành án tại Trại giam Bộ Công an từ ngày 30/5/2018 nên quyết định thi hành án phạt tù của TAQS Khu vực chưa được thi hành.
Về nguyên tắc, trong trường hợp một người phải chấp hành hình phạt của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 56 BLHS 2015. Vấn đề đặt ra là, Chánh án Tòa án nào có thẩm quyền tổng hợp hình phạt, các Tòa án tham gia giải quyết vụ án đều có quan điểm riêng của mình.
Quan điểm thứ nhất: Chánh án TAQS Khu vực không phải tổng hợp hình phạt, bởi vì thời điểm TAQS Khu vực xét xử bản án số 06 chưa có hiệu lực pháp luật. Bị cáo kháng cáo, TAQS Khu vực đã chuyển giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho TAQS Quân khu. Quá trình xét xử phúc thẩm, TAQS Quân khu có trách nhiệm xác minh bản án số 06 có hiệu lực pháp luật hay chưa để nếu có mở phiên tòa phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có trách nhiệm tổng hợp hình phạt. Bị cáo rút đơn kháng cáo, TAQS Quân khu đình chỉ xét xử phúc thẩm thì cũng phải ra quyết định tổng hợp hình phạt, bởi vì TAQS Quân khu là cấp sau cùng thực hiện nghiên cứu hồ sơ vụ án.
Quan điểm thứ hai: Chánh án TAQS Quân khu cho rằng mình chỉ ra quyết định tổng hợp hình phạt khi TAQS Quân khu là cấp xét xử sau cùng. Bị cáo rút đơn kháng cáo, TAQS Quân khu không cần xác minh bản án số 06 có hiệu lực pháp luật hay chưa, việc đình chỉ xét xử phúc thẩm là đúng quy định.
Quan điểm thứ ba: Chánh án TAND cấp tỉnh cho rằng mình không phải tổng hợp hình phạt, bởi vì TAND cấp tỉnh không phải là cơ quan xét xử sau cùng nên không biết được bản án TAQS đã tuyên, không có quy định TAND cấp tỉnh phải theo dõi thông tin xét xử của Nguyễn Văn Đ tại TAQS để sau đó tổng hợp hình phạt.
Hiện nay, khoản 3 Điều 46 BLHS 2015 chưa được hướng dẫn thi hành, tuy nhiên, chúng ta có thể vận dụng tinh thần hướng dẫn tại điểm d mục 5 Thông tư liên ngành số 02/TT-LN ngày 20/12/1991 của TANDTC và VKSNDTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS: “… Nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của Tòa án cấp huyện và của Tòa án quân sự khu vực hoặc là của Tòa án cấp tỉnh và của Tòa án quân sự cấp quân khu, thì Chánh án Tòa án đã ra bản án sau cùng ra quyết định tổng hợp hình phạt ra quyết định; nếu các bản án đã có hiệu lực pháp luật là của các Tòa án khác nhau và khác cấp, thì Chánh án Tòa án cấp cao hơn ra quyết định tổng hợp hình phạt, không phụ thuộc vào việc bản án của Tòa án cấp cao hơn có trước hay có sau…”.
Áp dụng tinh thần đó, trong tình huống này thì Chánh án TAND cấp tỉnh có trách nhiệm ra quyết định tổng hợp hình phạt. Thủ tục được hiểu như sau: TAQS khu vực gửi bản án số 07 có hiệu lực pháp luật tới TAND cấp tỉnh; Chánh án TAND cấp tỉnh căn cứ vào bản án số 06, 07, 08 ra quyết định tổng hợp hình phạt và gửi quyết định đó cho TAQS Khu vực ra quyết định thi hành án. Tuy nhiên, thực hiện thủ tục như vậy TAQS Khu vực sẽ vi phạm thời hạn ra quyết định thi hành án quy định tại khoản 2 Điều 364 BLTTHS 2015 (thời hạn ra quyết định thi hành án kể từ ngày nhận được quyết định phúc thẩm).
Chúng tôi cho rằng quy định Chánh án Tòa án ra bản án sơ thẩm sau cùng có trách nhiệm tổng hợp hình phạt sẽ hợp lý hơn. Bởi vì, Tòa án xét xử sau cùng là cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án, qua đó phải nắm được bị cáo có bao nhiêu bản án có hiệu lực pháp luật chưa được thi hành. Khi bản án có hiệu lực pháp luật sẽ tổng hợp hình phạt, ra quyết định thi hành án bảo đảm đúng quy định pháp luật. Nếu việc tổng hợp hình phạt dẫn đến hình phạt tử hình thì Tòa án sơ thẩm cấp cao hơn (không căn cứ vào xét xử sau hay trước) sẽ ra quyết định thi hành án.
Trên đây là nội dung của vụ án và các quan điểm giải quyết khác nhau, rất mong nhận được sự đóng góp kiến của các đồng nghiệp và bạn đọc./

VŨ QUANG CƯƠNG (Thẩm phán Tòa án quân sự Quân khu 1) 

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)