Một số khó khăn và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Xâm hại tình dục trẻ em đang là vấn nạn trên toàn Việt Nam, hậu quả mà các em phải gánh chịu là những tổn thất về sức khỏe thể chất và tinh thần, làm giảm khả năng học tập, hòa nhập xã hội và thậm chí có thể hủy hoại các em, ảnh hưởng đến việc trở thành con người tốt, trở thành cha mẹ tốt trong tương lai. Nhằm hạn chếđến mức tối đa hậu quả của loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, cần có cách nhìn toàn diện về loại tội phạm này để từ đó áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời, góp phần tạo hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng ngừa.

1. Khái quát chung về trẻ em và các hình thức xâm hại tình dục trẻ em.

“Trẻ em” được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau. Tuy nhiên theo Luật Trẻ em năm 2016, “trẻ em” được hiểu là người dưới 16 tuổi. Còn theo Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam thì: Trẻ em được hiểu là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về xác định độ tuổi trẻ em nhưng tựu chung lại có thể hiểu, trẻ em là người đang trong giai đoạn phát triển, chưa hoàn thiện về mặt sinh lý và tâm lý, dễ bị tổn thương do các tác động tiêu cực từ môi trường xã hội.
Luật Trẻ em năm 2016 quy định rõ cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và các cá nhân có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em… Mặc dù vậy, tình trạng phạm xâm hại tình dục trẻ em hiện nay đang diễn biến hết sức phức tạp với nhiều thủ đoạn mới. Có thể hiểu Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.
Trẻ có thể bị xâm hại tình dục dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó phổ biến là xâm hại bằng cách đụng chạm và không đụng chạm. Xâm hại tình dục trẻ em bằng cách đụng chạm bộc lộ qua một số hành vi như hôn hít hoặc ôm trẻ theo kiểu tình dục, sờ mó vào bộ phận sinh dục của trẻ, hoặc bắt trẻ sờ mó vào bộ phận sinh dục của người lớn hoặc của một đứa trẻ lớn hơn, ép trẻ thực hiện hành vi mại dâm… Xâm hại tình dục trẻ em bằng cách không đụng chạm là những hành vi như dùng lời nói hoặc tranh ảnh khiêu dâm để làm cho trẻ sốc, làm cho trẻ hưng phấn tình dục hoặc làm cho trẻ quen với tình dục, cho trẻ nghe hoặc nhìn những cảnh tình dục, bắt trẻ đứng ngồi theo tư thế gợi dục để chụp ảnh (khiêu dâm), hoặc cho trẻ xem sách báo khiêu dâm…

2. Một số khó khăn khi giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.

Nhận diện loại tội phạm và các hình thức thực hiện tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, góp phần ngăn chặn, phòng ngừa chung. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định 5 điều về xâm hại tình dục trẻ em gồm: Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; Điều 147. Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Trong đó quy định các hành vi xâm hại tình dục trẻ em gồm: Hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, quan hệ tình dục khác, dâm ô và sử dụng trẻ em vào mục đích khiêu dâm. Tuy nhiên, các khái niệm “quan hệ tình dục khác”, “dâm ô”, “khiêu dâm” đến nay Tòa án nhân dân tối cao vẫn đang thực hiện dự thảo hướng dẫn chưa có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, khi xảy ra vụ việc cụ thể các cơ quan tố tụng không thống nhất được cách hiểu dẫn đến việc áp dụng pháp luật còn nhiều lúng túng. Ngoài ra, quá trình giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em các cơ quan tố tụng còn gặp nhiều khó khăn:
Thứ nhất, trong hoạt động thu thập chứng cứ, chứng minh.
Thực trạng giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em hiện nay cho thấy việc phát hiện, thu thập tài liệu chứng cứ ban đầu như các dấu vết, mẫu tinh dịch, mẫu AND của đối tượng gây án để lại trên người và quần áo của nạn nhân, hoặc ở hiện trường còn gặp nhiều khó khăn bởi có nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong cách giải quyết dẫn đến khai báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng nên vô hình chung đã tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (vùng kín bị hóa sẹo, không thu được tinh dịch…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi. Trong khi đó yêu cầu của việc thu thập mẫu tinh dịch, mẫu ADN để lại trên người và quần áo của nạn nhân, hoặc ở hiện trường và giám định pháp y cần phải tiền hành nhanh chóng, kịp thời nhưng theo quy trình giải quyết tin báo thì khi cơ quan điều tra sau tiếp nhận tin báo về tội phạm, phải phân loại và tổ chức lấy lời khai ban đầu, xác minh, làm thủ tục giới thiệu đến cơ quan chuyên môn thăm khám, lấy mẫu, giám định,… quy trình này mất trên dưới 1 tuần, có trường hợp còn kéo dài hơn. Vì vậy, thời gian càng kéo dài, việc thu thập dấu vết tội phạm, chứng cứ chứng minh thủ phạm càng khó khăn hơn.
Do có tính đặc thù như đối tượng bị xâm hại đang trong giai đoạn phát triển, chưa hoàn thiện về mặt sinh lý và tâm lý, cần được quan tâm bảo vệ đặc biệt; các dấu vết của loại tội phạm này thường nhanh chóng bị mất. Vì thế, cơ quan có thẩm quyền cần chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng quy trình giải quyết theo hướng khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm về xâm hại tình dục trẻ em, Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện ngay một số hoạt động như:
Một là, kịp thời thu giữ dấu vết vật chất đặc biệt là lông, tóc, sợi, dịch, máu, quần áo, công cụ trong các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.
Hai là, phối hợp với Bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý, bác sĩ chuyên khoa phụ sản, cán bộ đã được đào tạo chuyên môn về quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em để xử lý thông tin ban đầu, thăm khám, thu thập dấu vết, vật chứng có liên quan trên thân thể nạn nhân để tiến hành giám định pháp y trong thời gian nhanh nhất nhằm kết luận có hay không dấu hiệu xâm hại tình dục.
Ba là, công tác khám nghiệm hiện trường phải kịp thời, tỉ mỉ, toàn diện để đánh giá lời khai của bị hại có căn cứ hay không, để làm căn cứ để đấu tranh với bị can vì đây là những chứng cứ quan trọng để truy nguyên đối tượng.
Thứ hai, kỹ năng của cán bộ trực tiếp xử lý, giải quyết vụ việc.
Khi giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em cơ quan tiến hành tố tụng cần phải làm rõ các đặc điểm riêng biệt như: độ tuổi, đặc điểm tính cách của nạn nhân, hoàn cảnh gia đình. Căn cứ vào đặc điểm của từng em để có những biện pháp tác động cụ thể, kịp thời. Ví dụ trong trường hợp các em do chưa nhận thức đầy đủ đã đồng tình hoặc chủ động trong quan hệ tình dục, khi người lớn phát hiện không động viên, nâng đỡ mà dùng bạo lực với các em, dẫn đến các em sẽ khai báo không đúng sự thật. Hoặc khi trẻ em bị xâm hại nhưng do bị đe dọa nên sợ không dám nói ra sự thật,… Những trường hợp này cần có biện pháp phối hợp với gia đình động viên, tôn trọng trẻ và có biện pháp chia sẻ để các em hiểu, yên tâm trình bày nội dung sự việc một cách trung thực nhất.
Tuy nhiên, cán bộ giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em còn chưa được đào tạo về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi, nên khi tiến hành lấy lời khai trẻ em đã dùng những từ ngữ mang tính chất chuyên môn hoặc các câu hỏi áp dụng như người lớn khiến trẻ em không biết trả lời hoặc trả lời không chính xác. Vì thế, khi tiến hành lấy lời khai trong trường hợp này cần phải mời chuyên gia tâm lý tham gia cùng. Trong trường hợp không mời được thì khi tiếp cận trẻ em cần quan sát thái độ, cử chỉ, hành động của các em. Khi hỏi trẻ em cần hỏi những câu rõ ý để trẻ em trả lời đúng, cần sử dụng từ ngữ đơn giản, dễ hiểu mà ở nhà ông bà, bố mẹ hay dùng để trao đổi với trẻ.
Cần chú ý, những trẻ bị xâm hại thường có những biểu hiện như: Nép và bám chặt vào cha mẹ, không dám nhìn người lạ, òa khóc khi gặp người lạ, trên người có dấu vết,… Khi lấy lời khai người nhà nạn nhân cần hỏi gia đình xem khi đêm ngủ các em có biểu hiện giật mình và tự nhiên khóc thét lên, ngại tắm, sợ cởi quần áo khi tắm, sợ bị người khác chạm vào người, không thích đến chỗ đông người, không thích ở một mình, thay đổi tính nết. Tự nhiên có tiền hoặc quà, phát ngôn những từ mới, vẽ hình ảnh bất thường về tình dục, có hành vi tình dục không phù hợp,… để có phương pháp tiếp cận trẻ phù hợp khi lấy lời khai của các em.
Thứ ba, từ chính người bị hại hoặc gia định người bị hại.
Trong nhiều vụ án mặc dù tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng và khẳng định hành vi của bị cáo đã xâm hại tình dục đối với trẻ em. Nhưng do trong quá trình chờ xét xử, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể do bị đe dọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa người bị hại lại thay đổi lời khai, phủ nhận lời khai trước đó và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện,…qua đó đã gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án đó.
Trong các vụ án xâm hại tình dục đối với trẻ em, người bị hại và gia đình của người bị hại thường có tâm lý e ngại, lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống gia đình nên khi xảy ra vụ việc, họ thường không trình báo với cơ quan có thẩm quyền mà giấu diếm, bỏ qua hoặc tự thỏa thuận với người có hành vi phạm tội và gia đình của người phạm tội gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án, do thời gian xảy ra đã lâu, sự hợp tác không chặt chẽ của người phạm tội, người bị hại nên việc giám định của cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn, cũng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.
Cũng có trường hợp khi biết sự việc thì phía gia đình bị hại và gia đình bị cáo tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, sau đó do không thống nhất được mức bồi thường nên bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội, nhưng việc khai báo sau đó không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án nên việc điều tra và nhận định các chứng cứ gặp nhiều khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em và công tác đấu tranh phòng ngừa.

Để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án xâm hại tình dục nói chung và xâm hại tình dục trẻ em nói riêng các thì cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện đồng bộ các việc sau:
Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn, giải thích thống nhất về các khái niệm còn đang mâu thuẫn nhằm đảm bảo cách hiểu thống nhất và vận dụng đồng bộ trong thực tế. Ví dụ: như khái niệm “hành vi quan hệ tình dục khác” là hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình với người khác dưới những hình thức nhất định.
Khái niệm “hành vi dâm ô” là có hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi giao cấu nhưng cũng nhằm thoả mãn tình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục của người đó. Hoặc khái niệm về hành vi dâm ô đối với trẻ em là hành vi của người phạm tội, như sờ, bóp… vào những bộ phận kích thích tình dục của trẻ em hoặc buộc trẻ em phải có hành vi như sờ, bóp … vào những bộ phận kích thích tình dục của người đó hoặc của người khác, nhưng không có việc giao cấu với trẻ em.
Khái niệm “hành vi khiêu dâm” là hành vi dùng cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục của người khác. Các hình thức của khiêu dâm bao gồm: mô tả bộ phận sinh dục, khoả thân, mô tả khoả thân hoặc không khoả thân nhưng kích thích tình dục, mô tả nhu cầu tình dục, thủ dâm dưới mọi hình thức.
Thứ hai, cần sớm có kế hoạch đào tạo về trình độ tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi cho cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán để giải quyết các vụ án có liên quan đến người chưa thành niên trong đó có nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em; thường xuyên tổ chức việc trao đổi, rút kinh nghiệm trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về xâm hại tình trẻ trong liên ngành tư pháp. Đồng thời, quan tâm sắp xếp các cán bộ theo hướng chuyên sâu, có tính ổn định theo từng lĩnh vực công tác.
Thứ ba, liên ngành các cấp cần chủ động xây dựng Quy chế phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan, trong công tác giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em như chủ động phối hợp để xác minh, điều tra, xử lý từng trường hợp trẻ em bị xâm hại, trong đó quy định rõ các thủ tục, quy trình và trách nhiệm phòng ngừa, phát hiện, tố giác, trợ giúp và giải quyết các trường hợp trẻ em bị xâm hại của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình, cá nhân và trẻ em.
Đối với công tác đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về giới, về tình dục, về quyền của phụ nữ và trẻ em một cách sâu rộng, có trọng tâm, trọng điểm để các nạn nhân, gia đình nạn nhân hiểu và nhận thức đầy đủ quyền của mình để đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật này phải có kế hoạch, chương trình cụ thể, trong đó chú trọng đến việc lồng ghép nội dung truyền thông vào trong sinh hoạt của thôn, ấp, tổ dân phố; trong sinh hoạt ngoại khóa của các cấp học và sinh hoạt chuyên đề của các tổ chức, đoàn thể các cấp… Đặc biệt là việc quan tâm quản lý, chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt, có nhiều khả năng bị xâm hại.
Hai là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em bằng các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác, phát hiện sớm, tự phòng ngừa các hoạt động xâm hại tình dục và hỗ trợ tư vấn pháp lý khi cần thiết. Khi bị xâm hại tình dục, nạn nhân và gia đình phải trình báo ngay cho cơ quan Công an để được hỗ trợ tư vấn, giải quyết, tránh để lọt tội phạm…
Ba là, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cha mẹ và người thân để tránh những sự việc đau lòng do tội phạm xâm hại tình dục gây nên, cha mẹ cần thường xuyên quan tâm, chia sẻ với con em mình để nhận thấy những thay đổi tâm, sinh lý cần thiết. Bên cạnh đó, do khả năng nhận thức và tự bảo vệ của trẻ em còn nhiều hạn chế nên các em có nguy cơ bị lạm dụng, xâm hại tình dục cao. Vì vậy, cha mẹ cũng cần phải trang bi cho con cái biết cách thức phòng vệ trước những đối tượng có ý định thực hiện hành vi đồi bại.
Bốn là, chủ động xác minh, nắm tình hình, diễn biến hoạt động của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, có kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn và quản lý chặt chẽ số lượng thanh thiếu niên chậm tiến, có tiền án, tiền sự, các băng nhóm trên địa bàn là những đối tượng có nguy cơ phạm tội xâm hại tình dục. Đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác điều tra, xử lý tội phạm xâm hại tình dục trẻ em kết hợp với công tác đấu tranh, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên, học sinh và vận độngnhân dân tố giác kịp thời các hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Đối với người phạm tội cần xử lý nghiêm minh, kịp thời đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Tổ chức tốt các phiên tòa lưu động đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em nhưng phải đảm bảo thuần phong mỹ tục.
Có thể nói công tác đấu tranh phòng chống xâm hại tình dục trẻ em không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà thuộc về mọi gia đình, nhà trường và toàn xã hội./.

Giả mạo chữ ký, mức phạt thế nào?

Hiện nay có rất nhiều người không hề biết rằng việc giả mạo chữ ký của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Vậy, mức phạt nào được áp dụng với tội danh giả mạo chữ ký theo quy định của pháp luật.

1/ Xử lý vi phạm hành chính

Căn cứ vào từng tính chất của từng vụ việc, mục đích của hành vi giả mạo chữ ký mà người giả mạo chữ ký có thể bị xử lý bằng các biện pháp xử phạt hành chính được quy định tại Điều 21 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 gồm:
– Cảnh cáo
– Phạt tiền
– Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn
– Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính
– Trục xuất
Ngoài ra trong một số trường hợp cụ thể, pháp luật có những quy định riêng như:
 – Trong lĩnh vực tư pháp, Điều 24 Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung 2015 quy định sẽ phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi giả mạo chữ ký của người thực hiện chứng thực.
– Trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm, Điều 45 Nghị định 110/2013/NĐ-CP 2013 quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối hành vi giả chữ ký của người có quyền yêu cầu đăng ký trong đơn yêu cầu đăng ký hoặc văn bản thông báo
– Theo quy định về quyền tác giả, Điều 19 Nghị định 131/2013/NĐ-CP 2013 quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi giả mạo chữ ký của tác giả trên tác phẩm

2/ Truy cứu trách nhiệm hình sự

Tội giả mạo chữ ký của người khác được quy định cụ thể trong Điều 359 Bộ luật Hình sự 2015 về hành vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Ngoài ra, nếu người thực hiện tội phạm giả mạo chữ ký trong hợp đồng mua bán, hợp đồng vay vốn, hợp đồng thế chấp … nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 về tội chiếm đoạt tài sản.
Qua đây, mọi người nên có ý thức cảnh giác khi được người khác nhờ ký hộ giấy tờ, giả mạo chữ ký bởi hành vi này là vô cùng nguy hiểm.

Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự

Nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
BLHS 2015 là văn bản đầu tiên và duy nhất trong lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Đây là điểm mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự của nước ta. Sự điều chỉnh về chính sách hình sự này làm thay đổi căn bản nhận thứctruyền thống về vấn đề tội phạm và hình phạt. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung giới thiệu các quy định của BLHS năm 2015 về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bộ luật Hình sự năm 2015 – văn bản đầu tiên và duy nhất quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại2015

Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018[1](sau đây viết tắt là BLHS năm 2015) là văn bản đầu tiên và duy nhất trong lịch sử lập pháp hình sự của Nhà nước ta quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại[2]. Đây là điểm mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự của nước ta. Sự điều chỉnh về chính sách hình sự này làm thay đổi căn bản nhận thức truyền thống về vấn đề tội phạm và hình phạt. Cùng với việc quy định pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự, BLHS năm 2015 quy định hệ thống chế tài áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội tại Điều 33 và Điều 46 của BLHS năm 2015 (bao gồm 03 hình phạt chính (phạt tiền; đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn), 03 hình phạt bổ sung (cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính) và 04 biện pháp tư pháp (tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thườngthiệt hại; buộc công khai xin lỗi; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra)). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung giới thiệu các quy định của BLHS năm 2015 về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.
– Quy định TNHS đối với pháp nhân thương mại: BLHS năm 2015 đã buộc pháp nhân thương mại phải chịu TNHS tại 22 điều luật (quy định 30 tội danh) trong chương[3]. Cùng với đó, BLHS năm 2015 còn sửa đổi quy định về cơ sở của TNHS (Điều 2), nguyên tắc xử lý (Điều 3), khái niệm tội phạm (Điều 8), các quy định về hình phạt và các biện pháp tư pháp, đồng thời dành hẳn 01 chương (Chương XI “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội”) để có thể truy cứu TNHS của pháp nhân thương mại theo đúng chính sách hình sự mà Nhà nước đã đề ra. Việc quy định TNHS đối với pháp nhân thương mại trong thời điểm này là vô cùng cần thiết và phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và xử lý tội phạm trong tình hình mới.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (nhóm tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại)

Tội buôn lậu (Điều 188)

Theo quy định tại khoản 6 Điều 188 thì pháp nhân thương mại bị xử hình sự khi buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; hàng hóa trị giá dưới 200 triệu đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chínhcủa pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 300 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 15 tỷ đồng hoặc hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 300 trăm đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 189)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 189 thì pháp nhân thương mại bị xử hình sự khi vận chuyển qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; hàng hóa trị giá dưới 200 triệu đồng nhưng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 200 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 05 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 trăm đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 190 thì pháp nhân thương mại bị xử hình sự khi thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của BLHS: (1) sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít; (2) buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao; (3) sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam; (4) sản xuất, buôn bán hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; (5) sản xuất, buôn bán hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng; (6) sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5 Điều 190 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 100 kilôgam đến dưới 300 kilôgam hoặc từ 100 lít đến dưới 300 lít; (4) thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao; (5) pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam; (6) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng đến dưới 700 triệu đồng. Ngoài ra, nếu pháp nhân mà thực hiện hành vi buôn bán qua biên giới, trừ hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu; tái phạm nguy hiểm cũng bị áp dụng tình tiết tại khoản 2 Điều này.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 190 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 300 kilôgam trở lên hoặc 300 lít trở lên; (2) thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên; (3) pháo nổ 120 kilôgam trở lên; (4) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 500 triệu trở lên hoặc thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên; (5) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá 01 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 700 triệu đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 09 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 191 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện một trong các hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của BLHS: (1) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam đến dưới 100 kilôgam hoặc từ 50 lít đến dưới 100 lít; (2) thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao; (3) pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam; (4) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100 trăm triệu đồng đến dưới 300 trăm triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 trăm triệu đồng; (5) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200 trăm triệu đồng đến dưới 500 trăm triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100 trăm triệu đồng đến dưới 300 trăm triệu đồng; (6) hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5 Điều 191 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 100 kilôgam đến dưới 300 kilôgam hoặc từ 100 lít đến dưới 300 lít; (4) thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao; (5) pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam; (6) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200 trăm triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 500 trăm triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng đến dưới 700 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 191 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 300 kilôgam trở lên hoặc 300 lít trở lên; (2) thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên; (3) pháo nổ 120 kilôgam trở lên; (4) hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 500 trăm triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500 trăm triệu đồng trở lên; (5) hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá 01 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 700 triệu đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 300 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 05 tỷ đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192)

 Theo quy định tại khoản 5 Điều 192 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện một trong các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194 và 195 của Bộ luật này (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; (3) Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng; (4) Gây thiệt hại về tài sản từ 01 tỷ đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5 Điều 192 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (4) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (5) làm chết người; (6) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; (7) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; (8) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng. Ngoài ra, nếu pháp nhân mà thực hiện hành vi vận chuyển qua biên giới; tái phạm nguy hiểm cũng bị áp dụng tình tiết tại khoản 2 Điều này.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 192 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên; (3) làm chết 02 người trở lên; (4) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên; (5) gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 01 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 09 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm.  Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193)

Theo quy định tại khoản 6 Điều 193 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện một trong các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm mà không cần căn cứ vào trị giá, số lượng hay thiệt hại cụ thể của hàng giả.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 6 Điều 193 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) tái phạm nguy hiểm; (4) buôn bán qua biên giới; (5) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (6) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; (8) gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 6 Điều 193 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (3) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (4) làm chết người; (5) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; (6) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm d khoản 6 Điều 193 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thu lợi bất chính 1,5 tỷ đồng trở lên; (2) gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên; (3) làm chết 02 người trở lên; (4) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 18 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194)

 Theo quy định tại khoản 6 Điều 194 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh mà không cần căn cứ vào trị giá, số lượng hay thiệt hại cụ thể của hàng giả.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 6 Điều 194 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) tái phạm nguy hiểm; (4) Buôn bán qua biên giới; (5) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (6) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (7) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; (8) gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 6 Điều 194 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 02 tỷ đồng; (3) làm chết người; (4) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; (5) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; (6) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm d khoản 6        Điều 194 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) thu lợi bất chính 02 tỷ đồng trở lên; (2) làm chết 02 người trở lên; (3) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên; (4) gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 20 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 năm đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi (Điều 195)

Theo quy định tại khoản 6 Điều 195 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi thuộc một trong các trường hợp (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (2) gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (3) thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 6  Điều 195 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) có tính chất chuyên nghiệp; (3) tái phạm nguy hiểm; (4) buôn bán qua biên giới; (5) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; (6) gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (7) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 6 Điều 195 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên; (2) gây thiệt hại về tài sản từ 1,5 tỷ đồng đến dưới 03 tỷ đồng; (3) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 02 tỷ đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm d khoản 4 Điều 195 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) gây thiệt hại về tài sản 03 tỷ đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính 02 tỷ đồng trở lên.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 1 tỷ đồng, cao nhất có thể lên đến 15 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 79 của BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Tội đầu cơ (Điều 196)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 196 thì pháp nhân thương mại bị xử lý hình sự khi thực hiện hành vi lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế mua vét hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá hoặc thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá nhằm bán lại để thu lợi bất chính thuộc một trong các trường hợp (1) hàng hoá trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng; (2) thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm b khoản 5       Điều 196 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) phạm tội có tổ chức; (2) hàng hóa trị giá từ 1,5 tỷ đồng đến dưới 03 tỷ đồng; (3) thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng; (4) gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Pháp nhân có thể bị áp dụng khung tăng nặng TNHS tại điểm c khoản 5 Điều 196 nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (1) hàng hóa trị giá 03 tỷ đồng trở lên; (2) thu lợi bất chính 01 tỷ đồng trở lên; (3) tái phạm nguy hiểm.
Về hình phạt: căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội mà hình phạt chính đối với pháp nhân trong tội này có thể được áp dụng là hình phạt tiền với mức thấp nhất không dưới 300 triệu đồng, cao nhất có thể lên đến 09 tỷ đồng. Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng (nếu hình phạt chính không phải là hình phạt tiền); cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
(Còn nữa)
TS. NGUYỄN CHÍ CÔNG – CN. HOÀNG THỊ SONG MAI (Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC)
Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).


[1] Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).
[2] Nội dung quy định thể hiện tập trung tại Chương XI, gồm 16 điều (từ Điều 74 đến Điều 89) và một số điều khoản của thể khác của Bộ luật (các điều 2, 3, 8, 9, 33, 46 và 33 điều về các tội phạm cụ thể, gồm: Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ); Điều 209 (tội cố ý công bốthông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã); Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản); Điều 243 (tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại), Điều 300 (tội tài trợ khủng bố) và Điều 324 (tội rửa tiền)).
[3] Xem chú thích số 2, trang 1.

Về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi cho vay nặng lãi hiện nay đang có xu hướng lan rộng ở cả thành thị và nông thôn; tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tội phạm khác như: cố ý gây thương thương tích, cướp tài sản hoặc cưỡng đoạt tài sản… Việc xử lý hình sự đối với tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là hết sức cần thiết và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Tóm tắt nội dung vụ án:
Trong thời gian từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018 Nguyễn Văn B đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết về pháp luật và hoàn cảnh khó khăn của người dân, nên Nguyễn Văn B  đã làm các tờ rơi quản cáo có nội dung cho vay nhanh, gọn; không cần thế chấp; giải ngân trong ngày, Nguyễn Văn B đã cho 53 người với 119 lượt vay tại các huyện  trong tỉnh QN, tổng số tiền 524.000.000 đồng, đến lúc bị bắt Nguyễn Văn B đã thu được 463.470.000 đồng. Trong đó: tiền gốc là 355.385.240 đồng, tiền lãi là 108.084.760 đồng, lãi suất thấp nhất là 319%/năm, cao nhất là 473%/năm cao hơn so với quy định trong Bộ luật dân sự từ 16,45 đến 23,65 lần (trong đó lãi xuất 20% theo Bộ luật dân sự là 6.572.603 đồng, lãi suất vượt trên 20% là 101.512.157 đồng) và 25.050.000 đồng tiền công thu thêm.
Trong quá trình truy tố và xét xử, các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thống nhất về tội danh Nguyễn Văn B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự 2015; Tuy nhiên trong việc áp dụng các biện pháp tư pháp vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến xác định tư cách của người vay (bên nhận nợ) là người Bị hại được quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Quan điểm thứ nhất: Người vay (bên nhận nợ) là người Bị hại được quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 do đó trong quá trình xét xử phải tuyên trả lại người vay đối với tiền lãi vay 108.084.760 đồng và tiền thu thêm (phụ thu) 25.050.000 đồng vì đây là thiệt hại của người vay theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đối với tiền cho vay 524.000.000 đồng : Đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên phải tuyên sung công quỹ nhà nước.
Quan điểm thứ hai: Người vay (bên nhận nợ) là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 do đó số tiền thu lợi bất chính là 101.512.157 đồng mà Nguyễn Văn B đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” (108.084.760 đồng – 6.572.603 đồng) phải bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đối với khoản lãi được pháp luật cho phép (20%/năm) là 6.572.603 đồng và số tiền cho vay 524.000.000 đồng là giao dịch dân sự mà nhà nước không cấm nên các bên tự thỏa thuận.
Quan điểm thứ ba: Người vay (bên nhận nợ) là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và xác định hợp đồng vay mượn này là giao dịch dân sự vô hiệu vì vi phạm điều cấm của pháp luật nên áp dụng Điều 123, 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, các bên “hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” tức là bên cho vay hoàn trả toàn bộ khoản lãi vay 108.084.760 đồng và khoản thu thêm 25.050.000 đồng cho bên vay và bên vay trả lại toàn bộ gốc cho bên cho vay là 524.000.000 đồng.
Tác giả bài viết cho rằng, quan điểm thứ hai là đúng, vì:
Tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là loại tội phạm nằm trong chương xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; giao dịch dân sự vay và cho vay tài sản  nhà nước không cấm và được quy định từ Điều 463 đến Điều 471 Chương “ Hợp đồng vay tài sản” của Bộ luật Dân sự năm 2015, lãi suất quy định tại Điều 468 cao nhất không được vượt quá 20%/ năm; như vậy nhà nước chỉ điều chỉnh khoản lãi xuất vượt trên 20% và chỉ bị điều chỉnh bởi pháp luật hình sự khoản lãi vay gấp 5 lần mức cao nhất do Bộ luật Dân sự quy định;
Do đó Số tiền thu lãi vượt quy định  101.512.157 đồng ( số lãi suất trên 20%)  và số tiền thu thêm là 25.050.000 đồng (tiền thu ngoài lãi xuất) là tiền thu lợi bất chính nên phải bị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; bởi vì Bên vay chấp nhận lãi suất mà Nguyễn Văn B đã đưa ra tuy không bị ép buộc nhưng so với quy định của pháp luật là trái pháp luật hình sự,  bên đi vay cũng có lỗi. Căn cứ điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 phải bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền gốc  524.000.000 đồng ( tiền cho vay)  và lãi vay trong khoảng 20% theo quy định của Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là giao dịch dân sự các bên tự thỏa thuận vì không vi phạm điều cấm của pháp luật./.
Phân biệt “hành vi quan hệ tình dục khác” với “hành vi dâm ô”

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 có quy định khái niệm: “hành vi quan hệ tình dục khác” . Đây là khái niệm không mới nhưng khi Bộ luật Hình sự đã quy định thành hành vi khách quan của tội phạm thì việc hiểu và áp dụng thống nhất là một việc vô cùng quan trọng.
Bộ luật Hình sự 2015 có quy định khái niệm: “hành vi quan hệ tình dục khác” cũng là hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm hoặc thực hiện “hành vi quan hệ tình dục khác” đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Còn hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thì điều văn của điều luật chỉ quy định “người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác”, mà không mô tả thế nào là hành vi dâm ô. Cũng chính vì vậy mà trong thời gian qua có một số vụ “sàm sỡ” với các em dưới 16 tuổi, dư luận bức xúc nhưng Cơ quan điều tra thì lại rất lúng túng, vì điều luật quy định không rõ, lại chưa có hướng dẫn của các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương.
Đây là khái niệm không mới nhưng khi Bộ luật Hình sự đã quy định thành hành vi khách quan của tội phạm thì việc hiểu và áp dụng thống nhất là một việc vô cùng quan trọng.
Nếu trước đây, đối với các tội xâm phạm nhân phẩm của con người thì hành vi “giao cấu” đã được định nghĩa là:“Giao tiếp bộ phận sinh dục ngoài của giống đực với bộ phân sinh dục của giống cái, ở động vật” và được hướng dẫn Bản tổng kết số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao về đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về tình dục và Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT- TANDTC-VKSNDTC- BVN ngày 2/1/1998 của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an ) hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, sau khi Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 chưa có Cơ quan nào hướng dẫn “thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác”. Vì vậy, việc nhận thức trong các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng mỗi nơi một khác. Điển hình là vụ Nguyễn Trọng Trình xâm phạm cháu V.N.Q ở Chương Mỹ, Hà Nội, Cơ quan điều tra chỉ khởi tố về tội “dâm ô người dưới 16 tuổi” và cho Nguyễn Trọng Trình được tại ngoại đã gây xôn xao dư luận. Chỉ sau khi dư luận, báo chí lên tiếng, thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội mới rút hồ sơ lên để xem xét và ra lệnh bắt tạm giam đối tượng Nguyễn Trọng Trình.
Việc bổ sung “hành vi quan hệ tình dục khác” vào các tội hiếp dâm, cưỡng dâm, được giải thích là do yêu cầu đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này trong tình hình hiện nay. Do đó, việc cần làm rõ khái niệm thế nào là “quan hệ tình dục khác” không chỉ có ý nghĩa về lý luận mà còn ý nghĩa về thực tiễn.
Trước hết cần khẳng định rằng, hành vi “quan hệ tình dục khác” không phải là hành vi giao cấu, vì chỉ coi là giao cấu “là việc giao tiếp bộ phận sinh dục ngoài của giống đực với bộ phận sinh dục của giống cái, ở động vật” , còn tại Bản tổng kết năm 1967 của Tòa án nhân dân tối cao về tình trạng tội phạm hiếp dâm thì “giao cấu là hành động chỉ cần có sự cọ sát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức ấn vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không là tội Hiếp dâm được coi là hoàn thành, vì khi đó nhân phẩm danh dự của người phụ nữ đã bị chà đạp”.
Tuy nhiên, khi nhà làm luật đưa hành vi “quan hệ tình dục khác” mà trước đây chỉ coi là dâm ôthành hành vi phạm tội hiếp dâm, cưỡng dâm… thì không thể không phân biệt với hành vi dâm ô được quy định tại Điều 146 Bộ luật Hình sự 2015.
Như vậy, nếu không có sự “giao tiếp” (cọ sát) giữa dương vật với bộ phận sinh dục của người phụ nữ như: quan hệ bằng miệng, bằng hậu môn hoặc các bộ phận khác trên cơ thể của nạn nhân thì không phải là giao cấu, mà là hành vi “quan hệ tình dục khác”. Có lẽ cũng chỉ nên giới hạn hành vi “quan hệ tình dục khác” là hành vi quan hệ bằng miệng, bằng hậu môn, còn dùng dương vật “cọ sát” lên các bộ phận khác không nên coi đó là hành vi “quan hệ tình dục khác”, mà chỉ nên coi đó là hành vi dâm ô.
Còn hành vi dâm ô là hành vi dùng mọi thủ đoạn nhằm thỏa mãn dục vọng của mình nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân như: sờ đùi, sờ mông, sờ ngực, sờ bộ phận sinh dục mà không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện hành vi quan hệ tình dục qua đường hậu môn, qua đường miệng.
Việc xác định khái niệm “hành vi quan hệ tình dục khác” như nêu trên để phân biệt với hành vi dâm ô là có thể chấp nhận được, không nên mở rộng hơn nhưng nữa. Do đó, phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và nhất thiết phải xác định được mục đích là thỏa mãn dục vọng. Chỉ khi nào xác định được ý thức chủ quan của người có hành vi dâm ô thì mới xác định chính xác đó là hành vi quan hệ tình dục khác hay chỉ là hành vi dâm ô.
Còn hành vi dâm ô có thể được xác định đó là những hành vi không phải là hành vi quan hệ tình dục khác nhằm thoả mãn khoái lạc tình dục. Chúng ta có thể liệt kê được một số trường hợp như: dùng tay sờ mó hoặc kích thích bộ phận sinh dục, dùng dương vật cọ sát vào những chỗ khác trong thân thể người phụ nữ ngoài bộ phận sinh dục hoặc chỉ quệt bên ngoài bộ phận sinh dục không có ý định ấn vào trong , có khi chỉ ấn dương vật vào mông, vào ngực thậm chí là vào đùi để cho xuất tinh; bắt nạn nhân sờ mó bộ phận sinh dục của mình cho đến khi xuất tinh. v.v…
Vừa qua, Hội đồng Thẩm phán đã đưa ra một bản dự thảo hướng dẫn các tội “xâm phạm tình dục, trong đó có tội dâm ô, đồng thời tổ chức hội thảo để lấy ý kiến của các ngành, các chuyên gia về dự thảo Nghị quyết này. Có nhiều ý kiến khác nhau về hành vi quan hệ tình dục khác và hành vi dâm ô. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, dự thảo Nghị quyết hướng dẫn hành vi sờ vào đầu cũng coi là vùng nhạy cảm là không phù hợp với cuộc sống. Có lẽ ta cũng nên tham khảo quy định của các nước về hành vi dâm ô, trong đó có Mỹ để khi Hội đồng Thẩm phán ban hành một Nghị quyết vừa đáp ứng yêu cầu của tình hình xâm phạm tình dục đối với người dưới 16 tuổi hiện nay, không vì áp lực của dư luận mà hướng dẫn không sát với cuộc sống.
Một vấn đề đặt ra, đó là chủ thể của hành vi dâm ô có bao gồm phụ nữ không? Từ trước đến nay khi nói đến dâm ô là mọi người chỉ nghĩ đến hành vi của nam đối với nữ, chứ không ai nghĩ nữ đối với nam. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay nhất là văn hoá phương Tây du nhập vào nước ta, đồng thời trên mạng xã hội có không ít trường hợp phụ nữ mới chính là thủ phạm của hành vi dâm ô đối với các em dưới 16 tuổi. Có nhiều phụ nữ để thoả mãn dục vọng đã dụ dỗ, mua chuộc các em nam dưới 16 tuổi để làm tình với mình nhằm thoả mãn dục vọng nhưng, có trường hợp giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác, nhưng cũng không ít trường hợp không có ý định giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác với các em trai này. Trong khi đó điều văn của điều luật chỉ quy định “người nào đủ 18 tuổi trở lên…” chứ không quy định “người nào có giới tính nam đủ 18 tuổi trở lên…” hay “người đàn ông nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dam ô với người phụ nữ dưới 16 tuổi”. Đây là vấn đề cần đặt ra khi xác định chủ thể của tội dâm ô với người dưới 16 tuổi trong tình hình hiện nay.
Như vậy, khái niệm về hành vi dâm ô được hướng dẫn trong Bản tổng kết số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao và Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT- TANDTC-VKSNDTC- BVN ngày 2/1/1998 của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Nội vụ không còn phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự 2015 nữa, nên cần phải hướng dẫn lại. Mặc dù, theo quy định khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội thì Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm hướng dẫn. Tuy nhiên, để việc nhận thức và áp dụng thống nhất trong các cơ quan tiến hành tố tụng thì Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Tư pháp nên ban hành một Thông tư liên tịch hướng dẫn “thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác” và hành vi dâm ô quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146 và 147 Bộ luật Hình sự 2015.

ĐINH VĂN QUẾ (Nguyên Chánh tòa Hình sự TANDTC)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Nhận diện tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 178 BLHS 2015

Tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản là hai tội danh độc lập nhưng được quy định chung trong một điều luật là Điều 178 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) do có những đặc điểm tương đồng nhau. Cũng chính vì như vậy, mà hiện nay trong nhiều vụ án vẫn còn quan điểm khác nhau giữa tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Hành vi hủy hoại tài sản có thể hiểu là hành vi làm cho tài sản của người khác bị thiệt hại đến mức làm mất hẳn giá trị hoặc mất hẳn công năng, giá trị sử dụng hoặc bị tiêu hủy hoàn toàn. Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm tài sản của người khác bị mất một phần hoặc giảm giá trị hoặc giảm giá trị sử dụng nhưng ở mức độ có thể khôi phục, sửa chữa lại được. Khi phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản, thường phải căn cứ vào một số dấu hiện sau:
Thứ nhất, về mục đích của người thực hiện hành vi. Đây có thể xem là căn cứ quan trọng nhất. Nếu quá trình điều tra, truy tố, xét xử làm rõ được mục đích của người thực hiện hảnh vi phạm tội là làm cho tài sản bị hư hỏng, tiêu hủy hoàn toàn hoặc làm cho tài sản không còn giá trị hoặc mất giá trị sử dụng thì phạm tội hủy hoại tài sản. Còn nếu mục đích của người phạm tội là chỉ muốn làm hư hỏng một phần nào đó của tài sản hoặc làm cho tài sản đó bị mất một phần hoặc giảm giá trị hoặc giảm giá trị sử dụng nhưng thực tế tài sản đó có thể khôi phục, sửa chữa lại được thì phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc làm rõ mục đích của người phạm tội đôi khi gặp khó khăn, có thể mục đích của họ ban đầu là muốn hủy hoại tài sản nhưng họ lại khai là chỉ muốn làm hư hỏng một phần tài sản hoặc ngược lại. Điều này đòi hỏi người tiến hành tố tụng cần nhận định, đánh giá hết sức thận trọng và khách quan. Vì nếu không xác định và không chứng minh được mục đích của người phạm tội thì có thể xác định tội danh không chính xác.
Thứ hai, xác định thiệt hại thực tế của tài sản bị xâm hại là như thế nào. Nếu hành vi của người phạm tội làm cho tài sản bị hư hỏng toàn bộ hoặc không còn sử dụng được… thì hành vi đó phạm tội hủy hoại tài sản mà không phải là tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Nếu hành vi của người phạm tội rõ rảng chỉ làm hư hỏng một phần của tài sản hoặc làm giảm một phần giá trị tài sản thì hành vi đó phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng, có những trường hợp mục đích của người phạm tội là muốn hủy hoại tài sản nhưng vì lý do nào đó tài sản chỉ bị hư hỏng một phần thì hành vi đó phải là hành vi hủy hoại tài sản. Ví dụ: Một người dùng xăng đốt nhà của người khác nhưng do phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên căn căn nhà chỉ bị chấy một phần nhỏ. Tuy nhiên phải xác định hành vi này là hủy hoại tài sản.
Thứ ba, tài sản mà người phạm tội muốn gây thiệt hại là gì. Thực tiễn hiện nay, khi phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản, điều khó khăn nhất là tài sản bị thiệt hại là vật đồng bộ. Theo Điều 114 BLDS năm 2015 thì “Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.”. Tuy nhiên, đối với tài sản là vật đồng bộ như xe máy, xe ô tô… thì thông thường người phạm tội chỉ gây thiệt hại cho một bộ phận của chiếc xe như gương chiếu hậu, kính chắn gió… mà không nhằm vào toàn bộ chiếc xe thì hành vi này phạm tội hủy hoại tài sản hay cố ý làm hư hỏng tài sản.
Điển hình như vụ án như sau: “Do mâu thuẫn va chạm trên đường, nên Nguyễn Văn A đã chạy theo sau xe ô tô của anh T. Khi anh T đậu xe cặp lề đường đi vào một cửa hàng thì A chạy tới dùng một đoạn sắt mang theo đạp bể toàn bộ kính của hai gương chiếu xe ô tô anh T. Kết quả giám định, giá trị thiệt hại tài sản là 2.500.000 đồng”. Có quan điểm cho rằng, hành vi của A là hủy hoại tài sản, vì đối tượng tài sản là A nhắm vào là kính của gương chiếu hậu. Do hai tấm kính bị bể toàn bộ nên A phạm tội hủy hoại tài sản. Nhưng cũng có quan điểm cho rằng xe ô tô là vật đồng bộ. Gương chiếu hậu là một phần của chiếc xe ô tô. Nếu gương chiếu hậu bị bể thì xe vẫn có thể chạy và lưu thông trên đường được trong một điều kiện nhất định nào đó. Vì vậy, A chỉ phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Về mặt lý luận, có thể phân biệt tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo những tiêu chí nêu trên. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay vẫn còn tranh luận và chưa thống nhất về xác định tội danh đối với hành vi gây thiệt hại đối với tài sản là vật đồng bộ do chưa có hướng dẫn hoặc quy định một cách rõ ràng. Vì vậy, rất mong Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn hoặc giải đáp cụ thể hơn về vấn đề nay để việc hiểu và áp dụng pháp luật cho thống nhất trong thực tiễn.

DƯƠNG TẤN THANH (TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh)

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Cần thống nhất cách hiểu thời điểm xác định “người dưới 18 tuổi bị kết án” theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự 2015
Thực tế có nhiều vụ án có những cách hiểu khác nhau về cách tính thời điểm “người dưới 18 tuổi bị kết án”; dẫn đến áp dụng quan điểm giải quyết khác nhau khi tính toán để xác định bị cáo có tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay không khi phạm tội mới.
Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 về xóa án tíchquy định:
“1. Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này.
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.”.
Điều luật có quy định cụm từ người dưới 18 tuổi bị kết án, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án hay người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án, vậy cần xác định  tuổi (dưới 18 tuổi, đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) vào thời điểm nào khi xét xử bị kết án hay thời điểm khi người đó phạm tội? Trong thực tế, có một số vụ án do hiểu quy định này khác nhau nên áp dụng quan điểm giải quyết khác nhau khi tính toán để xác định tái phạm hay tái phạm nguy hiểm, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất:
Thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi theo Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 là vào thời điểm người đó bị kết án, tức là vào thời điểm bị xét xử, vì:
Theo cấu trúc từ ngữ trong câu tại Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rõ: “Người dưới 18 tuổi bị kết án” ở đây quy định là kết án chứ không phải là phạm tội khác với các quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 nêu rõ “người dưới 18 tuổi phạm tội”. Kết án nói lên một trình tự thủ tục tố tụng, còn phạm tội là thời điểm thực hiện  hành vi trái pháp luật, bị xử lý theo Bộ luật Hình sự.
Trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều từ ngữ ở các điều luật xác định thời điểm tính tuổi người dưới 18 tuổi khác nhau. Độ tuổi theo từ, ngữ quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 là tính thời điểm phạm tội, còn độ tuổi theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 là tính đến thời điểm người bị kết án.
Mặt khác, tại Khoản 7 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”. Quy định này bao hàm cả quy định tại điểm a khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 vì: “không tính để xác định tái phạm”, “đương nhiên xóa án tích”, “coi như không có án tích” đều có thể hiểu giống nhau.
Như vậy, chỉ khi bị kết án mà người đó dưới 18 tuổi mới được hưởng các quy định theo Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015; Quy định tại Điều 107 này không áp dụng đối với trường hợp người khi phạm tội dưới 18 tuổi nhưng khi bị kết án đã trên 18 tuổi (người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng các quy định tại Điều 91). Quy định này chỉ nhằm xem xét giảm nhẹ tội đối với người khi bị kết án là người dưới 18 tuổi.
Quan điểm thứ hai:
Thời điểm xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là  vào thời điểm phạm tội  bởi vì:
Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì “người chưa thành niên phạm tội” tức vào thời điểm phạm tội chưa thành niên, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “người  dưới 18 tuổi bị kết án” tuy không nêu rõ thời điểm xác định độ tuổi dưới dưới 18 là vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội hay thời điểm bị kết án, nhưng theo hướng có lợi cho người phạm tội, đồng thời để đảm bảo sự công bằng trong xử lý thì cần coi thời điểm để xác định độ tuổi dưới 18 là vào thời điểm người đó thực hiện hành vi phạm tội (ngày phạm tội), khi kết án họ cần được hưởng các quy định nhân đạo của Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quan điểm thứ hai này cũng đồng thời là quan điểm của tác giả bài viết, bởi:
Người dưới 18 tuổi khi phạm tội có những hạn chế về nhận thức, về mặt tâm sinh lý cũng chưa phát triển hoàn thiện ổn định;, họ phải chịu trách nhiệm theo pháp luật về hành vi phạm tội của mình nhưng cũng cần có những quy định khác với người đã thành niên phạm tội để họ có thể dễ dàng hòa nhập với cộng đồng sau khi chấp hành xong bản án về hành vi họ gây ra khi dưới 18 tuổi.
Với từ ngữ dùng trong quy định Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 thể hiện dưới 18 tuổi tính  đến thời điểm người đó bị kết án; như vậy phải đến thời điểm bị kết án mà chưa 18 tuổi mới được hưởng quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015, thì pháp luật được áp dụng hay không sẽ phụ thuộc vào các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh hay chậm vụ án, phụ thuộc vào các yếu tố khách quan, chủ quan khác,  từ đó tạo nên sự không công bằng, thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Đồng thời, khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (ngắn hơn người đã thành niên). Nếu là hiểu chỉ khi bị kết án dưới 18 tuổi mới được hưởng quy định này, thì người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi ở thời điểm phạm tội không được hưởng chính sách gì về xóa án tích (như vậy sẽ bất lợi so với quy định đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, chưa đúng với chủ trương, đường lối của Bộ luật Hình sự năm 2015 là sửa đổi quy định có lợi hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với người chưa thành niên phạm tội).
Thiết nghĩ, trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, hướng dẫn thống nhất cách hiểu để áp dụng phù hợp; đồng thời sửa đổi từ, ngữ dùng trong Điều 107 Bộ luật Hình sự thay cụm từ “người dưới 18 tuổi bị kết án” bằng “người dưới 18 tuổi phạm tội” đảm bảo thực hiện quy định của pháp luật được rõ ràng, cụ thể.
Nguồn: Tạp chí Kiểm sát
Vướng mắc về áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc xem xét, đánh giá và áp dụng đúng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa rất quan trọng; tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng còn ó những điểm chưa được hiểu và áp dụng thống nhất, trong đó có tình tiết quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

So với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 thì quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 có điểm mới, đó là thay đấy phẩy (,) bằng chữ “hoặc” sau cụm từ bồi thường thiệt hại. Điều này có ý nghĩa là BLHS năm 2015 đã có sự phân biệt rõ ràng hơn so với quy định của BLHS năm 1999 trước đây. Tùy thuộc vào hành vi phạm tội mà người phạm tội “tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại” hoặc người phạm tội “khắc phục hậu quả” là đã áp dụng được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS năm 2015. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc hiểu và áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” còn khác nhau, chưa thống nhất do còn nhận thức khác nhau như sau:
1. Người phạm tội phải bồi thường thiệt hại bao nhiêu mới được xem là “tự nguyện bồi thường thiệt hại”?
Trong rất nhiều vụ án hình sự, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, việc bồi thường thiệt hại của người phạm tội trong từng vụ án là khác nhau. Có trường hợp người phạm tội bồi thường thiệt hại không đáng kể, có trường hợp người phạm tội bồi thường gần một nửa hoặc nhiều hơn…Số tiền bồi thường thiệt hại cũng khác nhau, chẳng hạn có trường hợp người phạm tội bồi thường 100% thiệt hại với số tiền 2.100.000 đồng nhưng có trường hợp người phạm tội bồi thường 10% thiệt hại nhưng với số tiền 100.000.000 đồng. Vậy người phạm tội phải bồi thường thiệt hại bao nhiêu mới được áp dụng tình tiết “người tự nguyện bồi thường thiệt hại”.
Có quan điểm cho rằng, chỉ cần người phạm tội có thiện chí và tự nguyện bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” mà không cần phân biệt người phạm tội bồi thường bao nhiêu. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng nếu người phạm tội chỉ bồi thường thiệt hại với số tiền không đáng kể so với thiệt hại gây ra như 10 – 20% thiệt hại thì không thể coi là đã tự nguyện bồi thường thiệt hại. Do đó, cần có một quy định cụ thể về tỷ lệ phần trăm mức bồi thường thiệt hại mà người phạm tội đã thực tế bồi thường. Tỷ lệ bồi thường này có thể ít nhất là từ 50% thiệt hại trở lên.
Quan điểm này xuất phát từ việc nghiên cứu áp dụng tương tự giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao về tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự tại mục 1 phần I  Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019. Theo đó, tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được giải đáp như sau: “Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự thì không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nếu sau khi bị kết án đã nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Tuy nhiên, đối với trường hợp bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn hoặc tù chung thân là loại hình phạt nhẹ hơn so với hình phạt tử hình, nên “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đã bồi thường được ít nhất một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp, người bị kết án bồi thường được ít hơn một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng có văn bản miễn giảm một phần nghĩa vụ dân sự hoặc có thỏa thuận khác của phía bị hại (có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) thể hiện người bị kết án đã bồi thường được một phần hai nghĩa vụ dân sự thì cũng được coi là “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự”.
2. Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng hành vi này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” không?
Ngày 05/7/2018, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà B trị giá 2.500.000 đồng. Quá trình điều tra, A khai nhận trước đó khoảng 01 tháng, A cũng thực hiện hành vi trộm tiền của bà B là 1.200.000 đồng. Sau đó,cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại tài sản bị trộm ngày 05/7/2018 cho bị hại. A cũng tự nguyện trả lại số tiền trộm cho bà B là 1.200.000 đồng. Theo quy định, hành vi trộm tiền của Nguyễn Văn A không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Có ý kiến cho rằng hành vi trộm số tiền 1.200.000 đồng của A mặc dù không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cũng được xem xét giải quyết trong cùng vụ án hình sự cho nên việc A đã tự nguyện trả lại cho bà B số tiền 1.200.000 đồng là khắc phục hậu quả do hành vi của A gây ra nên phải áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” đối với A. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng hành vi trộm tiền của A không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên không thể áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” đối với A; vì hậu quả cần khắc phục phải do hành vi phạm tội gây ra.
3. Cha mẹ của người phạm tội từ 15 đến dưới 18 tuổi tự nguyện bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì có được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” không?
A là người chưa thành niên (17 tuổi) thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động của anh B trị giá 12.000.000 đồng. Sau đó, A đem đến tiệm cầm đồ bán cho anh C chiếc điện thoại vừa trộm được 7.000.000 đồng. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ chiếc điện thoại và trả lại cho anh B. Cha mẹ của A cũng tự nguyện trả lại cho anh C số tiền A mua điện thoại là 7.000.000 đồng. Vậy việc cha mẹ của A tự nguyện trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh C số tiền 7.000.000 đồng thì có được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” không?
Có ý kiến cho rằng việc cha mẹ của A trả lại cho anh C số tiền 7.00.000 đồng là khắc phục hậu quả từ hành vi phạm tội của A gây ra. Cho nên cần áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường hiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” đối với A. Vì trước đây tại điểm b tiểu mục 1.1 Mục 1 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC có hướng dẫn: “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: b. Bị cáo là người từ đủ 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội và cha, mẹ của họ đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nếu bị cáo không có tài sản”.
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng hành vi phạm tội của A là trộm cắp chiếc điện thoại di động. Còn việc A đem chiếc điện thoại vừa trộm được đi bán cho anh C là giao dịch dân sự giữa A và anh C. Do đây là giao dịch không hợp pháp nên về nguyên tắc A phải chịu trách nhiệm hoàn trả lại tiền cho anh C nhưng vì A chưa thành niên và không có tài sản riêng nên đương nhiên cha mẹ của A sẽ có trách nhiệm hoàn trả lại tiền cho anh C. Mặc khác, thiệt hại hoặc hậu quả trong vụ án hình sự là phải do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra. Và người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây phải là bị hại (người bị thiệt hại là cá nhân), nguyên đơn dân sự (người bị thiệt hại là cơ quan, quan tố chức) hoặc người đại diện hợp pháp của họ mà không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Cho nên việc cha mẹ của A trả lại tiền 7.000.000 đồng cho anh C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì không được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”.
4. Trường hợp bị cáo là người từ 14 tuổi đến dưới 15 tuổi phạm tội trong thời gian trường học, bện viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý nhưng không còn cha mẹ, nếu người khác tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì có được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” không?
Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, không phải trường hợp nào bị cáo chưa thành niên cũng còn đầy đủ cha mẹ hoặc không phải trường hợp nào cha mẹ của bị cáo chưa thành niên cũng là người tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Hiện nay điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 chưa có hướng dẫn cụ thể nhưng trước đây tại điểm a tiểu mục 1.1 Mục 1 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC có hướng dẫn như sau:“người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a. Bị cáo là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi khi phạm tội và cha, mẹ của họ đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra”. Theo hướng dẫn này thì chỉ trường hợp cha mẹ của bị cáo là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi khi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì mới được áp dụng tình tiết“người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” tại điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999.
Tuy nhiên, hiện nay theo quy định tại điều 599 BLDS năm 2015 về bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý như sau: “1. Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra; 2. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra; 3. Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗitrong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường”.
Theo quan điểm tác giả trường hợp bị cáo là người từ 14 tuổi đến dưới 15 tuổi phạm tội trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý nhưng không còn cha mẹ, nếu người khác như nhà trường, bệnh viện, pháp nhân, người giám hộ của bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì phải được áp dụng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” đối với bị cáo.
Từ những vướng mắc nêu trên, có thể thấy rằng, để tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 được hiểu và áp dụng thống nhất trong thực tiễn cần có giải đáp hoặc hướng dẫn cụ thể hơn.
Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệmđang đề cập được định nghĩa như sau: pháp nhân thương mại phạm tội là pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến khách thể được Bộ luật Hình sự ghi nhận, bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

1. Khái quát quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018. BLHS năm 2015 đã thể hiện bước phát triển quan trọng trong chính sách hình sự của Nhà nước, đánh dấu nhiều điểm tiến bộ thể hiện trong tư duy lập pháp hình sự . Đáng chú ý, một trong những điểm mới đột phá của BLHS năm 2015 là đã bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân thương mại (pháp nhân thương mại) (các Điều 2, 3, 6, 8, 9, 33, 74-89 và 33 tội danh của Phần các tội phạm BLHS).
Như vậy, pháp nhân thương mại chỉ chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm này trong trường hợp được thực hiện nhân danh và vì lợi ích, dưới sự điều hành, chấp thuận của chính pháp nhân thương mại đó. Điều này thể hiện quan điểm hoàn toàn đổi mới của các nhà lập pháp Việt Nam về chủ thểcủa tội phạm và đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong việc tập trung xử lý những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, tài trợ khủng bố và rửa tiền, đồng thời,tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyềnlợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra , cũng như trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế khi Việt Nam tham gia nhiều Công ước quốc tế về phòng, chống tội phạm như: Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, Công ước chống tham nhũngnăm 2003 của Liên Hợp quốc…

1.1. Khái niệm, cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Điều 75 Bộ luật Dân sự 2015 quan niệm pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Cùng với đó, Điều 8 BLHS năm 2015 quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Do đó, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm đang đề cập được định nghĩa như sau: pháp nhân thương mại phạm tội là pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến khách thể được BLHS ghi nhận, bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Trên cơ sở này, khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015 đã quy định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam, quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với pháp nhân thương mại đã được ghi nhận, đồng thời đây chính là “tuyên bố” mang tính nền tảng, tiền đề để các nhà làm luật quy định những vấn đề khác trong nội dung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân của BLHS năm 2015. Nhấn mạnh hơn, về vấn đề này, rõ ràng “hành vi, lỗi của người lãnh đạo, chỉ huy, người đại diện cũng được coi là hành vi, lỗi của pháp nhân. Như vậy, lý thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm được các nhà lập pháp Việt Nam quy định là cơ sở quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại” .

1.2. Nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Khoản 2 Điều 3 BLHS năm 2015 quy định năm nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội bên cạnh xử lý đối với người phạm tội như sau:
– Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
– Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;
– Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
– Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.
Ngoài ra, cần lưu ý, kể cả pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 2015 trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên (Điều 6 BLHS 2015).

1.3. Hình phạt và những quy định áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Lần đầu tiên trong BLHS năm 2015 đã quy định về hệ thống hình phạt và một chương độc lập – Chương XI “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” để áp dụng đối với đối tượng là pháp nhân thương mại phạm tội.
Về hình phạt, BLHS năm 2015 quy định hai loại là hình phạt chính và hình phạt bổ sung áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội như sau:
– Hình phạt chính bao gồm: (1) Phạt tiền; (2) Đình chỉ hoạt động có thời hạn; (3) Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (khoản 1 Điều 33).
– Hình phạt bổ sung bao gồm: (1) Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; (2) Cấm huy động vốn; (3) Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính (khoản 2 Điều 33).
Ngoài ra, Chương XI “Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội” đã quy định đầy đủ về điều kiện, phạm vi chịu TNHS; nội dung cụ thể về các hình phạt và biện pháp tư pháp cụ thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; việc quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn hình phạt và xóa án tích đối với pháp nhân thương mại bị kết án (các điều 74-89). Đây là những căn cứ quan trọng để cùng với đó, tại Phần các tội phạm BLHS có quy định 33 tội danh cụ thể mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự , qua đó, bảo đảm tính hệ thống trong toàn bộ Phần những quy định chung và Phần các tội phạm của BLHS năm 2015.
Như vậy, có thể khẳng định, những quy định này không chỉ bảo đảm sự thống nhất chung của hệ thống pháp luật nước ta, mà còn nhằm thực thi các cam kết, nghĩa vụ của nước ta trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, qua đó, bảo đảm công bằng, minh bạch, bình đẳng giữa pháp nhân thương mại Việt Nam ở nước ngoài và pháp nhân thương mại nước ngoài tại nước ta.

2. Khái quát quy định về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Cùng với việc ban hành BLHS năm 2015 với tư cách là luật nội dung, Bộ luật Tố tụng hình sự(BLTTHS) năm 2015 với tư cách là luật hình thức cũng đã quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự (TTHS), trong đó có quy định về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân (nhưng không ghi rõ là pháp nhân thương mại – TG).
Do đó, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân (ở đây được hiểu là pháp nhân thương mại) là một vấn đề hoàn toàn mới được đặt ra, đặc biệt là vấn đề thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này nhằm đáp ứng kịp thời với những thay đổi của BLHS năm 2015 . Ở đây, quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong BLHS làm tiền đề để quy định thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân trong BLTTHS. Vì vậy, quá trình giải quyết vụ án hình sự cần làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội, đồng thời làm sáng tỏ các tình tiết, hành vi phạm tội của cá nhân hoặc pháp nhân (nếu có), trường hợp pháp nhân ra quyết định hoặc chỉ đạo cá nhân thực hiện hành vi phạm tội thì cần xử lý hình sự cả cá nhân và pháp nhân về tội mà họ đã thực hiện để giải quyết, xử lý tội phạm toàn diện, minh bạch, công minh, đúng pháp luật…

2.1. Khái niệm thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Lần đầu tiên, BLTTHS năm 2015 đã quy định bị can, bị cáo là người hoặc pháp nhân. Theo đó, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này (khoản 1 Điều 60). Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này (khoản 1 Điều 61).
Ngoài ra, điểm mới quan trọng và lớn nhất được quy định trong BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 là các nhà lập pháp đã xây dựng một chương riêng là Chương XXIX “Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân” (các Điều 431-446) với nhiều quy định về thủ tục, việc tham gia tố tụng, biện pháp cưỡng chế, những vấn đề cần phải chứng minh, cũng như trình tự điều tra, truy tố, xét xử… đối với đối tượng này. Trong đó, phạm vi áp dụng được xác định tại Điều 431 Bộ luật này, có nghĩa thủ tục tố tụng được tiến hành theo quy định tại Chương XXIX và những quy định khác trong BLTTHS không trái với quy định của Chương này.
Do đó, dưới góc độ khoa học luật TTHS, thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân là trình tự thực hiện các quy định của BLTTHS khi tiến hành giải quyết vụ án liên quan đến bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại và áp dụng những quy định khác có liên quan, nhằm bảo đảm xử lý đúng đắn vụ án, cũng như góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

2.2. Việc tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân

Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại có mối quan hệ rất chặt chẽ đối với pháp nhân, họ là người nhân danh pháp nhân tham gia các hoạt động. Do đó, khi BLTTHS năm 2015 quy định pháp nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS thì mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Pháp nhân phải cử và bảo đảm cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng. Trường hợp pháp nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng… Khi tham gia vào hoạt động tố tụng người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được Nhà nước quy định cho họ những quyền và nghĩa vụ nhất định được quy định tại Điều 435 BLTTHS năm 2015.

2.3. Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị buộc tội

Để ngăn chặn việc pháp nhân tiếp tục phạm tội, cũng như hạn chế các hậu qủa do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra, qua đó, bảo đảm thi hành án liên quan đến việc bồi thường thiệt hại hoặc phạt tiền, BLTTHS năm 2015 quy định Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tại Điều 436 Bộ luật này bao gồm:
– Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
– Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
– Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
– Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
Lưu ý, quy định về thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử.

2.4. Những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội

Trong vụ án hình sự liên quan đến pháp nhân thương mại bị buộc tội, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh, xác định rõ các tình tiết đặc trưng gắn liền với pháp nhân tại Điều 441 BLTTHS năm 2015 bao gồm:
– Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của BLHS.
– Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân.
– Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra.
– Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt.
– Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Trong đó, việc chứng minh vấn đề lỗi của pháp nhân là một vấn đề rất quan trọng trong vụ án mà pháp nhân thực hiện tội phạm.

2.5. Thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân

Điều 444 BLTTHS năm 2015 quy định, Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự về các tội phạm do pháp nhân thực hiện là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm. Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với pháp nhân phạm tội được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Phần thứ tư và Phần thứ sáu của Bộ luật này. Phiên tòa xét xử đối với pháp nhân phải có mặt người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; có mặt bị hại hoặc người đại diện của bị hại…
Như vậy, thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân chính là các trình tự thực hiện các quy định của BLTTHS khi tiến hành giải quyết vụ án liên quan đến bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại, cũng như việc áp dụng những quy định khác có liên quan, qua đó, bảo đảm xử lý đúng đắn vụ án, trách nhiệm hình sự của pháp nhân và trách nhiệm hình sự của cá nhân, cũng như góp phần đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và đề ra các biện pháp khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

3. Một số vấn đề đặt ra khi thi hành các quy định của BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự và thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

Như vậy, từ việc nghiên cứu quy định của BLHS năm 2015 và BLTTHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự và thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân (thương mại) với tư cách là hai đạo luật lớn quy định về luật nội dung và luật hình thức (luật thủ tục), chúng tôi đưa ra một số vấn đề sau để các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung khi thi hành hai đạo luật này (đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) mà mục 3.1 và mục 3.2 sẽ đề cập dưới đây.

3.1. Một số vấn đề đặt ra khi thi hành quy định của BLHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội

Khi thi hành quy định của BLHS năm 2015 liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội có một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết như sau:
– Khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015 quy định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự” cần sửa lại thành “phạm một hay nhiều tội đã được quy định tại Điều 76 và đáp ứng các điều kiện theo Điều 75 Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự” cho thống nhất với Điều 75 về “Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại” và chính xác với thực tiễn vì có trường hợp pháp nhân thương mại phạm một tội, có trường hợp phạm nhiều tội, một hay nhiều tội đều phải bị xử lý trách nhiệm hình sự và để truy cứu thì cần đáp ứng các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự (ví dụ: pháp nhân thương mại phạm một tội tại Điều 76 nhưng tội phạm đó lại hết thời hiệu truy cứu TNHS, rõ ràng pháp nhân đó lại không phải chịu TNHS).
– Khoản 2 Điều 9 BLHS năm 2015 quy định về phân loại tội phạm đối với pháp nhân: “Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này”. Điều này có nghĩa, tội phạm được phân loại thành các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (theo khoản 1 – căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt), tuy nhiên, chưa có quy định nào “quy đổi” tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà pháp nhân thương mại thực hiện tương ứng với mức cao nhất của khung hình phạt mà pháp nhân thương mại phải chịu trong BLHS. Hơn nữa, hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại phạm tội chỉ có hình phạt tiền là có thể quy đổi, nhưng chỉ tương ứng với tội phạm ít nghiêm trọng. Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể hơn về nội dung này, để xác định rõ trường hợp nào là tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện là các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, trong đó, nên căn cứ với loại tội mà người phạm tội đã thực hiện.
– Điều 10 về “Cố ý phạm tội”, Điều 11 về “Vô ý phạm tội”, Điều 17 về “Đồng phạm”… của BLHS năm 2015 đều quy định cho người phạm tội mà không quy định cho pháp nhân thương mại phạm tội. Trong khi đó, Điều 8 về “Khái niệm tội phạm” lại nêu: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”; Điều 85 về “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại” lại có đề cập đến trường hợp pháp nhân thương mại “câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội” (điểm a khoản 1 Điều 85)… Do đó, đề nghị các nhà làm luật nghiên cứu, bổ sung điều luật về lỗi cố ý và vô ý đối với pháp nhân thương mại phạm tội và vấn đề đồng phạm của pháp nhân thương mại phạm tội trong BLHS năm 2015. Hơn nữa, trong vụ án hình sự liên quan đến pháp nhân thương mại bị buộc tội, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh, xác định rõ các tình tiết đặc trưng gắn liền với pháp nhân tại Điều 441 BLTTHS năm 2015, trong đó có việc chứng minh một vấn đề quan trọng – “Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân” (khoản 2).
– Khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015 đã đưa ra các điều kiện để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại: (1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (3) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại và; (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS. Tuy nhiên, do đây là bốn điều kiện độc lập và phải có đủ các điều kiện này mới truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Song, điều kiện thứ nhất (hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại) và điều kiện thứ ba (hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại) dường như chưa độc lập với nhau vì thực tế, nếu hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại thì không thể lại có trường hợp không có sự chỉ đạo, điều hành, chấp thuận của pháp nhân thương mại và ngược lại, nếu đã có sự chỉ đạo, điều hành hay chấp thuận của pháp nhân thương mại thì chính là đã nhân danh pháp nhân rồi. Hơn nữa, pháp nhân không có tri giác để hành động được mà mọi hoạt động phải thông qua người đại diện của nó. Do đó, có thể ghép hai điều kiện này vào thành một điều kiện chung làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được công bằng và dễ chứng minh hơn về phương diện TTHS.
– Điều 78 BLHS năm 2015 quy định về hình phạt “Đình chỉ hoạt động có thời hạn” đối với pháp nhân thương mại phạm tội như sau: “Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế” (khoản 1). Quy định này chưa thật sự chính xác vì nếu gây thiệt hại đến “tính mạng” (đoạn trước) mà hậu quả gây ra lại “có khả năng khắc phục trên thực tế” (đoạn sau) là chưa đúng vì gây thiệt hại đến tính mạng rõ ràng không thể khắc phục được. Vì vậy, cần sửa lại cho chính xác theo hướng “một số hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế…”.
– Danh tiếng, uy tín, vị thế đối với pháp nhân thương mại là vô cùng quan trọng, nó là tài sản tinh thần vô giá được xây dựng qua nhiều năm tháng, sự đánh giá của cộng đồng, xã hội… Chính vì vậy, kinh nghiệm trong pháp luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới như: Cộng hòa Pháp, Hà Lan, Bỉ… đều quy định hình phạt “Niêm yết bản án, quyết định đã được Tòa án tuyên hoặc thông báo bản án, quyết định đó trên các phương tiện nghe nhìn” để răn đe, cảnh tỉnh đối với các pháp nhân khác và bản thân pháp nhân đã phạm tội. Trong khi đó, BLHS năm 2015 chưa (không) quy định hình phạt này như kinh nghiệm của một số nước. Do đó, chúng tôi cho rằng, trong lần sửa đổi, bổ sung sắp tới các nhà làm luật nước ta cân nhắc quy định bổ sung hình phạt này để nâng cao hiệu quả công tácphòng ngừa tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện, để các pháp nhân khác thấy rằng, “danh tiếng thì có rất lâu nhưng tai tiếng thì rất nhanh”, từ đó không có ý định phạm tội.

3.2. Một số vấn đề đặt ra khi thi hành quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân

Khi thi hành quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân có một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết như sau:
– Điều 8 BLHS năm 2015 về “Khái niệm tội phạm” đã xác định pháp nhân thương mại là loại pháp nhân duy nhất có tư cách chủ thể của tội phạm. Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được quy định tại Điều 2 Bộ luật này cũng khẳng định: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Tuy nhiên, Chương XXIX BLTTHS năm 2015 lại có tên là “Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân” và toàn bộ quy định trong Chương này đều sử dụng thuật ngữ “pháp nhân” mà không phân biệt hay giới hạn loại pháp nhân nào trong khi thủ tục tố tụng này chỉ có thể áp dụng đối với pháp nhân thương mại bị truy cứu TNHS. Theo đó, có thể nói rằng, quy định về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân của BLTTHS hiện nay chưa thống nhất với quy định về pháp nhân phạm tội trong BLHS. Tuy nhiên, nhiệm vụ chứng minh tính chất “thương mại” trong “nhân thân” của pháp nhân bị truy cứu không được đề cập đến trong bất kỳ quy định nào của BLTTHS năm 2015. Do đó, BLTTHS năm 2015 cần phải đổi tên Chương XXIX và sử dụng các thuật ngữ trong đó thống nhất là “pháp nhân thương mại” (hoặc cũng có thể sửa đổi trong Điều 4 BLTTHS năm 2015 khi giải thích thuật ngữ – pháp nhân trong Bộ luật này được hiểu là pháp nhân thương mại) .
– Hiện nay, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố hoặc xét xử sẽ xảy ra một số khả năng cần được dự báo, đó là các trường hợp xóa sổ hoặc thay đổi pháp nhân (điều này khác với cá nhân là đối với pháp nhân có thể có giải thể, phá sản hoặc hợp nhất, chia, tách, sáp nhận pháp nhân) , do đó, các cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn thi hành quy định về việc tham gia tố tụng của người đại diện pháp nhân và việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án cũng như xác định bị can, bị cáo là pháp nhân trong vụ án để áp dụng thủ tục giải quyết, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án thì pháp nhân không được chia, tách, sáp nhập để xử lý được chính xác. Ngoài ra, việc xác định rõ vai trò và quy chế pháp lý của người đại diện trong thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại cũng cần được xác định rõ. Rõ ràng, trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một pháp nhân, cá nhân – người đại diện của chủ thể này tham gia tố tụng với tư cách là người thay mặt pháp nhân chứ không phải vì người này đã tham gia vào hành vi phạm tội . Chúng tôi tán thành với quan điểm cho rằng quy chế pháp lý (vai trò, quyền và nghĩa vụ) của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại quy định tại khoản 2 Điều 435 BLTTHS năm 2015 về cơ bản giống với vai trò của người làm chứng trong vụ án hình sự .
– Khoản 1 Điều 436 BLTTHS năm 2015 về “Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân” quy định: “Cơ quan Điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử:
a) Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
b) Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
c) Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
d) Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án”.
Sau đó, riêng hai biện pháp tại điểm “a” và “b” (đã nêu) quy định tại khoản 4 Điều 437 về “Kê biên tài sản” và khoản 5 Điều 438 về “Phong tỏa tài khoản” của BLTTHS năm 2015 có dẫn chiếu thẩm quyền, thủ tục sang Điều 128 về biện pháp “Kê biên tài sản” và Điều 129 về biện pháp “Phong tỏa tài khoản” (còn hai biện pháp sau (điểm “c” và “d” lại được quy định rõ tại khoản 2 Điều 439). Dẫn chiếu tiếp hai Điều luật này lại tiếp tục dẫn chiếu thẩm quyền áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật này và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, nhưng không có quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế là “Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân” và “Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân” cho cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà khoản 1 Điều 436 BLTTHS năm 2015 đã quy định. Do đó, các nhà làm luật cần quy định thống nhất vấn đề này theo hướng – hoặc bỏ đi thẩm quyền của cơ quan này (cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) hoặc đã quy định thì bổ sung cho đầy đủ, thống nhất trong các điều luật trên và điều luật dẫn chiếu .
– Khoản 1 Điều 439 BLTTHS năm 2015 quy định: “Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân chỉ áp dụng khi có căn cứ xác định hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội…
Thời hạn tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn tạm đình chỉ đối với pháp nhân bị kết án không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm pháp nhân chấp hành án”. Do đó, theo như quy định trên thì “thời hạn tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này”. Rõ ràng, “quy định này không khác gì hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn, thậm chí, nếu tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều áp dụng thì còn nặng hơn cả hình phạt chính và thực sự làm khó cho các pháp nhân, bởi hoạt động của các pháp nhân thương mại luôn đặt lợi ích kinh tế làm đầu” . Khắc phục vấn đề này các cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn theo hướng là tùy theo hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội để cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân thương mại cho phù hợp . Bởi lẽ, việc phải ngừng hoạt động trong lĩnh vực nhất định ảnh hưởng không nhỏ không chỉ đến chính pháp nhân, mà còn ảnh hưởng liên đới đối với người lao động làm việc trong pháp nhân ấy.
– Điều 444 BLTTHS năm 2015 quy định, Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự về các tội phạm do pháp nhân thực hiện là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm. Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với pháp nhân phạm tội được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Phần thứ tư và Phần thứ sáu của Bộ luật này. Phiên tòa xét xử đối với pháp nhân phải có mặt người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; có mặt bị hại hoặc người đại diện của bị hại. Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi tán thành với quan điểm trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp, BLTTHS Việt Nam cần mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ đối với pháp nhân. Nghĩa là trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm hoặc tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với cá nhân và pháp nhân trong cùng vụ án thuộc về Tòa án nơi cá nhân cư trú hoặc bị bắt. Mặt khác, BLTTHS năm 2015 cũng cần bổ sung quy định nhập vụ án để điều tra, truy tố đối với cá nhân và pháp nhân trong cùng vụ án .
– Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự do pháp nhân thương mại thực hiện tội phạm đòi hỏi các cơ quan, người tiến hành tố tụng cần làm sáng tỏ các quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ pháp luật TTHS, để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định chính xác đối tượng chứng minh trong vụ án có tội phạm do pháp nhân thực hiện, từ đó giải quyết vụ án được khách quan, chính xác và đúng pháp luật vấn đề tội phạm và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại . Trên cơ sở này, từ đó xác định rõ có dấu hiệu tội phạm hay không; chủ thể của tội phạm là pháp nhân có đúng là pháp nhân thực hiện tội phạm hay không; cũng như vấn đề trách nhiệm hình sự của cá nhân của các thành viên pháp nhân và pháp nhân trong vụ án đó thế nào.. .
Tóm lại, BLHS và BLTTHS năm 2015 đã có nhiều thay đổi lớn trong chính sách hình sự của Nhà nước khi quy định vấn đề trách nhiệm hình sự và thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, để bảo đảm thi hành đúng và có căn cứ đối với quy định của hai đạo luật này đòi hỏi các nhà làm luật cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát, chỉnh sửa, bổ sung những tồn tại, vướng mắc (nếu có) trên phương diện lập pháp hình sự và TTHS, kết hợp với thực tiễn áp dụng trong thời gian tới để hoàn thiện, qua đó, mới bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người và pháp nhân thương mại phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, áp dụng thủ tục tố tụng truy cứu chính xác, đúng pháp luật./.

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo luật Hình sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn

Việc quy định tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tình dục nói riêng trong Bộ luật hình sự Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng vì các quy định đó đã góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên trong những năm gần đây số lượng các vụ án xâm phạm tình dục lại có xu hướng tăng về số lượng cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Để khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quy định và áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm tình dục trong thời gian vừa qua, góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự trong thời gian tới, nhằm đáp ứng được nhu cầu, đấu tranh phòng chống nhóm tội phạm này thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề lý luận, quy định về các tội xâm phạm tình dục, làm rõ những ưu điểm cũng như hạn chế, bất cập trong những quy định và thực tiễn áp dụngnhóm tội phạm này, từ đó có cơ sở để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định về các tội xâm phạm tình dục trong pháp luật hình sự Việt Nam là điều cần thiết.

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Hiếp dâm

Là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân trái với ý muốn của họ.

1.1.2. Giao cấu

Là giao tiếp bộ phận sinh dục ngoài của giống đực vào bộ phận sinh dục của giống cái ở động vật[3].
Có rất nhiều cách hiểu về giao cấu nhưng theo chúng tôi để dễ hiểu và phù hợp với tính chất pháp lý thì giao cấu là hành vi đưa bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ.

1.1.3. Những hành vi quan hệ tình dục khác

Đây là một cụm từ gây ra rất nhiều tranh cãi trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng rất khó xác định như thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác cũng như xác định khi có hành vi xảy ra thực tế trong vụ án. Từ đó, dễ dẫn đến oan, sai.
Qua nghiên cứu một số tài liệu, chúng tôi nhận thấy rằng những hành vi quan hệ tình dục khác với giao cấu là những hành vi quan hệ tình dục qua đường hậu môn, đường miệng và thủ dâm.

1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1.2.1. Định nghĩa
Hiếp dâm người dưới 16 tuổi được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến người dưới 16 tuổi trái ý muốn của họ hoặc giao cấu, thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới mười ba tuổi.
1.2.2. Dấu hiệu pháp lý
Đối với nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì phải xác định việc giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân, còn đối với nạn nhân dưới 13 tuổi thì dù nạn nhân có đồng ý hay không đồng ý giao cấu thì người phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm trẻ em.
Việc nhà làm luật quy định nạn nhân dưới 13 tuổi dù có đồng ý để người phạm tội giao cấu thì hành vi giao cấu này vẫn bị coi là phạm tội xuất phát từ luận điểm: ở độ tuổi dưới 13 trẻ em còn hết sức non nớt, yếu ớt, chưa có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn, dễ bị người khác lôi kéo, rủ rê, mua chuộc, khó có thể tự vệ được, nên cần được bảo vệ một cách đặc biệt nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường, lành mạnh của các em mà cần phải trừng trị thật nghiêm khắc đối với hành vi xâm phạm tình dục đối với các em.
Tuổi của nạn nhân (người bị hiếp) là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Việc xác định tuổi của người bị hại trên cơ sở giấy khai sinh của họ nếu trường hợp mất giấy khai sinh hoặc không có giấy khai sinh thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng tất cả các biện pháp có thể được, để xác định tuổi thật của người bị hại. Cuối cùng nếu không còn cách nào để xác định tuổi thật của người bị hại, thì theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, tuổi của người bị hại sẽ được xác định như sau: Nếu chỉ biết tháng và năm sinh thì lấy ngày đầu tiên của tháng đó làm ngày sinh của người bị hại. Ví dụ: Chỉ biết người bị hại sinh vào tháng 05-1986, thì lấy ngày 01-05-1986 là ngày sinh của người bị hại; nếu chỉ biết năm sinh mà không biết ngày tháng thì lấy ngày đầu của tháng đầu tiên trong năm đó làm ngày sinh của người bị hại để tính tuổi. Ví dụ: Chỉ biết người bị hại sinh năm 1985 thì lấy ngày 01-01-1985 là ngày sinh của người bị hại.
Ngoài dấu hiệu về tuổi thì để cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì đòi hỏi phải có đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm: mặt khách quan, mặt khách thể, mặt chủ quan, mặt chủ thể.
1.2.2.1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này bao gồm các dấu hiệu như sau:
Thứ nhất, có hành vi dùng vũ lực. Việc dùng vũ lực có thể được thực hiện bằng các hình thức sau: thực hiện trực tiếp bằng tay, chân như đấm, đá, bóp cổ, xé quần áo,…; thực hiện gián tiếp thông qua các công cụ vật chất như dùng dao dâm, chém, dùng gập để đập, dùng dây trói,… nhằm khống chế lại sự chống cự của nạn nhân để thực hiện hành vi giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác.
Thứ hai, có hành vi đe dọa dùng vũ lực. Được hiểu là những hành vi uy hiếp tinh thần của nạn nhân làm cho nạn nhân khiếp sợ, tê liệt ý chí kháng cự. Việc đe dọa dùng vũ lực có thể là các hành vi dọa đánh, đập, dọa trả thù, dọa giết nạn nhân, người thân của nạn nhân,….
Thứ ba, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân. Tức là lợi dụng tình trạng nạn nhân đang có những nhược Điểm, khuyết Điểm về thể chất, tinh thần như bị ngất xỉu, bị bại liệt, bị mù lòa, bệnh tật, tâm thần,…để thực hiện hành vi giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân. Lúc này nạn nhân không có khả năng kháng cự lại hoặc không biết được hành vi phạm tội của người phạm tội.
Thứ tư, là có những thủ đoạn khác để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân. Là các thủ đoạn, các hành vi mà người phạm tội thực hiện nhằm đưa nạn nhân vào tình trạng mất khả năng nhận thức, kiểm soát được hành vi hay đưa nạn nhân vào tình trạng mê man, mất khả năng kháng cự để thực hiện hành vi giao cấu hoặc các hành vi quan hệ tình dục khác mà không được sự đồng ý của họ như cho uống thuốc kích dục, thuốc ngủ, thuốc mê, ép hít ma túy, chuốc say,… Các hành vi khách quan nêu trên chỉ được xem xét đối với các vụ mà nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Còn trong trường hợp nạn nhân là người dưới 13 tuổi thì không nhất thiết phải có một trong các hành vi nêu trên mới cấu thành tội hiếp dâm người 16 tuổi mà chỉ cần có hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác đối với người dưới 13 tuổi thì đã thỏa mãn mặt khách quan của tội này.
Cuối cùng, là trái với ý muốn của người bị hại. Đây là một dấu hiệu hết sức quan trọng mà thực tiễn xét xử không ít trường hợp khó xác định, vì về phía người bị hại, trong một số trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau đã khai với các cơ quan tiến hành tố tụng không đúng với trạng thái tâm lýcủa mình, có người do có sự thoả thuận nhưng lại khai với nhà chức trách là mình bị hiếp, ngược lại có người bị hiếp thật, nhưng bị người phạm tội mua chuộc lại khai là có sự thoả thuận. Thông thường khi xác định tội phạm người ta xét đến ý thức chủ quan của người phạm tội, nhưng đối với tội hiếp dâm, thì ý thức chủ quan của người bị hại lại là vấn đề rất quan trọng để xác định có tội hay không có tội.
Để xác định việc giao cấu có trái với ý muốn của người bị hại hay không, ngoài lời khai của người bị hại, chúng ta còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác như: mối quan hệ giữa hai người, thủ đoạn thực hiện tội phạm, hoàn cảnh cụ thể khi xảy ra việc giao cấu, nhân thân của cả hai người, ý kiến nhận xét của những cơ quan, tổ chức xã hội nơi hai người công tác, của bạn bè, của cha mẹ và các tình tiết khác của vụ án, tránh chủ quan phiến diện. Chỉ khi nào chứng minh việc giao cấu đó là trái với ý muốn của người bị hại (người phụ nữ) thì người có hành vi giao cấu (người đàn ông) mới bị coi là phạm tội hiếp dâm.
Dấu hiệu trái với ý muốn của người bị hại là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm, nhưng dấu hiệu này chỉ có ý nghĩa đối với trường hợp người bị hại từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, còn đối với trường hợp người bị hại chưa đủ 13 tuổi thì dù có trái ý muốn hay không, người có hành vi giao cấu với họ đều là phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Trong trường hợp người phạm tội không thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do sự chống trả, kháng cự quyết liệt của người bị hại, sự phát hiện hoặc có nguy cơ bị phát hiện bởi người khác,…thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này trong trường hợp phạm tội chưa đạt.
1.2.2.2. Mặt khách thể
Hành vi phạm tội đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ thân thể, nhân phẩm, danh dự của người dưới 16 tuổi.
Hành vi nêu trên xâm phạm đến sức khỏe (bao gồm sứ khỏe về thể chất và sức khỏe về tinh thần), tính mạng của nạn nhân là người dưới 16 tuổi, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường về tâm, sinh lí của người dưới 16 tuổi.
1.2.2.3. Mặt chủ quan
   Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Tức người phạm tội nhận thức rõ về hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra (đối với lỗi cố ý trực tiếp) hoặc không mong muốn hậu quả đó xảy ra nhưng cố tình để mặc cho hậu quả xảy ra (đối với lỗi cố ý gián tiếp).
Yếu tố động cơ và mục đích không bắt buộc phải có trong tội phạm này. Tuy nhiên, trong một vụ án thực tế về hiếp dâm người dưới 16 tuổi nếu tồn tại yếu tố động cơ và mục đích thì cần được xác định để làm rõ tính chất của vụ việc, ý đồ, mong muốn của người phạm tội. Từ đó, có hướng xử lí đúng đắn, triệt để, xác định hình phạt cụ thể.
1.2.2.4. Mặt chủ thể
Chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bất kì người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Mặc dù trong quy định của pháp luật không chỉ rõ chủ thể thực hiện hành vi này là nam hay nữ nhưng dựa trên thực tế hoàn cảnh và quá trình xét xử của Tòa án thì chủ thể ở đây chỉ có thể là nam thực hiện với nạn nhân là nữ. Còn chủ thể nữ sẽ bị truy cứu tội này với tư cách là người đồng phạm. Tuy nhiên trong khoa học pháp lý hình sự vẫn tồn tại hai lối suy nghĩ khác nhau về vấn đề này.
Quan Điểm thứ nhất cho rằng: chủ thể của Tội hiếp dâm là chủ thể đặc biệt chỉ có thể là nam giới. Còn nữ giới có thể đóng vài trò là đồng phạm trong tội này[4]. Quan Điểm thứ hai cho rằng: Chủ thể của tội hiếp dâm trẻ là là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự[5].
Giải thích tại sao quan Điểm thứ nhất được đa số các nhà học luật đồng ý. xuất phát từ đặc điểm cấu trúc tâm sinh lý của bộ phận sinh dục cũng như cơ chế sinh lý khi giao hợp của nam giới và nữ giới có sự khác nhau đó là “nam cương nữ nhu” cho nên để có thể thực hiện được hành vi giao cấu trên thực tế thì cần phải có sự chủ động của nam giới. Khi thực hiện hành vi giao cấu mà người phụ nữ không đồng ý thì nam giới vẫn thực hiện được hành vi nếu như họ muốn. Muốn thực hiện hành vi giao cấu trên thực tế thì cần có sự cương dương của nam giới, “đây là một quá trình có sự tham gia của nhiều yếu tố như thần kinh, nội tiết, tâm lý… trong đó ham muốn đóng vai trò quan trọng”[6]. Còn nếu nam giới không đồng ý thì nữ giới không thể thực hiện được hành vi giao cấu. Bên cạnh đó trong thực tế những trường hợp nữ giới thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của nam giới hầu như là không có, chính vì vậy quan Điểm cho rằng chủ thể của Tội hiếp dâm chỉ là nam giới còn nữ giới chỉ có thể là người đồng phạm nhưng không thể tham gia với vai trò là người thực hành là quan Điểm phù hợp hơn cả trong những năm vừa qua.
Tuy nhiên cần phải nhìn nhận một cách tích cực về quan Điểm này. Bởi vì luồn quan Điểm được đa số mọi người đồng ý khá thuyết phục đối với việc quy định về tội phạm hiếp dâm trẻ em được các Bộ luật Hình sự năm 1999 trở về trước quy định còn đối với việc ghi nhận về tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi được Bộ luật Hình sự năm 2015 rõ ràng đã mở rộng hơn và chắc chắn phải mở rộng về chủ thể của tội phạm này. Theo đó, Bộ luật Hình sự 2015 đã ghi nhận thêm cụm từ “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác”, như đã giải thích ở trên thì những hành vi quan hệ tình dục khác rất đa dạng chẳng hạn như quan hệ tình dục qua đường miệng, đường hậu môn, thủ dâm,… những hành vi này thì bất kì chủ thể là nam hay nữ đều có thể thực hiện được. Mặc khác, thời gian gần đây vô số các trường hợp trẻ em là nam bị nam, nữ xâm hại tình dục hoặc trẻ em là nữ bị nữ xâm hại tình dục đã xảy rất phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn nhiều nước trên thế giới. Xuất phát từ sự phát triển của cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới hiện nay, nhóm người này có đời sống tình dục vô cùng đa dạng, phong phú và họ thường thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác ngoài giao cấu. Chính vì lẽ đó lối giải thích theo hướng chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi chỉ là nam đã quá cũ và không còn phù hợp với việc quy định của Bộ luật Hình sự 2015 và thực tế hiện nay.
Thêm nữa, đối với trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác có sự đồng ý của nạn nhân (thuận tình) dưới 13 tuổi thì cả nam và nữ đều có thể thực hiện được các hành vi này. Vì trong trường hợp này có sự chủ động của hai bên thì nữ giới vẫn có thể thực hiện được hành vi phạm tội. Tại Điểm a, Khoản 1, Điều 142, Bộ luật Hình sự 2015 quy định rằng: “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”, rõ ràng ở điều luật này không cầu điều kiện phải trái ý muốn của người dưới 13 tuổi thì mới phạm tội hiếp dâm. Tức là nếu có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi thì dù thuận tình hay không thuận tình thì vẫn phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Vì thế nếu loại chủ thể là nữ ra khỏi tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là một điều bất hợp lí.
Vì thế, tác giả hoàn toàn ủng hộ hướng nhìn nhận chủ thể của tội hiếp dâm nói chung và hiếp dâm người dưới 16 tuổi nói riêng là bất cứ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
1.2.3 Hình phạt
1.2.3.1. Khung một (Khoản 1)
   Có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Được áp dụng đối với người có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm này đã thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ hoặc với người dưới 13 tuổi.
1.2.3.2. Khung hai (Khoản 2)
Có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp cụ thể sau đây:
– Có tính chất loạn luân (Điểm a). Được hiểu là người phạm tội đã hiếp dâm người dưới 16 tuổi là người có cùng dòng máu về trực hệ (như giữa cha mẹ với con cái; giữa ông bà nội, ngoại với cháu nội, ngoại) hoặc là người có quan hệ ruột thịt như anh, chị, em cùng cha mẹ; anh, chị, em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.
– Làm nạn nhân có thai (Điểm b). Hiếp dâm mà làm nạn nhân có thai là do hành vi hiếp dâm của người phạm tội mà nạn nhân có thai, tức là cái thai của nạn nhân là kết quả của việc giao cấu giữa người phạm tội với nạn nhân. Nếu nạn nhân tuy có bị hiếp dâm nhưng việc nạn nhân có thai lại là kết quả của việc giao cấu giữa nạn nhân với người khác thì người phạm tội hiếp dâm không phải chịu tình tiết “làm nạn nhân có thai”. Nói chung thực tiễn xét xử trường hợp phạm tội này thường xảy ra đối với người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu với người bị hại nhiều lần, người phạm tội không từ chối cái thai trong bụng nạn nhân là của mình, nên rất ít khi phải trưng cầu giám định. Tuy nhiên, kết quả giám định cũng không phải chứng cứ duy nhất để xác định cái thai trong bụng nạn nhân có phải là của người phạm tội không. Vì vậy, để xác định nạn nhân có thai có đúng là do hành vi hiếp dâm gây ra không, cần phải đánh giá một cách khách quan toàn diện; chỉ khi nào có đủ căn cứ xác định nạn nhân có thai là do hành vi hiếp dâm gây ra thì người phạm tội hiếp dâm mới phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điểm b Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% (Điểm c). Trong quá trình thực hiện hành vi nếu người phạm tội đã sử dụng vũ lực tác động lên người nạn nhân hay do bị hiếp dâm mà nạn nhân ốm đau nặng, mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục,…được cơ quan giám định nạn nhân có tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60% thì áp dụng Điểm này. Sau khi bị xâm hại nạn nhân có thể bị ám ảnh bởi các hành vi đồi bại của người phạm tội từ đó dẫn đến trầm cảm, tự kỉ, rối loạn tâm thần ở mức độ nhẹ mà kết quả của cơ quan giám định cho thấy tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60% thì áp dụng điểm này. Vấn đề hậu quả của hành vi hiếp dâm gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân là một dấu hiệu mới, được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
– Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bện (Điểm d). Người phạm tội và người bị hại trong trường hợp này phải có mối quan hệ, trong đó người phạm tội có nghĩa vụ đối với người bị hại. Nghĩa vụ này xuất phát từ quan hệ chăm sóc như người nuôi dưỡng đối với người được nuôi dưỡng, quan hệ giáo dục như thầy giáo đối với học sinh, quan hệ chữa bệnh như thầy thuốc đối với bệnh nhân,…Khi xét đến các quan hệ này, cần chú ý là chỉ khi nào hành vi phạm tội của người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh đã lợi dụng sự chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh để hiếp dâm người được chăm sóc, được giáo dục hoặc được chữa bệnh thì mới thuộc trường hợp phạm tội này, nếu hành vi hiếp dâm không liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh thì không thuộc trường hợp phạm tội này.
– Phạm tội hai lần trở lên (Điểm đ). Được hiểu là có tất cả hai lần phạm tội trở lên mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đang còn trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Cũng được xem là phạm tội hai lần trở lên trong trường hơp người phạm tội hiếp dâm từ hai lần trở lên đối với cùng một nạn nhân là người dưới 16 tuổi.
– Đối với hai người trở lên (Điểm e). Là trường hợp một người đã hiếp dâm từ hai người trở lên hoặc nhiều người cùng hiếp dâm từ hai người trở lên. Đây là trường hợp có nhiều người bị hiếp, trong đó ít nhất mỗi người bị hiếp một lần, còn người phạm tội có thể là một người hoặc nhiều người. Vì vậy khi xác định hành vi phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải phân biệt:
Nếu có một người hiếp dâm từ hai người trở lên và tất cả nạn nhân chỉ bị hiếp một lần, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm e Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Nếu có một người hiếp dâm từ hai người trở lên, trong đó có nạn nhân bị hiếp một lần, có nạn nhân bị hiếp nhiều lần, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo cả hai Điểm đ và Điểm e Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Nếu có nhiều người phạm tội (phạm tội có tổ chức hoặc là đồng phạm thông thường), trong đó có nhiều người bị hiếp nhưng tất cả nạn nhân chỉ bị hiếp một lần thì tất cả người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm e Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Nếu là phạm tội có tổ chức thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm a Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Nếu có một người bị hai người trở lên hiếp thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm b Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
– Tái phạm nguy hiểm (Điểm g). Người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi bị coi là tái phạm nguy hiểm nếu đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thuộc một các trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 hoặc Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Hoặc đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
1.2.3.3. Khung ba (Khoản 3)
Có mức phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau đây:
– Có tổ chức (Điểm a). Hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tổ chức cũng như trường hợp phạm tội có tổ chức khác. Các dấu hiệu của phạm tội có tổ chức được quy định tại Khoản 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Khái niệm đồng phạm được Bộ luật Hình sự nước ta ghi nhận tại Điều 17 với định nghĩa là “có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”, nhưng phạm tội có tổ chức lại là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ hơn; Phạm tội có tổ chức bao gồm nhiều người cùng tham gia, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức. Đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi có tổ chức, hiện hành vi hiếp dâm một người dưới 16 tuổi. Cũng được xem là nhiều người cùng hiếp dâm một người trong trường hợp có hai người trở lên bàn bạc với nhau là tất cả sẽ thay phiên nhau hiếp dâm một người, nhưng trong quá trình thực hiện tội phạm thì chỉ một hoặc một số người thực hiện hành vi hiếp dâm.
Trong trường hợp có từ hai người trở lên cấu kết chặt chẽ với nhau để tổ chức, giúp sức cho một người trong số họ hiếp dâm thì không được xem là nhiều người hiếp dâm một người mà là trường hợp phạm tội có tổ chức. Nhưng nếu trong trường hợp này có hai người trở lên cùng thực hiện hành vi hiếp dâm thì những người này đồng thời phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hai trường hợp: phạm tội có tổ chức và nhiều người hiếp dâm một người theo Điểm a, b Khoản 3 của điều luật này.
– Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi (Điểm c). Đây là một điểm hoàn toàn mới được Bộ luật Hình sự ghi nhận. Thấy rõ mức độ nguy hiểm và đối tượng phạm tội cần phải được pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc nhất nên các nhà làm luật đã ghi nhận điều này. Việc ghi nhận rõ đối với người dưới 10 tuổi của các nhà làm luật cũng cho ta thấy rõ được đây là trường hợp cần phải được đặc biệt quan tâm và bảo vệ. Hành vi hiếp dâm người dưới 10 tuổi là hành vi phạm tội mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, phải chịu hình phạt thích đáng nhất. Nguyên tắc áp dụng Điểm này là khi xử phạt người phạm tội nếu độ tuổi của nạn nhân càng nhỏ thì mức án mà người phạm tội phải gánh chịu càng cao.
– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên (Điểm d). Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp hiếp dâm người dưới 16 tuổi gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự, chỉ khác nhau ở chỗ, tỷ lệ thương tật của nạn nhân trong trường hợp này là từ 61% trở lên và người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điểm d Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Gây rối loan tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên cũng là một điểm mới được Bộ luật Hình sự ghi nhận. Hậu quả của hành vi hiếp dâm của người phạm tội rất có thể để lại dư chấn nặng nề trong tinh thần và hành vi của nạn nhân như tâm thần, rối loạn nhận thức,…Việc xác định mức độ còn phụ thuộc vào kết quả giám định của cơ quan y tế có chuyên môn. Quy định điều này cho thấy rằng nếu mức độ hậu quả mà người phạm tội mang lại cho bị hại càng cao thì hình phạt mà người phạm tội phải gánh chịu càng nặng.
– Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội (Điểm đ). Người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm, tức là cố ý lây truyền HIV cho người khác bằng hành vi hiếp dâm, làm cho tính chất và mức độ của hành vi hiếp dâm nguy hiểm hơn nhiều so với trường hợp hiếp dâm bình thường.
Khi áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội cần chú ý một số điểm như sau:
Nếu có căn cứ cho rằng người phạm tội biết mình nhiễm HIV mà vẫn hiếp dâm thì mới áp dụng tình tiết này, nếu người phạm tội bị niễm HIV thật nhưng họ hoàn toàn không biết, sau khi phạm tội cơ quan Y tế mới xét nghiệm thấy người phạm tội bị nhiễm HIV thì không áp dụng tình tiết này đối với người phạm tội. Đây là tình tiết thuộc ý thức chủ quan của người phạm tội, nên các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xác định người phạm tội biết rõ mình bị nhiễm HIV thì mới thuộc trường hợp này.
– Làm nạn nhân chết hoặc tự sát (Điểm e). Xét trường hợp này ở hai khía cạnh.
Thứ nhất, làm nạn nhân chết. Đây là trường hợp nạn nhân do bị hiếp dâm mà chết. Đây là trường hợp do bị bị hiếp cùng với tuổi nhỏ, sức chịu đựng của nạn nhân yếu mà dẫn đến chết, thông thường trường hợp này xảy ra đối với nhiều người cùng hiếp một người. Nếu nạn nhân bị chết không phải là do bị hiếp mà do nguyên nhân khác thì không thuộc trường hợp phạm tội này mà tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tội phạm tương ứng với hành vi làm cho nạn nhân bị chết. Nếu hành vi của người phạm tội có đủ dấu hiệu của tội giết người thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người và tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Trong trường hợp nếu lúc đầu người phạm tội đã dùng vũ lực đối với nạn nhân, sau đó thực hiện hành vi hiếp dâm rồi bỏ mặc dẫn đến nạn nhân chết thì không xem là hiếp dâm người dưới 16 tuổi làm nạn nhân chết mà người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội giết người và hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Thứ hai, làm nạn nhân tự sát. Cần xác định rõ ở đây có phải nguyên nhân của việc nạn nhân tự sát là do bị hiếp dâm hay không. Tuy nhiên để xác định điều này thì không phải là một chuyện dễ dàng. Nạn nhân của tội hiếp dâm chủ yếu là phụ nữ, đặc biệt nạn nhân cụ thể ở đây là người dưới 16 tuổi, một độ tuổi quá nhỏ để nhận thức đúng đắn một vấn đề, luôn có những suy nghĩ lệch lạc, nông cạn và bồng bột trong tư duy. Mặc khác sự ám ảnh bởi những hành vi đáng sợ mà người phạm tội gây ra, sự mặc cảm, e ngại với gia đình, bạn bè cùng với chế độ phong tục tập quán còn mang nặng sự trinh tiết. Tất cả những điều này rất dễ làm nạn nhân nghĩ quẩn mà tự sát. Đây cũng là đặc điểm của tội hiếp dâm nói chung và hiếp dâm người dưới 16 tuổi nói riêng ở nước ta mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải thận trọng khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, nếu xét thấy cần thiết thì phải xét xử kín để giữ cho nạn nhân tránh khỏi những dị nghị gây bất lợi cho họ.
Cần hiểu rằng nếu nguyên nhân dẫn đến việc nạn nhân tự sát là do bị hiếp dâm thì áp dụng Điểm này, còn việc nạn nhân tự sát có dẫn đến hậu quả làm nạn nhân chết hay không, không phải là dấu hiệu bắt buộc để xác định tình tiết phạm tội này. Tuy nhiên nếu nạn nhân tự sát và dẫn đến chết thì mức hình phạt sẽ cao hơn trường hợp nạn nhân tự sát mà không chết.
1.2.3.4. Khung bốn (Khoản 4)
Người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Đây là hình phạt bổ sung đi kèm với hình phạt chính. Người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính tuy nhiên có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
1.2.4. Trách nhiệm dân sự
Ngoài các hình phạt mà người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải gánh chịu theo quy định của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho nạn nhân hoặc thân nhân của nạn nhân bao gồm các thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm hay thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm và thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nếu có thiệt hại xảy ra trên thực tế theo quy định của Điều 590, 591,592 Bộ luật Dân sự 2015.
Thông qua Chương 1 đã làm rõ những khái niệm cơ bản đến phân tích rõ về các dấu hiệu pháp lý, hình phạt cho đến tìm hiểu những quy định về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự Việt Nam qua các thời kì và một số nước trên thế giới. Chương này đã cho chúng ta nhận thây những ưu, nhược Điểm về việc ghi nhận tội phạm này trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Thấu hiểu những khía cạnh khác nhau của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tất cả những điều đó là nền tảng để nghiên cứu sâu hơn về thực tiễn áp dụng và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tội danh này.

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI HIẾP DÂM NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm tình dục đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp. Có thể thấy rằng sự hợp lý của một điều luật hay bộ luật không chỉ được phản ánh thông qua nội dung được quy định trong luật mà còn được đánh giá thông qua thực tiễn áp dụng điều luật đó. Chính vì vậy khi xem xét, đánh giá các tội xâm phạm tình dục trong Bộ luật Hình sự thì cần thiết phải xem xét các tội phạm này được áp dụng trên thực tế như thế nào. Đây là bảng số liệu thống kê tình hình tội phạm xâm phạm tình dục trong những năm gần đây:

Năm    2008    2009    2010    2011    2012   2013
Tộidanh SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
SốVụ
án
 Số
Bị
Cáo
 
Tộihiếp
dâm
(Điều
111)
322 468 322 511 272 416 282 405 285 416 332 430
Tộihiếp
dâm
trẻ em
(Điều
112)
595 677 488 559 483 562 498 561 558 651 656 751
Tộicưỡng
dâm
(Điều
113)
5 5 4 4 7 19 4 9 4 17 7 7
Tộicưỡng
dâm
trẻ em
(Điều
114)
4 6 3 4 2 3 9 10 5 5 2 2
TộiGiao
cấu
với
trẻ em
(Điều
115)
287 305 364 378 390 411 424 444 596 613 694 733
Tộidâm ô
đối
với
trẻ em
(Điều
116)
128 131 131 132 148 157 126 127 144 145 206 208
Tộimua
dâm
người
chưa
thành
niên
(Điều
256)
6 15 15 21 1 2 9 12 12 17 6 9
Tổng 1347 1607 1312 1588 1302 1568 1352 1568 1604 1864 1903 2140

Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm tình dục từ năm 2008 đến 2013
(Nguồn: Tòa án Nhân dân Tối cao)
Từ bảng số liệu trên chúng ta có thể thấy rằng:
Thứ nhất, số lượng các vụ án, bị cáo xâm phạm tình dục xảy ra khá nhiều và luôn có sự ổn định qua các năm đồng thời không có sự thuyên giảm qua các năm.
Có thể thấy rằng, năm 2013 là năm số vụ án xâm phạm tình dục xảy ra nhiều nhất cũng như số lượng bị cáo chiếm tỷ lệ cao nhất so với các năm trước. Tổng số các vụ án hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm tình dục đã được xét xử trong sáu năm qua là 8820 vụ với tổng số bị cáo là 10335 người, trong đó dễ dàng nhận thấy Tội hiếp dâm trẻ emlà được áp dụng nhiều nhất trong các tội xâm phạm tình dục, chiếm 20,58% trong tổng số các tội phạm tình dục được xét xử, còn Tội cưỡng dâm trẻ em là tội được xét xử ít nhất, chỉ chiếm 0,28% trong tổng số các vụ án xâm phạm tình dục đã được xét xử (tuy nhiên con số này chưa phản ánh hoàn toàn chính xác về hành vi cưỡng dâm vì dấu hiệu “lợi dụng nạn nhân trong tình trạng quẫn bách” trong Tội cưỡng dâm cũng như Tội cưỡng dâm trẻ em rất khó để xác định).
Bên cạnh đó, theo báo cáo kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự của Bộ Tư Pháp sau 13 năm thì các tội phạm thuộc chương tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm là một trong những nhóm tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp về số lượng, phương thức và thủ đoạn phạm tội, số lượng các vụ án xâm phạm tình dục có sự ổn định qua các năm, đặc biệt là ở hai thành phố lớn nhất nước ta là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Ở trên địa bàn tỉnh Bình Dương thời gian qua cũng xảy ra nhiều vụ hiếp dâm trẻ em.
+ Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự số 90/2011/HSST đối với bị cáo Nguyễn Thanh Trí sinh năm 1993 (Lái Thiêu, Thuận An, Bình Dương) cùng với bạn là Nguyễn Xuân Khánh Duy dụ dỗ đưa vào khách sạn Hương Tràm thay nhau thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với Bùi Thị Ngọc Tuyền sinh năm 1997 (Thuận An, Bình Dương). Y bị tuyên án 13 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”[7].
+ Vụ án do Nguyễn Văn Hùng (sinh năm 1966 thường trú Vĩnh Long làm công nhân tại Bình Dương) có quan hệ tình cảm với bà Huỳnh Thị Ngọc Đính (sinh năm 1981 ngụ tại Dĩ An, Bình Dương). Hùng 3 lần dụ dỗ quan hệ với con gái bà Đính là Thái Thị Như Ý (sinh năm 2002). Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên án Hùng 20 năm về tội “Hiếp dâm trẻ em”[8].
+ Bị cáo Dương Khánh Nhơn (sinh năm 1975 quê Khánh Hòa làm thợ hàn tại Dĩ An, Bình Dương) dụ dỗ bé Dương Thanh Trúc (sinh năm 2003 ở với cha mẹ cùng dãy nhà trọ với Nhơn) vào phòng của Nhơn chơi. Nhơn đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi giáo cấu với Trúc. Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên án Nhơn 14 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”.[9]
Thứ hai, vẫn còn một số hạn chế nhất định trong việc xét xử các vụ án xâm phạm tình dục. Cụ thể:
– Việc xem xét các dấu hiệu định tội của cơ quan áp dụng pháp luật chưa được thống nhất dẫn đến việc áp dụng tội danh trong một số vụ án chưa được chính xác, có thể kể đến một số vụ án cụ thể như:
+ Vụ án do Huỳnh Văn Dũng (sinh năm 1983 tại thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện, theo bản án hình sự sơ thẩm số 754/2008/HSST ngày 19/09/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên bị cáo Huỳnh Văn Dũng phạm “Tội dâm ô đối với trẻ em” (Khoản 1 Điều 116 Bộ luật Hình sự 1999). Tuy nhiên tại bản án số 1463/2008/HSPT ngày 23 tháng 12 năm 2008 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh sửa bản án hình sự sơ thẩm và xử phạt bị cáo Dũng phạm Tội hiếp dâm trẻ em theo Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999.
+ Vụ án do Đào Hoàng Phúc (sinh năm 1951) thực hiện, theo bản án hình sự sơ thẩm số 58/2209/HSST ngày 30 tháng 09 năm 2009, tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu tuyên bị cáo Phúc phạm Tội cưỡng dâm trẻ em (Khoản 2 Điều 114 Bộ luật Hình sự 1999). Tuy nhiên tại bản án số 961/2009/HSPT ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Phúc phạm Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999).
+ Vụ án do Trần Nhật Bằng (sinh 1979 tại Đồng Nai) thực hiện, theo bản án hình sự sơ thẩm số 35/2012/HSST ngày 23/04/2012 tuyên bị cáo Trần Nhật Bằng phạm Tội dâm ô đối với trẻ em (Khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự 1999). Tuy nhiên tại bản án hình sự số 664/2012/HSPT ngày 20 tháng 07 năm 2012 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Bằng phạm Tội Hiếp dâm trẻ em (Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999).
Việc đánh giá các tình tiết định khung cũng như các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ giữa các cơ quan áp dụng pháp luật chưa có sự thống nhất nên dẫn đến việc áp dụng hình phạt cũng có sự khác nhau. Trong số các vụ án được xét xử có kháng cáo hay kháng nghị về mức hình phạt được áp dụng ở tòa sơ thẩm, tòa phúc thẩm bên cạnh việc y án sơ thẩm thì cũng có nhiều trường hợp tăng hoặc giảm mức hình phạt, ví dụ như:
+ Bị cáo Mã Phi Hùng phạm Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999) bị tăng mức hình phạt từ 20 năm tù lên tù chung thân[10].
+ Vụ án Trần Trí Hùng và Lê Duy Hoài phạm Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999) trong đó bị cáo Trần Trí Hùng bị xử phạt tăng mức hình phạt từ 14 năm tù lên 20 năm tù[11].
+ Bị cáo Đinh Văn Hoàng phạm Tội hiếp dâm trẻ em đươc chuyển từ Khoản 4 Điều 112 sang Khoản 1 Điều 112 Bộ luật Hình sự 1999, giảm mức hình phạt từ 9 năm thành 7 năm[12].
–  Một số vụ án phạm tội xâm phạm tình dục xảy ra với nhiều tình tiết mới, phức tạp bắt đầu xuất hiện như là hành vi dùng vũ lực hay các thủ đoạn khác để thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người đồng giới, hành vi quan hệ tình dục giữa người cùng giới tính giữa người đã thành niên với trẻ em hay hành vi mua dâm người chưa thành niên giữa những người cùng giới tính…nhưng pháp luật lại chưa có quy định để điều chỉnh các hành vi này dẫn đến việc định tội trên thực tế gặp nhiều khó khăn, định tội danh không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Có thể kể đến một số trường hợp như:
+ Trường hợp thứ nhất: vào tháng 10/2013, một nam học sinh đang học lớp 9 đi học bơi ở một hồ bơi trên địa bàn quận Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh). Ngay buổi học đầu tiên khi em vào phòng tắm để tắm lại nước sạch và thay đồ thì em bị một nam thanh niên lạ mặt (Khoảng 30 tuổi) xông vào phòng khống chế, bịt chặt miệng nhằm cho em không la lên và sau đó lạm dụng tình dục em qua đường hậu môn. Hai buổi học bơi tiếp theo em vẫn bị nam thành niên này tiếp tục lạm dụng tình dục. Khoảng 6 tháng sau, do nam học sinh này có biểu hiện sốt, ho, mệt mỏi nên gia đình đã đưa em đi khám tại bệnh viện Nhi Đồng 1, thành phố Hồ Chí Minh, xét nghiệm máu kết quả dương tính với HIV[13].
+ Trường hợp thứ hai: ngày 12/11/2007 Dinh Jonathan Peter (còn gọi là Đinh Tấn Bi, sinh năm 1963, quốc tịch Hoa Kỳ) nhập cảnh vào Việt Nam. Ngày 17/12/2007, Đinh Tấn Bi chạy xe trên đường Đinh Tiên Hoàng, quận 1 TP.Hồ Chí Minh thì gặp em Dương Công Minh (sinh ngày 22/01/1993) đi xe đạp cùng chiều nên hỏi chuyện làm quen và cho số điện thoại liên lạc. Đến 11 giờ ngày 17/01/2008, Tấn Bi chạy đến trường học của Minh hẹn chiều đi chơi. 16 giờ chiều Bi đến gặp Minh và rủ Minh về phòng trọ ở Bình Thạnh chơi, Bi dẫn cháu Minh lên giường, mở phim xem và dụ dỗ Minh cho quan hệ đồng tính rồi Bi sẽ mua điện thoại cho. Bi cởi quần áo của Minh, dùng tay và miệng kích thích dương vật của cháu Minh. Sau đó Bi quan hệ với Minh qua đường hậu môn nhưng Minh kêu đau nên Bi dừng lại. Hành vi của Bi bị phát hiện. Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 639/2008/HSST ngày 18/08/2008 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã xét xử tuyên bố bị cáo Dinh Jonathan Peter phạm Tội dâm ô đối với trẻ em theo Khoản 1 Điều 116 Bộ luật Hình sự[14].
Ngoài ra theo số liệu thống kê của của Tòa án Nhân dân Tối cao, trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2013 có 173 quyết định giám đốc thẩm các vụ án hình sự, trong đó số vụ án các tội xâm phạm tình dục có quyết định giám đốc thẩm là 5 vụ án[15].
Cụ thể là: Quyết định giám đốc thẩm số 09/2009/HS-GĐT ngày 29/07/2009 về vụ án hình sự Hàn Đức Long phạm Tội “giết người” và “hiếp dâm trẻ em”; Quyết định giám đốc thẩm số 19/2008/HS-GĐT ngày 22/12/2008 về vụ án Phan Văn Quỳnh phạm các Tội “giết người” và “hiếp dâm”; Quyết định giám đốc thẩm số 03/2008/HS-GĐT ngày 01/04/2008 về vụ án Đinh Xuân Đắc bị xét xử về tội “hiếp dâm trẻ em”; Quyết định giám đốc thẩm số 14/2007/HS-GĐT  ngày 04/06/2007về vụ án Lê Văn Mạnh phạm Tội “giết người”, “hiếp dâm” và “cướp tài sản” và Quyết định giám đốc thẩm số 02/2007/HS-GĐT ngày 05/2/2007 về vụ án Lê Bá Mai phạm các Tội “hiếp dâm trẻ em” và “giết người”. Các vụ án xâm phạm tình dục có quyết định giám đốc thẩm này phần nào phản ánh hoạt động chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng còn những hạn chế nhất định cũng như một số quy định của luật chưa rõ ràng để chứng minh trên thực tế.
Tóm lại, từ các số liệu trên cho thấy tình hình tội phạm đang diễn biến ngày càng tăng về số lượng cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Thực tiễn áp dụng còn chưa thống nhất cũng như công tác điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn một số sai sót .Những hạn chế đó có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như từ chính công tác phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm của các cơ quan tư pháp nhưng cũng có thể xuất phát từ chính các quy định trong Bộ luật Hình sự còn những bất cập, vướng mắc. Chính vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định trong Bộ luật Hình sự nói chung cũng như quy định về các tội xâm phạm tình dục nói riêng là một nhu cầu tất yếu.

2.2. Một số bất cập trong quy định, áp dụng tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự hiện hành

2.2.1. Bất cập về chủ thể
Như tác giả đã trình bày trong nội dung thuộc Chương 1 của bài nghiên cứu, hiện nay trong khoa học pháp lý hình sự vẫn tồn tại một số quan điểm khác nhau về chủ thể của Tội hiếp dâm. Theo những nội dung mà tác giả đã phân tích thì nữ giới hoàn toàn vẫn có thể trở thành chủ thể của Tội hiếp dâm, bên cạnh đó cùng với sự phát triển nhiều mặt của xã hội thì nữ giới cũng có thể thực hiện hành vi này trên thực tế. Chính vì vậy việc quy định chủ thể tại điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 là “người nào…” là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên để có thể thay đổi được quan điểm xét xử hiện nay của nước ta thì nhất thiết cần phải ban hành văn bản hướng dẫn để thống nhất lại vấn đề chủ thể của Tội hiếp dâm.
Cũng giống như Tội hiếp dâm, hiện nay trong khoa học pháp lý hình sự vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về chủ thể của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Có quan điểm cho rằng chủ thể của tội này chỉ là nam giới nhưng cũng có quan điểm cho rằng chủ thể của tội này có thể là nam hoặc nữ vì một trong những trường hợp là giao cấu có yếu tố thuận tình. Tuy nhiên như đã trình bày tại nội dung Chương 1 bài nghiên cứu, dù là người phạm tội giao cấu thuận tình hay không thuận tình với trẻ em thì chủ thể của tội này vẫn có thể là nam hoặc nữ giới đồng thời trẻ em nam hay trẻ em nữ thì vẫn phải được pháp luật bảo vệ như nhau. Đây cũng là một bất cập trong việc xác định chủ thể của tội này vì có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Như vậy, cần có văn bản hướng dẫn thống nhất lại vấn đề chủ thể của Tội hiếp dâm trẻ em.
Những năm gần đây ở nước ta, một dạng hành vi mua dâm mới xuất hiện đó là hành vi mua dâm giữa những người cùng giới tính. Vụ việc xảy ra như sau: một người dân ở thành phố Hồ Chí Minh vừa gửi đơn tố cáo đến Sở Lao động – thương binh và xã hội nói rằng cháu trai mình bị một ông giám đốc nhiều lần quan hệ tình dục dẫn đến bị nhiễm HIV. Đơn tố cáo sau đó đã được chuyển sang cơ quan công an để điều tra. Nội dung đơn tố cáo như sau: năm 14 tuổi qua môi giới của một người khác, cháu Thắng (sinh năm 1997 ở Gò Vấp) có gặp và quan hệ đồng tính với ông Minh (đã có vợ). Sau lần đó ông Minh có xin số điện thoại của Thắng để liên lạc. Từ năm 2011 đến năm 2013, ông Minh cùng Thắng vào khách sạn quan hệ nhiều lần. Có mấy lần ông Minh cùng rủ bạn bè quan hệ tập thể với cháu. Mỗi lần quan hệ xong ông ta trả cho Thắng từ 200.000 đến 500.000 đồng, tùy trường hợp chỉ quan hệ với ông hay nhiều người. Kết quả sau những lần đó, cháu Thắng đã bị nhiễm HIV và nhiều bệnh khác[16].
Hành vi mua dâm người đồng giới trong đó đối tượng bán dâm là người dưới 16 tuổi cũng là hành vi diễn ra khá phổ biến hiện nay và cũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần được qui định vào trong Luật hình sự là tội phạm.
2.2.2. Bấp cập về hành vi khách quan
Hành vi khách quan của Tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự) là hành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân được thực hiện thông qua các thủ đoạn khác nhau. Đây cũng chính là dấu hiệu rất quan trọng để phân biệt hai tội này với các tội xâm phạm tình dục khác. Tuy nhiên hiện nay việc xác định như thế nào là giao cấu lại còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng nên hiểu hành vi giao cấu ở phạm vi hẹp tức là chỉ có sự tiếp xúc giữa bộ phận sinh dục nam và nữ, tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng nên hiểu hành vi giao cấu theo phạm vi rộng hơn bao gồm cả các hành vi tình dục qua đường miệng hay đường hậu môn. Việc tồn tại nhiều quan điểm khác nhau như vậy gây rất nhiều khó khăn trong công tác xét xử cũng như xử lý tội phạm.
Cho đến nay chỉ mới có một văn bản duy nhất mô tả cụ thể về hành vi giao cấu. Đó là Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử về Tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án Nhân dân Tối cao.
Trong Bản tổng kết này đã đề cập đến khái niệm hành vi giao cấu như sau : “Giao cấu là chỉ cần có sự cọ xát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức nhấn vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không là Tội hiếp dâm được coi là hoàn thành, vì khi đó nhân phẩm danh dự của người phụ nữ đã bị chà đạp”. Có thể thấy rằng văn bản này đã hướng dẫn khá rõ về hành vi giao cấu cũng như đề cập được nạn nhân chỉ là nữ tức là thừa nhận chủ thể là nam giới, cũng như xác định được giai đoạn hoàn thành của Tội hiếp dâm, bên cạnh đó theo tinh thần của văn bản hướng dẫn này thì khi nói đến hành vi giao cấu là có hành vi tiếp xúc giữa bộ phận sinh dục nam và nữ.
Cách định nghĩa này đã được ban hành rất lâu rồi nhưng vẫn có một phần nội dung thể hiện được quan điểm tiến bộ, góp phần bảo vệ quyền tự do tình dục cũng như danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ và các cơ quan xét xử của nước ta hiện nay vẫn xét xử theo tinh thần nội dung của bản tổng kết này. Tuy nhiên văn bản này đã ra đời rất lâu và không còn hiệu lực để áp dụng, đồng thời quan điểm về chủ thể cũng như hành vi khách quan của Tội hiếp dâm cũng như hiếp dâm trẻ em cũng đã có nhiều sự thay đổi, chính vì vậy ta cần xem xét lại thế nào là hành vi giao cấu.
Để có thể hiểu thế nào là hành vi giao cấu thì trước tiên cần phải xác định được phạm vi của hành vi giao cấu. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “tình dục là hành vi tìm kiếm khoái cảm hoặc để sinh sản, có nội hàm rộng, không chỉ có nghĩa là giao hợp giữa người nam và người nữ mà còn bao gồm cả nhiều hành vi khác nhằm đem lại khoái cảm, bằng tay hay bằng miệng, ở vùng cơ quan sinh dục hay ở những bộ phận khác của cơ thể. Cũng vẫn là tình dục khi thực hiện hành vi tìm kiếm khoái cảm với bạn tình khác giới hay cùng giới với một hay nhiều hơn một người, tự mình gây khoái cảm (thủ dâm) hay gây khoái cảm cho nhau, mơ tưởng đến chuyện tình dục hay sử dụng dụng cụ chuyên dụng”[17].
Như vậy nếu theo cách hiểu về tình dục như vậy thì hành vi giao cấu nên hiểu theo nghĩa rộng tức là không chỉ là hành vi tiếp xúc giữa bộ phận sinh dục nam và nữ mà có thể là bằng tay hoặc bằng miệng…
Việc hiểu như thế nào là hành vi giao cấu rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến việc xác định đúng tội danh, giai đoạn thực hiện tội phạm cũng như quyết định hình phạt.
Vụ việc xảy ra vào trưa ngày 19/10/2012, Nguyễn Phước Thiện tổ chức uống rượu tại nhà cùng ông Phan Văn Dô và ông Phan Văn Thảnh. Uống được vài ly thì anh Thảnh về, một lúc sau Phùng văn Liêm đến. Khoảng 14h, ông Dô say nên nằm ngủ. Thiện và Liêm ngồi lại hút thuốc. Lúc này có cháu Dương Thị Cẩm Nhung sinh ngày 22/12/2004 ở cùng xóm qua nhà Thiện chơi. Thiện nảy sinh ý định quan hệ tình dục với Nhung nên kêu cháu Nhung đi vào buồng ngủ. Tại đây Thiện muốn quan hệ tình dục với cháu Nhung nhưng do âm hộ của cháu Nhung quá nhỏ nên Thiện chỉ dùng dương vật đưa ngoài âm hộ cháu Nhung. Khoảng 10 phút sau thì Liêm đi vào buồng, thấy vậy Thiện bỏ ra ngoài. Thấy cháu Nhung vẫn nằm trên giường không mặc quần nên Liêm nảy sinh ý định quan hệ tình dục với cháu Nhung, Liêm cởi quần ra và dùng ngón tay đưa vào bên trong âm hộ cháu Nhung, bị đau nên cháu Nhung đẩy Liêm ra thì Liêm đánh một cái vào mặt. Do bị đánh đau nên cháu Nhung khóc, còn Liêm vẫn chuẩn bị để thực hiện hành vi giao cấu thì bị bà Phan Thị Mưng (mẹ Thiện) phát hiện. Bị cáo Liêm thừa nhận nếu không bị bà Mưng phát hiện thì sẽ thực hiện hành vi giao cấu với cháu Nhung. Theo kết luận giám định số 221/GĐPY thì màng trinh của cháu Nhung bị rách ở điểm 2 giờ và 5 giờ. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử và tuyên Thiện phạm tội “dâm ô đối với trẻ em (Khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự) và Liêm phạm tội hiếp dâm trẻ em theo Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử Liêm và Thiện cùng phạm tội hiếp dâm trẻ em (Khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự) ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. (Bản án số 661/2013/HSPT ngày 25/6/2013 “về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 607/2013/HSPT ngày 8/5/2013 đối với bị cáo Nguyễn Phước Thiện và Phùng Văn Liêm” của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh)
Một vấn đề đặt ra nữa là khi quy định dấu hiệu trái ý muốn của nạn nhân trong luật có bao gồm cả trường hợp nạn nhân rơi vào tình trạng không thể biểu lộ được thái độ trái ý muốn của mình hay không (ví dụ như trường hợp cho nạn nhân dùng thuốc mê hay chuốc cho nạn nhân uống rượu say để thực hiện hành vi giao cấu thì nạn nhân không thể hiện được thái độ trái ý muốn của mình). Mặc dù thực tế các cơ quan áp dụng pháp luật đã áp dụng luật theo hướng dấu hiệu trái ý muốn của nạn nhân bao gồm cả trường hợp nạn nhân không biểu lộ được thái độ của mình. Tuy nhiên quy định của luật cần phải rõ ràng và chặt chẽ, tránh những lổ hỏng trong pháp luật dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Tại Điểm a Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 có qui định: “Dùng vũ lực, đe dọa dung vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thự hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ”. Thì hành vi “thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác” ở đây là quan hệ tình dục bằng miệng, qua đường hậu môn,… hay một hành vi cụ thể nào khác cần có văn bản hướng dẫn rõ ràng, chi tiết.
2.2.3. Bấp cập về loại cấu thành tội phạm
Có quan điểm cho rằng Tội hiếp dâm trẻ em là tội phạm có cấu thành vật chất, tuy nhiên quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận hiện nay là Tội hiếp dâm trẻ em là tội phạm có cấu thành hình thức vì vậy tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hết các hành vi khách quan được quy định trong luật, tuy nhiên việc xác định hành vi giao cấu là hành vi, mục đích hay hậu quả thì vẫn chưa có sự thống nhất. Việc chưa thống nhất trong cách xác định cấu thành tội phạm của hai tội danh này đã dẫn đến việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trên thực tế cũng chưa có sự thống nhất.
+ Trường hợp thứ nhất: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 01/01/2012 Đinh Văn Hoàng (sinh năm 1991) đi đám cưới tại nhà ông Quang ở ấp Tân Quảng Đông, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Cùng dự đám cưới có cháu Hồng Thị Như Quỳnh (sinh ngày 05/12/1999). Hoàng đến bàn Quỳnh xin làm quen và rủ Quỳnh nhảy nhạc nhưng Quỳnh không đồng ý. Quỳnh mượn điện thoại của chị bà con Nguyễn Huỳnh Như để nhắn tin cho người quen, Hoàng thấy vậy vừa hỏi mượn, vừa dùng tay lấy điện thoại của Quỳnh đang cầm đi ra khỏi đám. Quỳnh đi theo đòi lại nhưng Hoàng không trả và tiếp tục đi cách đám cưới khoảng 35 mét. Quỳnh chạy theo, Hoàng ôm Quỳnh và hôn vào miệng Quỳnh, dùng tay sờ ngực Quỳnh, Quỳnh đẩy Hoàng ra. Hoàng tiếp tục đẩy Quỳnh vào đám bạch đàn cách lộ khoảng 2 mét thì Quỳnh vấp ngã bất tỉnh. Hoàng dùng tay cởi nút quần jean và dây kéo quần của Quỳnh xuống, rồi đứng lên cởi dây thắt lưng và nút quần của Hoàng để thực hiện hành vi giao cấu với Quỳnh, lúc này ông Hồng Văn Tính đi tìm phát hiện Quỳnh đang nằm ngửa, còn Hoàng đang đứng mở thắt lưng với nút quần nên ông Tính đánh Hoàng và truy hô lên, Hoàng chạy về nhà và đến công an xã Nguyễn Việt Khái đầu thú. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 72/2012/HSST ngày 10/12/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tuyên phạt Đinh Văn Hoàng phạm Tội hiếp dâm trẻ em, áp dụng Khoản 4 Điều 112, Điểm b, o, p Khoản 1 và 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng 9 năm tù. Sau đó Hoàng kháng cáo và Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh áp dụng Khoản 1 Điều 112, Điểm b, o, p Khoản 1 và 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng 7 năm tù về Tội hiếp dâm trẻ em. (Bản án số 576/2013/HSPT ngày 28/5/2013 “về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 558/2013/TLPT – HS ngày 24/04/2013 đối với bị cáo Đinh Văn Hoàng” của tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh.)
+ Trường hợp thứ hai: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/04/2011, cháu Lê Thị Thùy Trinh (sinh ngày 17 tháng 11 năm 1999) sau giờ giải lao thì đi bộ ra đường Phạm Văn Chí mua bánh mì thì gặp Huỳnh Chí Hải (sinh năm 1973). Hải nói dối cháu Trinh là đi theo lấy đồ cho ba và sau đó thuê xe ôm chở hai người đến chung cư Hòa Bình, phường 14, quận 10. Tại chung cư Hải hù dọa bé Trinh là có mấy thằng “nghiện” ở đây và bảo Trinh xuống cầu thang thoát hiểm. Tại đây Hải kéo áo thun và áo ngực của Trinh ra nhưng Trinh không đồng ý và chống cự. Hải hù dọa Trinh “em muốn mình anh hiếp hay cả đám “nghiện” hiếp” và “muốn về nhà phải cho quan hệ giao cấu” nên Trinh sợ hãi không dám chống cự nữa. Sau đó Hải thực hiện hành vi giao cấu với bé Trinh. Sau khi nhận được tin báo, gia đình cháu Trinh và công an quận 10 phối hợp với bảo vệ chung cư Hòa Bình xem băng ghi hình thì phát hiện và bắt giữ Hải đang thực hiện hành vi phạm tội tương tự như trên đối với cháu Hà Bửu Liên. Cụ thể như sau: khoảng 9 giờ 50 phút ngày 16/4/2011, Hải thuê Honda ôm là anh Vũ chở Hải và cháu Liên (sinh ngày 25/2/1997) đến chung cư Hòa Bình để thực hiện hành vi hiếp dâm. Khi Hải đưa cháu Liên lên lầu 5 bảo cháu đứng chờ đợi để xuống gặp Vũ lừa gạt mượn tiền thì bị bảo vệ chung cư bắt giữ giao cho công an. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 325/2012/HSST ngày 12/9/2012 Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã áp dụng điểm d khoản 3 Điều 112, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 18, Điều 52, Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt Huỳnh Chí Hải 18 năm tù về “Tội hiếp dâm trẻ em”. Tại Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh lại không đồng quan điểm với bản án sơ thẩm về việc áp dụng Điều 18 và Điều 52, Điều 47 Bộ luật Hình sự về giai đoạn phạm tội chưa đạt “Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng như trên án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ xử phạt bị cáo Hải 18 năm tù, dưới khung hình phạt Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ. Xét án sơ thẩm cho rằng hành vi hiếp dâm Hà Bửu Liên là phạm tội chưa đạt là không đúng. Hiếp dâm là tội có cấu thành hình thức. Còn việc bị cáo không thực hiện hành vi giao cấu là ngoài ý muốn của bị cáo vì bị cáo bị bắt, không phải là phạm tội chưa hoàn thành như án sơ thẩm nhận định không có căn cứ pháp lý”. Vì vậy Tòa phúc thẩm đã tăng mức hình phạt từ 18 năm lên tù chung thân. (Bản án số 128/2012/HSPT ngày 23/11/2012 “về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2012/ HSPT ngày 18/10/2012 đối với bị cáo Huỳnh Chí Hải” của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh).
Như vậy trong hai trường hợp trên việc áp dụng giai đoạn phạm tội chưa đạt có sự khác nhau trong thực tiễn. Ở trường hợp thứ nhất, rõ ràng người phạm tội chưa hề thực hiện hành vi giao cấu thì đã bị phát hiện thì theo lý luận cũng như quan điểm của tác giả thì đây là trường hợp phạm tội ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Thế nhưng trong bản án sơ thẩm cũng như phúc thẩm lại không đề cập đến vấn đề này cũng như khi áp dụng điều luật để định tội danh cũng như quyết định hình phạt lại không áp dụng Điều 18 và Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ở trường hợp thứ hai thì cấp phúc thẩm và sơ thẩm có quan điểm trái chiều trong việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm đối với trường hợp nạn nhân là bé Liên. Trong hai quan điểm xét xử nêu trên, tác giả đồng ý với quan điểm xét xử của Tòa Sơ thẩm rằng đối với trường hợp bị cáo Hải hiếp dâm bé Liên thì Hải phạm tội ở giai đoạn chưa đạt chứ không phải giai đoạn tội phạm hoàn thành vì Hải chưa thực hiện được hành vi khách quan là hành vi giao cấu trái với ý muốn của bé Liên.
Từ những phân tích trên, cần có sự thống nhất về loại cấu thành tội phạm để việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong Tội hiếp dâm cũng như Tội hiếp dâm trẻ em trên thực tế được thống nhất.
2.2.4. Bất cập trong các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội khi thực hiện các hành vi xâm phạm tình dục đều là lỗi cố ý. Lỗi cố ý tức là người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả của hành vi đó và người phạm tội mong muốn thực hiện hành vi. Tuy nhiên trong các tội xâm phạm tình dục mà có đối tượng tác động là trẻ em thì trong lý luận đòi hỏi rằng để xác định được lỗi cố ý của người phạm tội, người phạm tội phải nhận thức được đối tượng mà mình đang hướng đến là trẻ em thì mới cấu thành các tội phạm này. Tuy nhiên thực tiễn xét xử hiện nay lại xét xử theo hướng dựa vào giới tính nạn nhân trên thực tế tức là nếu xác định nạn nhân là trẻ em thì người phạm tội sẽ phạm vào các tội xâm phạm tình dục mà đối tượng tác động là trẻ em, không phụ thuộc vào ý chí của người phạm tội là có biết hay không.
Một người khi thực hiện các hành vi xâm phạm tình dục người khác có thể biết nạn nhân là bao nhiêu tuổi vì một số lý do khác nhau như giữa người phạm tội và nạn nhân có quen biết nhau hay có quan hệ gia đình với nhau… Tuy nhiên có những trường hợp giữa nạn nhân và người phạm tội lại không quen biết nhau nên việc người phạm tội biết được độ tuổi của nạn nhân trong những trường hợp này là không khả thi. Tuy nhiên người phạm tội vẫn thực hiện hành vi của mình mà không quan tâm nạn nhân bao nhiêu tuổi, tức là người phạm tội biết hành vi xâm phạm tình dục là nguy hiểm, biết được rằng hành vi này sẽ gây ra những tổn hại nhất định cho nạn nhân nhưng người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện hành vi, tức là họ bất chấp nạn nhân là bao nhiêu tuổi, họ chấp nhận hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây ra. Vì vậy việc xét xử các hành vi này về các tội xâm phạm tình dục trẻ em khi trên thực tế nạn nhân là trẻ em là hoàn toàn có cơ sở, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm cũng như bảo vệ được quyền lợi của nạn nhân. Vì vậy trong những trường hợp này đồng tình với quan điểm thực tiễn xét xử hiện nay.
Tuy nhiên, nếu trên thực tế có những trường hợp đặc biệt trong đó nạn nhân thuận tình cho người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu nhưng lại bị nạn nhân lừa dối về độ tuổi thì lúc này cần phải xem xét khả năng nhận thức của người thực hiện hành vi về đối tượng tác động trong trường hợp này. Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu nếu thực tế người thực hiện hành vi chứng minh được là mình bị nạn nhân lừa dối về độ tuổi nên mới thực hiện các hành vi nguy hiểm và có những căn cứ cụ thể để chứng minh được thì lúc này sẽ giải quyết những trường hợp sai lầm.
Hiện nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành cụ Tội hiêp dâm trẻ em (Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015). Vì vậy, những bất cập trên cần được nhanh chóng giải quyết, góp phần đi đến thắng lợi trên con đường dấu tranh phòng, chống tội phạm.

2.3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

Nhằm đảm bảo công tác hoàn thiện pháp luật và công tác đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về tội phạm hiếp dâm trẻ em trong Bộ luật Hình sự 2015 và các Bộ luật Hình sự từ năm 1999 trở về trước, thực trạng về tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi trong những năm gần đây và thấy được những bất cập trong việc quy định và áp dụng, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị sau đây:
2.3.1 Thay đổi tư duy xét xử
Thứ nhất, Chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi không chỉ là nam. Trong lịch sử xét xử của Tòa án Việt Nam trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực cho thấy rất ít các vụ án xét xử chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nữ mà chủ yếu chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nam. Đa số các thẩm phán và các nhà làm luật đều cho rằng: chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nam. Hơn nữa, pháp luật chưa từng có văn bản nào thừa nhận hay hướng dẫn chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là chỉ là nam và bị hại chỉ là nữ giới. Rõ một điều rằng, các nhà “cầm cân nảy mực” của nước ta đang mang nặng một tư tưởng đi theo số đông và không dám tách mình ra khỏi số đông đó. Như những gì tác giả đã phân tích thì lối tư duy này vô cùng chai sạn và đã bị vo cứng. Đến khi Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực, với những quy định mới có hướng mở rộng hơn thì không thể duy trì cách nhìn nhận và lối tư duy xét xử như thế này được. Tuy nhiên, trên thực tế đã từng có vụ án xét xử chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi là nữ. Bằng chứng: “cuối tháng 9/2014, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đưa 2 bị cáo Nguyễn Minh Tâm (17 tuổi) và Trương Thị Mỹ Châu (23 tuổi) phạm tội Hiếp dâm trẻ em ra xét xử phúc thẩm. Trước đó, tại phiên tòa sơ thẩm, Trương Thị Mỹ Châu bị xử phạt 9 năm tù, còn Nguyễn Minh Tâm lãnh 8 năm tù[18]”. Không chỉ ở Việt Nam mà tại một số quốc gia trên thế giới cũng đã đưa ra xét xử các chủ thể nữ phạm tội hiếp dâm: “Tòa án tiểu bang Michigan, Mỹ đang xét xử một vụ án hiếp dâm hy hữu mà nạn nhân là một chàng trai 19 tuổi. Còn thủ phạm là cô gái 17 tuổi có tên Lestina Marie Smith. Theo Dailymail, Lestina Marie Smith xuất hiện trong phiên tòa hồi tuần trước với cáo buộc 2 lần tấn công tình dục cấp độ 1.Theo hồ sơ của cảnh sát, vào ngày 11/1 vừa qua, Lestina đã sử dụng dao để uy hiếp một thanh niên 19 tuổi và buộc thanh niên này phải quan hệ tình dục với mình. Hiện tại, Lestina đang bị giam giữ tại Nhà tù Saginaw và không được quyền bảo lãnh. Nếu bị kết án, cô có thể sẽ phải ngồi tù chung thân[19]”. Điều này cho thấy rằng đã có những nhà làm luật, những thẩm phán, cơ quan điều tra và viện kiểm sát vẫn đồng tình với quan điểm: chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bất kì người nào có đủ năng lực hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Phát huy tinh thần đó, các thẩm phán, cơ quan điều tra, viện kiểm sát cùng các nhà làm luật cần phải nhìn nhận chính xác và thoát khỏi những ý nghĩ duy ý chí, đi theo đa số. Với thực trạng hiện này thì nạn nhân của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi không chỉ là nữ mà còn là nam. Hơn thế, trên thực tế có vô số các vụ hiếp dâm người dưới 16 tuổi do nữ, người đồng tính nữ, người nữ chuyển giới sang nam thực hiện. Đối với người đồng tính nữ và người nữ chuyển giới sang nam thì giới tính sinh học được ghi nhận trong các giấy tờ vẫn là nữ, tuy nhiên xu hướng tính dục của họ là nam và có xu hướng thích quan hệ tình dục với nữ. Vì thế, nếu cứ duy trì một cách nghĩ và lối xét xử chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi chỉ là nam là một việc hết sức nguy hiểm, đe dọa đến sự gia tăng của tội phạm này, tạo điều kiện cho người nữ tiếp tục phạm tội và tạo ra sự bất bình đẳng trong pháp luật. Cần nhìn nhận rõ ràng và mạnh mẽ rằng: chủ thể của tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi là bất cứ người nào có đủ năng lực hành vi dân sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Có như vậy mới tạo ra sự công bằng trong pháp luật, không bỏ sót người phạm tội, kéo giảm tội phạm này. Điều nay như một hồi chuông cảnh báo những người phạm tội là nữ đã, đang và có ý định phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi phải kiểm Điểm lại hành vi sai trái của mình.
Thứ hai, Cần phải cân nhắc kĩ lưỡng và có chế tài nhẹ hơn đối với những chủ thể có những sai lầm khi ý thức về độ tuổi của nạn nhân.
Với sự phát triển của xã hội và nhu cầu vật chất ngày càng đầy đủ hiện nay thì nhiều bé gái dưới 16 tuổi nhưng đã phát triển như một thiếu nữ đã thành niên. Hiện nay nhiều trẻ em được tiếp xúc với nhiều hình ảnh dành cho người lớn từ các sách báo, phim ảnh. Chính những hình ảnh này đã tác động lên tuyến yên, buồng trứng và tử cung làm bé gái dậy thì sớm. Nhìn bề ngoài của một người từ 14 tuổi đến 15 tuổi hiện nay rất khó để nhận biết các em nằm trong độ tuổi này vì trông vào dáng vẻ bề ngoài thì không khác gì một nữ sinh 17, 18 tuổi. Chính vì những điều này đã làm cho những chủ thể của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi lầm tưởng rằng mình đang thực hiện hành vi sai phạm này với một người đã thành niên. Trong cơn khao khát tình dục và sự không làm chủ được hành vi của mình cùng với những gì mà người phạm tội trông thấy thì việc lầm tưởng về độ tuổi của nạn nhân là điều rất dễ xảy ra hiện nay. Ví như vụ án bị cáo Lê Tuấn Anh tại Hà Nội xảy ra vào ngày 28/05/2011 đã phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi vì sự sai lầm là được sự đồng ý của bạn gái và lầm tưởng rằng cô bạn gái đã thành niên. Tuy nhiên lúc thực hiện hành vi giao cấu thì cô bạn gái chỉ mới 12 tuổi 8 tháng 7 ngày nên Lâm vẫn phải lãnh án về tội hiếp dâm trẻ em. Và khi đưa ra xét xử thì mọi người đều sửng sốt với vẻ ngoài và giọng nói của một cô gái chưa đầy 13 tuổi mà không khác gì một thiếu nữ thành niên.[20]
Mặc khác, trong một số vụ việc giao cấu thuận tình với người 13 tuổi thì có nhiều trường hợp nạn nhân không khai thật tuổi của mình với người phạm tội, đó cũng là một lí do khiến người phạm tội sai lầm và phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Đã có ý kiến cho rằng: trường hợp người phạm tội không biết nạn nhân là người dưới 16 tuổi do sự lầm tưởng có căn cứ (dựa vào quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân, hình dáng bên ngoài của nạn nhân, thông tin do nạn nhân và người khác cung cấp, điều kiện và hoàn cảnh phạm tội) nếu thực tế khách quan nạn nhân là người dưới 16 tuổi và ý thức chủ quan của người phạm tội lầm tưởng rằng không phải là người dưới 16 tuổi thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm về tội hiếp dâm chứ không phải là hiếp dâm trẻ em. Tuy nhiên, nhóm tác giả không đồng tình với quan Điểm này. Trong trường hợp thực tế nếu có những vụ việc có sự lầm tưởng có căn cứ thì chủ thể thực hiện hành vi đủ điều kiện để cấu thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì vẫn xem là phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Nhưng trong trường hợp này cơ quan điều tra cần phải xem xét kĩ càng vấn đề và cơ quan xét xử cần xem xét một chế tài nhẹ nhàng, giảm mức hình phạt nhưng đủ sức răn đe người phạm tội.
2.3.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật
2.3.2.1 Nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn
Bộ luật Hình sự 2015 mới có hiệu lực và hoàn toàn chưa có một văn bản hướng dẫn cụ thể nào. Đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được quy định tại điều 142 thì có hai Điểm mới được ghi nhận. Thứ nhất, việc quy định hành vi khách quan vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được ghi nhận bằng cụm từ “hành vi quan hệ tình dục khác”, đây là một Điểm mới, hoàn toàn chưa được ghi nhận trong các Bộ luật Hình sự trước đây. Việc ghi nhận điều này gây ra nhiều sự tranh cãi, mông lung rằng những hành vi quan hệ tình dục khác là những hành vi nào? Và hành vi nào là vi phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi? Thứ hai, về định khung tăng nặng tại Khoản 2, Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 có ghi nhận rằng “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%” và tại Khoản 3 của điều luật này quy định “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân trên 46%”. Đây là hai điểm định khung tăng nặng hoàn toàn mới được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự 2015. Điều này cũng làm cho nhiều nhà làm luật, cơ quan tư pháp cũng như người dân chưa thể hiểu rõ để áp dụng cho đúng. Chính vì những lẽ đó, nhà nước cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể áp dụng Bộ luật Hình sự 2015 nói chung và điều 142 Bộ luật Hình sự nói riêng. Điều này sẽ có lợi trong việc hiểu luật và áp dụng luật một cách chính xác, trách xảy ra sự mâu thuẫn bởi cách sử dụng luật ở nhiều nơi khác nhau. Làm cho Bộ luật Hình sự 2015 tiến bộ hơn.
2.3.2.2 Điều chỉnh lại quy định pháp luật
Thứ nhất, cần điều chỉnh lại hình phạt đối với hành vi giao cấu và thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi. Tại Khoản 4, Bộ luật Hình sự 1999 có quy định: “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”. Tuy nhiên ở Khoản 1 Bộ luật Hình sự 2015 lại quy định “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi” thì chỉ phải chịu hình phạt tù từ 7 đến 15 năm. Việc ghi nhận cùng một hành vi khách quan vi phạm tội hiếp dâm trẻ em nhưng giữa Bộ luật Hình sự 1999 và Bộ luật Hình sự 2015 có sự chênh lệch quá lớn về hình phạt, giảm từ tội đặc biệt nghiêm trọng xuống tội rất nghiêm trọng. Việc quy định như vậy chưa thực sự thuyết phục và tạo được sức răn đe lớn đối với người đã, đang và sẽ có ý định phạm tội. Bởi vì người dưới 13 tuổi là người có tư duy và lối nghĩ vô cùng non nớt, với thể trạng sức khỏe yếu ớt và tâm lý vô cùng nhạy cảm. Việc xâm hại tình dục đối với người thuộc độ tuổi này cần được trừng trị một cách thích đáng. Chính vì những lẽ đó, hành vi giao cấu và thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi không thể ghép chung một hình phạt cùng với các hành vi khách khác của tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Cần phải quy định hành vi giao cấu và thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người dưới 13 tuổi thành một điểm định khung tăng nặng ở một Khoản khác, cụ thể là Khoản 2 với ghi nhận rằng “đối với người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi” cùng mức hình phạt từ 12 đến 20 năm tù. Bởi vì tại Khoản 3 đã có quy định nếu phạm tội đối với người dưới 10 tuổi thì gánh chịu hình phạt từ 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Việc ghi nhận này rất cụ thể, dễ hiểu và mức hình phạt được phân loại theo từng độ tuổi tạo nên sự thuyết phục cao, giàu sức răn đe người phạm tội.
Thứ hai, phân hóa hình phạt đối với hình vi hiếp dâm người chưa đủ 13 tuổi. Tại Điểm a Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 quy định rằng: “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi” với khung hình phạt từ 7 năm đến 12 năm tù. Nghĩa là dù giao cấu thuận tình hay không thuận tình (trái ý muốn) với người dưới 13 tuổi thì đều chịu một hình phạt như nhau. Nhóm tác giả thấy rằng việc quy định như vậy là chưa công bằng với người phạm tội. Vì nguyên tắc của luật Hình sự theo hướng có lợi cho người phạm tội. Như những gì nhóm tác giả đã phân tích ở mục 2.3.1 thì bởi vì có sự đồng thuận giao cấu của nạn nhân nên người phạm tội mới có cơ hội dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội, cùng với sự nhận thức sai lầm về độ tuổi của nạn nhân. Sự đồng thuận giao cấu của nạn nhân cũng là sự tiếp sức cho suy nghĩ lệch lạc, vi phạm pháp luậtcủa người phạm tội. Chính vì thế, Bộ luật Hình sự cần có sự phân hóa cụ thể về hinh phạt trong trường hợp “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi” có yếu tố thuận tình hay trái ý muốn.
Để tránh được những thiếu sót trong việc ban hành luật cũng như làm pháp luật hiệu quả nhất thì tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã nhấn mạnh rằng:
“Nâng cao trình độ và năng lực làm luật của Quốc hội. Tăng hợp lý tỉ lệ đại biểu chuyên trách, có trình độ, hiểu biết về pháp luật; xác lập cơ chế bảo đảm thực hiện quyền sáng kiến pháp luật của đại biểu Quốc hội; phát huy vai trò, trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội trong việc chuẩn bị, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn cách thức thảo luận, thông qua luật, pháp lệnh.
Tăng cường hoạt động giải thích luật, pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Tăng cường trách nhiệm của Chính phủ và các bộ trưởng trong việc chỉ đạo hoạt động xây dựng pháp luật. Chính phủ tập trung xem xét, quyết định những vấn đề mang tính quan Điểm, chính sách và những vấn đề liên ngành còn có ý kiến khác nhau; tăng cường kiểm tra đối với văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, ngành và địa phương ban hành để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Kiện toàn và nâng cao năng lực bộ máy giúp việc cho Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành trong công tác xây dựng pháp luật. Củng cố bộ phận pháp chế bộ, ngành, địa phương; thành lập Viện Nghiên cứu lập pháp của Quốc hội”.
Điều này cho thấy rằng Đảng và Nhà nước thật sự quan tâm đến việc kiện toàn pháp luật, song vẫn chưa làm được. Bằng chứng là các văn bản pháp luật mới được ban hành gần đây luôn có những sự thiếu sót đáng tiếc. Bộ máy ban hành pháp luật của nước ta cần đươc chú trọng hơn nữa và việc ban hành pháp luật cũng cần đầu tư cả về nội dung lẫn hình thức, cần xem xét và cần nhắc kĩ lưỡng trước khi ban hành để tránh có sự sai sót, làm mất lòng tin của nhân dân vào pháp luật và hiệu quả của pháp luật không cao.
2.3.3 Cơ quan tiến hành tố tụng cần xử lí hiệu quả tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi không nằm trong danh sách các tội chỉ được khởi tố vụ án khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của của bị hại dưới 18 tuổi, người có nhược Điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết[21]. Vì thế khi có vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi xảy ra trên thực tế thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải nhanh chóng tiến hành các hoạt động tố tụng và đưa người phạm tội ra ánh sáng pháp luật, trả lại sự công bằng cho bị hại. Trên thực tế đã xảy rất nhiều vụ án hiếp dâm người dưới 16 tuổi nhưng người phạm tội vẫn ngẩn ngơ trước pháp luật. Chẳng hạn như vụ án “ngày 11-02, Công an huyện Thới Bình (Cà Mau) cho biết đang làm rõ nguyên nhân dẫn đến cái chết của bé gái tên K. (13 tuổi), ngụ ấp 7, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình. Thông tin ban đầu, chiều 10-2, người nhà phát hiện em K. uống thuốc tự vẫn nên nhanh chóng đưa em đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau cấp cứu. Tuy nhiên, K. đã tử vong vào lúc 6 giờ sáng 11-02. Cũng theo gia đình nạn nhân, trước đó vào tháng 11-2016, gia đình K. đã tố giác em bị một người hàng xóm xâm hại tình dục và K. đã khai với cơ quan công an rằng, em đã nhiều lần bị xâm hại. Tuy nhiên, cơ quan công an đã không khởi tố vụ án hình sự vì cho rằng không có cơ sở. Theo người nhà nạn nhân, trước khi chết, K. có nói không muốn sống vì nhục nhã với hàng xóm[22]” là một ví dụ điển hình cho việc xử lí chưa thật sự có hiệu quả tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Cơ quan điều tra và Tòa án phải xử lí nghiêm minh, triệt để, nhanh chống đúng người, đúng tội để răn đe, giáo dục người phạm tội và toàn thể nhân nhân. Đặc biệt đối tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thì nhất quán không được phép lơ là, buông lơi tội phạm do tính chất và mức độ nguy hiểm của nó.
Cần phải ý thức và hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó. Trong nghị quyết số 48 NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đề cập rằng:
“Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân, bảo đảm toà án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh; phân định thẩm quyền xét xử của toà án sơ thẩm và toà án phúc thẩm phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử. Hoàn thiện cơ chế quản lý toà án nhân dân địa phương theo hướng bảo đảm tính độc lập giữa các cấp toà án trong hoạt động xét xử.
Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Nghiên cứu hướng tới chuyển thành viện công tố.
Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa trinh sát, điều tra ban đầu với hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra.” Làm được những điều đó thì pháp luật nước ta mới được xem là tiên tiến và người dân mới an tâm làm việc, tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế, làm giàu cho đất nước.
Thông qua Chương 2, xuất phát từ những tình trạng trong thực tiễn về vấn đề hiếp dâm người dưới 16 tuổi, từ đó tác giả đã chỉ ra những bất cập và một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn các quy định trong Bộ luật Hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Với những kiến nghị của tác giả, nó phù hợp với ý chí và nguyện vọng của người dân, làm cho Bộ luật Hình sự tiến bộ, đồng thời giúp cho việc tiến hành về tố tụng, xét xử dễ dàng hơn. Góp phần giúp cho công tác đấu tranh phòng chống tội đạt hiệu quả, giàu sức, răn đe, giáo dục người phạm tội cũng như mọi công dân khác để ngăn chặn và hạn chế tình trạng tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi diễn ra như hiện nay.
KẾT LUẬN
Một đất nước được xem là phát triển khi nước đó phát triển toàn diện các mặt như kinh tế, văn hóa, xã hội. Đối với mặt xã hội, thì không thể không nói đến tình trạng tội phạm ngày nay, trong đó có tội phạm hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Độ tuổi này được xem là chưa phát triển toàn diện về mặt thể chất lẫn tinh thần đồng thời trẻ em được xem là những mầm non tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt cho việc xây dựng đất nước sau này nên được pháp luật Việt Nam nói riêng và pháp luật của các nước trên thế giới nói chung bảo vệ và khi có tội phạm xảy ra thì xem xét và xử lí nghiêm khắc. Tuy nhiên ngày nay số lượng các vụ án xảy ra vẫn còn rất nhiều.
Qua đó, bài viết của tác giả về “Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi dưới góc độ pháp lý hình sự – Lý luận và thực tiễn” đã góp phần làm rõ được các yếu tố cấu thành tội phạm của tội phạm này và nhìn nhận chung các quy định về tội danh này qua các thời kì trong nước và quy định của một số nước trên thế giới. Từ đó, rút ra được những sự khác nhau để từ đó có thể học hỏi. Đồng thời đưa ra các vấn đề thực tiễn hiện nay, các bất cập và đưa ra một số kiến nghị từ đó góp phần vào việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em cũng như người phạm tội và nhằm hạn chế số lượng tội phạm này. Đối với tình hình tội phạm ngày này diễn ra ngày càng phức tạp đòi hỏi chúng ta cần phải tích cực, chủ động trong việc điều tra nghiên cứu để bổ sung và sửa chữa nhiều hơn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn) 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 1985.
  2. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 1999.
  3. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 2015.
  4. Bộ luật Hình sự nước Việt Nam 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
  5. Bộ luật Tố tụng hình sự nước Việt Nam 2003.
  6. Bộ luật Tố tụng hình sự nước Việt Nam 2015.
  7. Luật Thi hành án hình sự 2010:
  8. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
  9. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
  10. Nhà xuất bản Tư pháp, “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 – Phần các tội phạm – Quyển 1”:
  11. Từ điển tiếng việt, NXB Hồng Đức, 2010.
  12. Đinh Văn Quế, “Bình luận khoa học hình sự”, Trường ĐH luật Hà Nội, 22/08/2014 TS. Trần Văn Biên và TS. Đinh Thế Hưng (đồng chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB Thế giới, 2017.
  13. TSKH Lê Cảm, “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung)”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2007.
  14. TSKH Lê Cảm, “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2007.
  15. TS Nguyễn Ngọc Hòa, “Tội phạm và cấu thành tội phạm”, NXB Tư pháp, 2013.
  16. TS Nguyễn Xuân Yêm, “Tội phạm học Việt Nam”, tập 2, NXB Công an nhân dân.
  17. TS. Nguyễn Xuân Yêm, “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2001.
  18. Trần Quang Tiệp, “Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam”, NXB Tư pháp, 2003.
  19. Ngô Thị Oanh (chủ biên), “Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)”, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010.
  20. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia https://www.wikipedia.org/
  21. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp http://m7uoj.gov.vn/Pages/home.aspx
  22. Bộ luật Hình sự Thụy Điển.
  23. Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
  24. Bộ luật Hình sự Hà Lan.
  25. http://legislationline.org/download/action/download/id/4247/file/RF_CC_1996_am03.2012_en.pdf
  26. https://www.unicef.org/vietnam/vi/c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB%9Bc-li%C3%AAn-h%E1%BB%A3p-qu%E1%BB%91c-v%E1%BB%81-;quy%E1%BB%81n-tr%E1%BA%BB-em ;
  27. https://www.crin.org/en/home/rights/convention ;
  28. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0277953605001176 ;
  29. https://www.ohchr.org/EN/UDHR/Documents/UDHR_Translations/eng.pdf ;
  30. https://www.ncjrs.gov/App/Publications/abstract.aspx?ID=42792;
  31. https://digitalcommons.ilr.cornell.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1007&context=child .

[1]  Lê Đức Trịnh (2010), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em dưới góc độ pháp lý hình sự – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM.
[2] Cao Thị Mỹ Hằng (2010), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam -Lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM.
[3] Từ điển tiếng việt, trung tâm từ điển ngôn ngữ 1992
2 Trường Đại học Luật TP.HCM (2013), Giáo trình Luật Hình Sự Việt Nam – Phần các tội phạm (Quyển 1), Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 112. Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa luật (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,tr. 142. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011).
3 Nguyễn Đức Mai (Chủ biên) (2010), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 – Phần các tội phạm, Nxb Chính trị quốc gia, tr. 113.
[6] Trần Quán Anh, Nguyễn Bửu Triều (2002), Bệnh học giới tính nam, Nxb Y học, tr.395.
[7] Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, bản án số 5/2012/HSST ngày 13 tháng 1 năm 2012.
[8] Tòa án nhân dân tỉnh Binh Dương, bản án số 53/2012/HSST ngày 29 tháng 6 năm 2012.
[9] Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, bản án số 03/2012/HSST ngày 12 tháng 1 năm 2012.
[10] Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, bản án số 661/2012/HSPT ngày 20/7/2012.
[11] Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, bản án số 105/2012/HSPT ngày 21/11/2012.
[12] Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh, bản án số 576/2013/HSPT ngày 28/5/2013.
[13] http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/20140414/rinh-mo-o-ho-boi/602653.html
[14] Tòa Phú thẩm Tòa án Nhân Dân tối cao tại tp Hồ Chí Minh, bản án số 1177/2008/HSPT ngày 20 tháng 10 năm 2008 xét xử phúc thẩm “vụ án hình sự thụ lý số 1034/2008/HSPT ngày 1 tháng 10 năm 2008 đối với bị cáo Dinh jonathan peter”.
[15] http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/545500/3377352
[16]http://www.baomoi.com/Be-trai-bi-xam-hai-Ban-chat-la-hiep-dam-nhung-chi-xu-dam-o/104/13229651.epi
[17] Hội đồng biên soạn từ điển bách khoa (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam – Tập 2, Nxb Từ điển Bách khoa, tr. 117-118.
[18]http://www.doisongphapluat.com/dia-phuong/tin-phap-luat/nhung-phu-nu-tung-pham-toi-hiep-dam-a54061.html
[19] http://eva.vn/tin-tuc/thieu-nu-17-tuoi-doi-mat-voi-an-chung-than-vi-toi-hiep-dam-c73a297479.html
[20] https://www.tin247.com/duoc_ban_gai_cho_yeu_van_pham_toi_hiep_dam-6-21861064.html
[21] Khoản 1 điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
[22] http://eva.vn/tin-tuc/tin-nong-nghi-an-be-gai-13-tuoi-tu-van-vi-bi-xam-hai-c73a299102.html