Để chứng minh nhân dân quá hạn 15 năm có bị phạt không?

Chứng minh nhân dân là một loại giấy tờ tùy thân của công dân do cơ quan Công an có thẩm quyền chứng nhận về những đặc điểm riêng và nội dung cơ bản của mỗi công dân trong độ tuổi do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm thuận tiện việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân trong đi lại và thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.
 
Tại Điều 2 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP về CMND quy định: CMND có giá trị sử dụng 15 năm kể từ ngày cấp.
Khi hết thời hạn mà vẫn chưa đổi lại CMND thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Việc xử phạt được quy định tại Điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình như sau:
 

Điều 9. Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng CMND
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Không xuất trình CMND khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền;
b) Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về cấp mới, cấp lại, đổi CMND;
c) Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu hồi, tạm giữ CMND khi có yêu cầu của người có thẩm quyền.

 
Như vậy, theo quy định trên, người dân không đổi giấy CMND khi hết hạn sử dụng sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.
 
Nơi cấp, đổi lại CMND là cơ quan công an tại địa phương đăng kí hộ khẩu thường trú theo khoản 5 mục II Thông tư số 04/1999/TT-BCA hướng dẫn một số quy định của nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/2/1999 của chính phủ về CMND.
 

 … 5. Nơi làm thủ tục cấp CMND
a) Công dân thuộc diện được cấp CMND hiện đăng ký hộ khẩu thường trú thuộc địa phương nào do công an cấp huyện nơi đó làm thủ tục cấp CMND…

 
Theo đó, người dân đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương nào thì công an cấp quận/huyện tại địa phương đó có thẩm quyền cấp, đổi CMND/thẻ căn cước công dân cho bạn.

Thông tư liên tịch về phối hợp trong thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản

Ngày 12/6/2018, Bộ Tư pháp, VKSND tối cao, TAND tối cao ban hành Thông tư liên tịch 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định về việc phối hợp trong thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
 
Thông tư liên tịch này áp dụng đối với cơ quan TAND, VKSND, cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
 
Theo đó, Thông tư liên tịch trên hướng dẫn cụ thể thủ tục thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản trong các trường hợp:
– Tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án;
– Thi hành án trong trường hợp DN, HTX phá sản là người được thi hành;
– Chuyển giao, ra quyết định thi hành án, thẩm quyền của Chấp hành viên trong việc thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản;
– Giải thích quyết định của Tòa án giải quyết phá sản;
– Phí chuyển tiền;
– Ủy thác thi hành án;
– Định giá và định giá lại tài sản;
– Bán tài sản;
– Chấp hành viên giám sát hoạt động của Quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản khi thực hiện thanh lý tài sản còn lại của DN, HTX phá sản;
– Xử lý đối với tài sản thanh lý đã tổ chức bán trước khi có quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản;
– Giao tài sản, giấy tờ cho người mua được tài sản thanh lý;
– Phân chia tài sản sau khi bán đấu giá tài sản thanh lý;
– Bàn giao tài sản mà Quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản không bán được;
– Phí thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản;
– Đình chỉ và kết thúc thi hành quyết định tuyên bố phá sản;
– Gửi văn bản yêu cầu Quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài sản;
– Giải quyết khiếu nại việc thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản;
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản là người được thi hành án theo các bản án, quyết định đã có hiệu lực khác thì cơ quan thi hành án dân sự vẫn tiếp tục tổ chức thi hành theo quy định. Chấp hành viên đồng thời thông báo kết quả thi hành án cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để biết và Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản để có phương án phân chia tài sản thu được.
Ngoài ra, việc xử lý đối với tài sản thanh lý đã tổ chức bán trước khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp hợp tác xã phá sản được quy định cụ thể tại Thông tư như sau:
Trường hợp Thẩm phán quyết định việc bán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán sau khi mở thủ tục phá sản để bảo đảm chi phí phá sản theo quy định tại khoản 6 Điều 9 Luật Phá sản nhưng không bán được sau đó Thẩm phán mới ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản và chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành thì Chấp hành viên yêu cầu Quản tài viên tổ chức định giá tài sản theo quy định tại Điều 122,123 Luật Phá sản và bán đấu giá tài sản theo quy định.
Thông tư liên tịch 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC có hiệu lực từ ngày 01/08/2018.

Án phí chia tài sản chung của vợ chồng được tính như thế nào?

Án phí chia tài sản chung của vợ chồng được quy định tại các khoản b, c, d, đ, e khoản 5 ; điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể có 6 trường hợp như sau:
 
1. Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia;
2.  Trường hợp vợ chồng yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà Tòa án chấp nhận yêu cầu của vợ, chồng; nếu họ không thỏa thuận chia được với nhau mà gộp vào tài sản chung và có yêu cầu Tòa án giải quyết thì mỗi người phải chịu án phí dân sự tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia;
3. Trường hợp đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, quyết định trước khi Tòa án tiến hành hòa giải thì đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với việc phân chia tài sản chung;
4. Trường hợp Tòa án đã tiến hành hòa giải, tại phiên hòa giải đương sự không thỏa thuận việc phân chia tài sản chung của vợ chồng nhưng đến trước khi mở phiên tòa các bên đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ, chồng và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, quyết định thì được xem là các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án hòa giải trước khi mở phiên tòa và phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia;
5. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về việc chia tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng, Tòa án tiến hành hòa giải, các đương sự thống nhất thỏa thuận được về việc phân chia một số tài sản chung và nghĩa vụ về tai sản chung, còn một số tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung không thỏa thuận được thì các đương sự vẫn phải chịu án phí đối với việc chia toàn bộ tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng.
6. Trường hợp đương sự đề nghị chia tài sản chung mà cần xem xét việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản với bên thứ ba từ tài sản chung đó thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản họ được chia sau khi trừ đi giá trị tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba; các đương sự phải chịu một phần án phí ngang nhau đối với phần tài sản thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba theo quyết định của Tòa án.
 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Kinh nghiệm kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu có căn cứ do pháp luật quy định thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Viện kiểm sát (VKS) có trách nhiệm kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án.
 

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết định tạm dừng tiến hành các hoạt động tố tụng trong việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý khi có những căn cứ do pháp luật quy định. Khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn Tòa án lại tiếp tục giải quyết vụ án dân sự đó.’

 
Trên cơ sở kế thừa các quy định của BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), về cơ bản, các căn cứ tạm đình chỉ được BLTTDS năm 2015 đã nêu tương đối cụ thể trong đó bổ sung thêm ba căn cứ mới quy định tại các điểm đ, e, g khoản 1 Điều 214 BLTTDS:
“…
đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;
e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;
g) Theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản;…”
Như vậy, trong quá trình chuẩn bị xét xử, nếu có căn cứ do pháp luật quy định thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Viện kiểm sát (VKS) có trách nhiệm kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 194 BLTTDS năm 2011 thì quyết định tạm đình chỉ phải được gửi cho VKS cùng cấp trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định. Khoản 2 Điều 214 BLTTDS năm 2015 đã rút ngắn thời gian này, chỉ còn 03 ngày làm việc Tòa án phải chuyển quyết định tạm đình chỉ giải quyết sang cho VKS cùng cấp.
Nếu như BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 không quy định việc thông báo cho VKS biết vụ án đã được tiếp tục giải quyết, thì Điều 216 BLTTDS năm 2015 đã quy định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho VKS cùng cấp.
Qua thực tiễn, tác giả nhận thấy các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án đều phù hợp với quy định của BLTTDS. Tuy nhiên, với số lượng án dân sự, hôn nhân gia đình ngày càng tăng, tính chất vụ việc ngày càng phức tạp nhưng BLTTDS quy định thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa đối với án dân sự, hôn nhân gia đình là 06 tháng kể từ ngày thụ lý nên áp lực giải quyết án của Thẩm phán rất lớn, nhất là vào thời gian cuối năm thống kê của Tòa án (tháng 8 đến tháng 9 hàng năm), khi Tòa án tổng kết năm công tác, thường chạy theo chỉ tiêu thi đua, chỉ tiêu giải quyết án, số lượng án tạm đình chỉ giải quyết cao, Thẩm phán thường tạm đình chỉ theo quy định tại  điểm đ, điểm h khoản 1 Điều 214 BLTTDS với lý do: “Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án” hoặc lý do “đương sự đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đương sự đề nghị tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để bổ sung, cung cấp chứng cứ…”. Đây là giải pháp tình thế vì Thẩm phán muốn các bên hòa giải để công nhận thỏa thuận tránh việc kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại nên ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án để được tính lại thời hạn tố tụng giải quyết. Trong khi đó, Luật lại không quy định thời hạn tối thiểu đối với các quyết định tạm đình chỉ nên chính việc ra quyết định này ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Nếu chỉ kiểm sát trên nội dung của quyết định thì VKS khó có thể kiểm sát hết các trường hợp này, vì không thể nắm bắt các thông tin, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ, việc.
Hiện nay, công tác kiểm sát các quyết định tạm đình chỉ của VKS hai cấp cho thấy còn chưa kiểm sát chặt chẽ, chưa chủ động phát hiện kịp thời các vi phạm của Tòa án khi ra quyết định tạm đình chỉ, lý do tạm đình chỉ chưa phù hợp. Cụ thể như: (1) Chưa hết thời hạn chuẩn bị xét xử đã tạm đình chỉ vụ án; (2) chưa hết thời hạn của các cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại các điều 105, 106 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ; (3) tạm đình chỉ theo yêu cầu của đương sự nhưng không có căn cứ.
Vụ việc sau đây là một ví dụ:
Ngày 20/6/2017, anh Trịnh Văn H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Đào Thị K (cùng địa chỉ: Số nhà 406 đường B, quận TH, thành phố H). Ngày 26/6/2017, Toà án nhân dân quận TH, thành phố H thụ lý vụ án, đến ngày 25/12/2017, chị K có đơn xin tạm đình chỉ vụ án để đi công tác xa một thời gian. Cùng ngày, Toà án nhân dân quận TH, thành phố H áp dụng điểm h khoản 1 Điều 214 BLTTDS để ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình với lý do: Bị đơn có đơn xin tạm đình chỉ.
Ngày 03/01/2018, VKSND thành phố H nhận được phiếu kiểm sát kèm theo Quyết định tạm đình chỉ số 16/2017/QĐST-DS do VKSND quận TH, thành phố H chuyển lên. Ngày 04/01/2018, VKSND thành phố H yêu cầu Tòa án quận TH chuyển hồ sơ vụ án. Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, VKSND thành  phố H nhận thấy: Ngày 25/12/2017, chị K có đơn xin tạm đình chỉ vụ án để đi công tác xa một thời gian nhưng trong hồ sơ không có bất cứ tài liệu nào chứng minh chị K đi công tác, Tòa án quận TH đã không xem xét đề nghị đó có hợp lý không và có căn cứ không đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết là không đúng quy định của pháp luật.
Từ thực tiễn công tác, tác giả nêu một số kinh nghiệm để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát các quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hạn chế tình trạng Tòa án vận dụng quy định của pháp luật không chính xác, kéo dài thời hạn giải quyết:
Thứ nhất, về công tác lãnh đạo đơn vị đối với công tác kiểm sát các quyết định tạm đình chỉ. 
Cần chỉ đạo phân công một đầu mối cho cán bộ lập sổ sách theo dõi các quyết định tạm đình chỉ, khi nhận các quyết định phải có ký nhận, xác định thời gian nhận và kịp thời chuyển đến cho các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công kiểm sát quyết định.
Hàng tháng, cử cán bộ phối hợp với Tòa án  rà soát số liệu quyết định tạm đình chỉ để từ đó có biện pháp đôn đốc hoặc kiến nghị với Lãnh đạo Tòa án chỉ đạo các Thẩm phán tiếp tục giải quyết vụ án khi đã hết thời hạn hoặc lý do tạm đình chỉ  không còn.
Qua công tác kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H nhận thấy: Theo quy định tại điểm b Điều 476 BLTTDS năm 2015 quy định: Phiên tòa phải được mở sớm nhất là 09 tháng và chậm nhất là 12 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án. Ngày mở lại phiên tòa (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên tòa chậm nhất là 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 477 của Bộ luật này; tại khoản 4 Điều 477 BLTTDS năm 2015 quy định:
Tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và đến ngày mở phiên tòa đương sự ở nước ngoài không có mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ thì Tòa án hoãn phiên tòa. Ngay sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án thực hiện việc tống đạt thông qua các cơ quan này theo một trong các phương thức quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài phải thông báo cho Tòa án về kết quả thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Bộ Tư pháp nhận được văn bản của Tòa án, Bộ Tư pháp phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài trả lời về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài gửi về thì Bộ Tư pháp phải trả lời cho Tòa án.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chuyển văn bản của Tòa án cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được văn bản trả lời thì Bộ Tư pháp phải thông báo cho Tòa án biết để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Như vậy, tổng hợp thời hạn ủy thác tư pháp do BLTTDS năm 2015 quy định tại các điều 476, 477 thì thời hạn chậm nhất là 16 tháng (12 tháng + 01 tháng + 03 tháng) kể từ ngày Tòa án ra văn bản thông báo thụ lý thì Tòa án phải mở phiên tòa giải quyết vụ kiện. Việc Tòa án nhân dân thành phố H để vụ án đến ngày 21/7/2017, vẫn tạm đình chỉ giải quyết là không đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, về trách nhiệm của Kiểm sát viên được phân công kiểm sát các quyết định tạm đình chỉ.
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên được phân công kiểm sát vụ án phải lập phiếu kiểm sát theo đúng Mẫu số 14/DS theo Quyết định số 204/QĐ-VKSTC ngày 01/6/2017 của VKSND tối cao. Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cần:
Kiểm sát về thời hạn gửi quyết định tạm đình chỉ cho Viện kiểm sát: Xem xét Tòa án có gửi Quyết định cho Viện kiểm sát quá 03 ngày theo quy định của khoản 2 Điều 214 BLTTDS năm 2015.
Kiểm sát về hình thức quyết định: Xem xét quyết định được ban hành có đúng với Mẫu số 41-DS (tạm đình chỉ trước khi mở phiên tòa – thuộc thẩm quyền của Thẩm phán) hoặc Mẫu số 42 – DS (tạm đình chỉ tại phiên tòa – thẩm quyền của Hội đồng xét xử) theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Kiểm sát về nội dung của Quyết định: Xác định số, ngày thụ lý, đương sự có đúng với thông báo thụ lý vụ án đã nhận được trước đó hay không? Qua quan hệ tranh chấp, địa chỉ của các đương sự để xác định thẩm quyền giải quyết có đúng không (thẩm quyền về vụ việc, lãnh thổ, cấp). Xác định thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ là của Thẩm phán hay Hội đồng xét xử.
Kiểm sát về căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ: Xem xét lý do tạm đình chỉ có thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 hay không? Lý do tạm đình chỉ giải quyết phải được nêu cụ thể, rõ ràng, áp dụng điểm nào tại khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015. Nếu Tòa án tạm đình chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 thì phải vận dụng về thời hạn yêu cầu cung cấp chứng cứ hoặc thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 105, Điều 106 BLTTDS năm 2015. Nếu áp dụng điểm h khoản 1 Điều 214 BLTTDS “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” thì phải yêu cầu Tòa án nêu rõ lý do trường hợp khác cụ thể là trường hợp nào? Điều luật căn cứ, hoặc có chứng cứ, chứng minh lý do tạm đình chỉ là chính đáng hay không. Trường hợp Tòa án ghi lý do tạm đình chỉ chung chung, không cụ thể thì phải yêu cầu Tòa án nêu rõ lý do tạm đình chỉ trong quyết định nhằm tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền kháng cáo, VKS thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị.
Đây là một trong những quyết định thuộc thẩm quyền kháng nghị của VKS. Khi nhận được quyết định tạm đình chỉ của Tòa án chuyển sang VKS, thì VKS yêu cầu Tòa án chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án để VKS nghiên cứu một cách toàn diện, đảm bảo lý do tạm đình chỉ của Tòa án là có căn cứ, đúng pháp luật, đồng thời; đảm bảo thực hiện chức năng kiểm sát của VKS, kịp thời kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Như vậy, trên cơ sở đã xác định được các vi phạm như: Vi phạm về thời hạn gửi quyết định tố tụng cho VKS; vi phạm về hình thức ban hành quyết định; vi phạm về nội dung quyết định hoặc các vi phạm khác, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải tập hợp các vi phạm của Tòa án vừa xác định được, ghi vào phiếu kiểm sát, báo cáo đề xuất lãnh đạo thực hiện việc kiến nghị hoặc đề xuất kháng nghị nếu thấy có đủ căn cứ.
Thứ ba, về công tác phối hợp với Tòa án và các cơ quan ban ngành.
Tăng cường công tác phối hợp với Tòa án trong quá trình thụ lý, giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình. Đặc biệt, Tòa án và VKS hàng tháng cần tiến hành rà soát số vụ án tạm đình chỉ giải quyết để theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân khắc phục lý do tạm đình chỉ giải quyết và yêu cầu Thẩm phán nhanh chóng tiến hành tiếp tục giải quyết vụ án nếu lý do tạm đình chỉ vụ án dân sự, hôn nhân gia đình không còn. Qua rà soát, nếu thấy những vụ án đang tạm đình chỉ với lý do cần đợi kết quả trả lời của cơ quan chức năng có thẩm quyền mà thời hạn để quá lâu thì phối hợp với Tòa án mời các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan họp bàn, thống nhất giải quyết những vướng mắc để có văn bản trả lời và cung cấp chứng cứ để Tòa án kịp thời đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan không trả lời hoặc không cung cấp đầy đủ, tài liệu theo yêu cầu của Tòa án là vi phạm khoản 3 Điều 106 BLTTDS thì VKS ban hành kiến nghị để yêu cầu khắc phục vi phạm.
(Trích bài viết: Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự của tác giả Lê Thị Hồng Hạnh, VKSND Tp. Hà Nội. Tạp chí Kiểm sát số 09/2018).

Bình luận Tội trốn đóng bảo hiểm cho người lao động

Thời gian qua, các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) xảy ra ngày càng nhiều gây thiệt hại cho nhà nước và người lao động.
 
Hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động được hiểu là hành vi của người sử dụng lao động không tham gia BHXH, BHYT, BHTN theo quy định của pháp luật cho tất cả người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH, BHYT, BHTN kể từ khi đơn vị thành lập và đi vào hoạt động cho đến khi bị phát hiện, gây thiệt hại cho các quỹ BHXH cũng như cho quyền lợi của người lao động.
Hành vi không đóng BHXH, BHYT, BHTN cho đủ số người lao động được hiểu là hành vi của người sử dụng lao động tuy tham gia BHXH nhưng không phải cho toàn bộ người lao động và do vậy không đóng BHXH, BHYT, BHTN cho một bộ phận người lao động gây thiệt hại cho quỹ BHXH, BHYT, BHTN cũng như cho quyền lợi của người lao động. Người lao động không được đóng BHXH, BHYT, BHTN có thể không được đăng ký và không được đóng BHXH, BHYT, BHTN ngay từ đầu nhưng cũng có thể do ký hợp đồng lao động sau nhưng không được người sử dụng lao động đăng ký hồ sơ bổ sung vào danh sách tham gia BHXH, BHYT, BHTN.
Hành vi không đóng đủ mức BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động là hành vi của người sử dụng lao động đã cố ý lập chứng từ về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động không đúng theo hướng giảm so với thực tế để giảm mức đóng BHXH, BHYT, BHTN gây thiệt hại cho quỹ BHXH, BHYT, BHTN cũng như cho quyền lợi của người lao động.
Hành vi không đóng đúng hạn BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động là hành vi của người sử dụng lao động cố ý không nộp đúng hạn cho cơ quan bảo hiểm số tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN gồm tiền đã trích từ tiền lương, tiền công của người lao động và tiền mà người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động gây thiệt hại cho quỹ BHXH, BHYT, BHTN cũng như quyền lợi của người lao động.
Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý trong lĩnh vực bảo hiểm. Việc không tuân thủ nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN của người sử dụng lao động dẫn tới sự thâm hụt các quỹ BHXH, BHYT, BHTN. Hay nói cách khác, trật tự quản lý trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN phải được coi là khách thể bảo vệ của pháp luật hình sự và trong trường hợp bị xâm phạm ở mức độ đáng kể, quan hệ xã hội trong kinh doanh bảo hiểm trở thành khách thể của tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm.
Đối tượng tác động của tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN là các quỹ BHXH, BHYT, BHTN. Khách thể của tội phạm ở đây có thể bị xâm hại làm thâm hụt các quỹ BHXH, BHYT, BHTN.
Mặt khách quan của tội phạm
Thứ nhất, dấu hiệu hành vi khách quan.
Tội phạm thể hiện ở hành vi của người có nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định.
Hành vi vi phạm trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động của chủ sử dụng lao động là cố ý không tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động – không đóng BHXH, BHYT, BHTN cho tất cả người lao động.
Hành vi vi phạm ở đây là dưới dạng không hành động – không thực hiện một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc trong khi có đủ điều kiện thực hiện. Trước hết là không tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động, bắt đầu là hành vi không nộp hồ sơ tham gia BHXH, BHYT, BHTN và hệ quả (cũng là mục đích của người vi phạm) là không đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động.
Hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN và hành vi không đóng BHXH, BHYT, BHTN cho đủ số người lao động chỉ khác nhau là không đóng cho toàn bộ hay không đóng cho một bộ phận người lao động trong đơn vị. Cần lưu ý ở dạng hành vi này không phải là không tham gia mà chỉ là hành vi không đăng ký đủ hoặc không đăng ký bổ sung số người tham gia BHXH, BHYT, BHTN. Cụ thể: Mức không đăng ký đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự ở tội danh này không đóng đủ tối thiểu là 10 người.
Hành vi không đóng đủ mức BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động. Hành vi vi phạm ở đây là hành vi cố ý không đóng đủ mức BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động (đóng theo mức thấp hơn mức thực tế phải đóng) bằng thủ đoạn gian dối khác nhau. Theo Luật BHXH và Luật BHYT, chủ sử dụng lao động có nghĩa vụ phải đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động theo đúng mức tiền lương, tiền công của người lao động. Thủ đoạn gian dối để chủ sử dụng lao động đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động không theo mức tiền lương, tiền công thực mà họ đang hưởng mà theo mức thấp hơn có thể ở các dạng khác nhau. Trong đó bao gồm cả thủ đoạn “quên” điều chỉnh để đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động theo mức tiền lương, tiền công mới được tăng mà vẫn đóng theo mức cũ. Trong điều luật này cũng quy định cụ thể về mức tối thiểu người có nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động trốn đóng là từ 50.000.000 trở lên.
Lưu ý với tất cả những hành vi trên theo khoản 1 điều luật này phải đóng chậm hơn quy định ít nhất là 06 tháng.
Thứ hai, dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Hậu quả của tội phạm trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động đó là gây thâm hụt về quỹ BHXH, BHYT, BHTN. Những biểu hiện cụ thể về hậu quả của tội phạm này dẫn đến những rối loạn trong lĩnh vực bảo hiểm. Nhà nước sẽ không thu được đủ số tiền cần phải thu từ những người có nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN. Điều luật này cũng đã quy định về mức độ hậu quả thiệt hại cụ thể. Về số tiền: Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng trở lên, số người: Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người trở lên. Đặc biệt, vì tính chất riêng của điều luật liên quan đến pháp nhân, do đó điều luật cũng quy định cụ thể đối với pháp nhân phạm tội quy định tại điều luật này cũng như hình phạt cụ thể đối với mỗi mức vi phạm của pháp nhân.
Mặt chủ quan của tội phạm
Người thực hiện hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là nhận thức rõ về hành vi của mình là hành vi gian dối trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm, thấy trước được hậu quả của hành vi gian dối trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Không có hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động nào được thực hiện do lỗi cố ý gián tiếp. Biểu hiện mục đích của người phạm tội là của thu lợi, người phạm tội tìm cách trốn thực hiện nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm bắt buộc.
Chủ thể của tội phạm
Theo quy định, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc cho người lao động và người lao động cũng có trách nhiệm đóng BHXH, BHYT, BHTN cho chính mình (Điều 19 Luật BHXH, Điều 13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật BHYT). Tuy nhiên, chủ thể của hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN của người lao động chỉ là người sử dụng lao động.
Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động (quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật BHXH, khoản 4 Điều 2 Luật BHYT). Riêng người sử dụng lao động thuộc diện phải tham gia BHTN cho người lao động thuộc đơn vị mình khi sử dụng từ 10 lao động trở lên.
Như vậy, chủ thể của hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN theo quy định có thể là pháp nhân hoặc cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.
(Trích bài viết: “Bình luận tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo BLHS năm 2015”, của Ths. Lê Quang Thắng, Khoa cảnh sát kinh tế – Học viện Cảnh sát nhân dân. Tạp chí Kiểm sát số 9/2018)

Tái phạm và tái phạm nguy hiểm trong Bộ luật hình sự 2015

Tái phạm và tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự 2015 (BLHS 2015) (sửa đổi, bổ sung 2017), đây là tình tiết phản ánh đặc điểm về nhân thân người phạm tội:
 

Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

 

Quy định về “tái phạm và tái phạm nguy hiểm” qua các Bộ luật hình sự

So sánh quy định về “tái phạm” tại khoản 1 Điều 53 BLHS 2015 với khoản 1 Điều 49 BLHS 1999 là giống nhau. Còn nếu so sánh với quy định tại khoản 1 Điều 40 BLHS năm 1985, thì quy định về “tái phạm” tại khoản 1 Điều 53 BLHS 2015 nhà làm luật mở rộng đối tượng là tái phạm, tức là không có lợi cho người phạm tội. Bởi theo khoản 1 Điều 40 BLHS năm 1985 thì điều kiện để coi là tái phạm khi người phạm tội: “Đã bị phạt tù vì tội do cố ý, chưa được xoá án mà lại phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc tội ít nghiêm trọng do cố ý. Hoặc đã bị phạt tù về tội nghiêm trọng do vô ý, chưa được xoá án mà lại phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc tội do cố ý.”. Nghĩa là, người phạm tội bị coi là tái phạm khi đã bị phạt tù…, chưa được xoá án mà lại phạm tội…, còn theo quy định tại khoản 1 Điều 53 BLHS 2015, điều kiện để coi là “tái phạm” nếu người phạm tội đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý…. Điều đó có nghĩa là người bị Toà án xử phạt với bất cứ hình phạt chính nào (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ,…) chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý đều bị coi là “tái phạm”. Việc xác định tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt được quy định trong điều luật tương ứng của BLHS  năm 2015.
Về tình tiết “tái phạm nguy hiểm”, cũng giống như khoản 2 Điều 49 BLHS 1999, khoản 2 Điều 53 BLHS 2015 quy định về “tái phạm nguy hiểm” là có lợi hơn cho người phạm tội so với quy định tại khoản 2 Điều 40 BLHS năm 1985. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3[1] Điều 7 BLHS 2015; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13, ngày 29/6/2016 của Quốc hội khóa XIII về việc lùi hiệu lực thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 và bổ sung Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016, Toà án được áp dụng quy định này để xác định tái phạm nguy hiểm đối với người bị kết án trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016, nhưng sau thời điểm này chưa được xoá án tích mà lại phạm tội. Cần chú ý là việc xác định tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng là căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt được quy định trong điều luật tương ứng của BLHS 2015.
Đối với trường hợp được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 53 BLHS 2015, việc xác định một người là “tái phạm nguy hiểm” phải thỏa mãn các dấu hiệu sau:
– Một là, trước khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội đó đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Việc xác định dấu hiệu người phạm tội “đã bị kết án” cũng được xác định như trường hợp tái phạm. Tuy nhiên, tội phạm trước mà người phạm tội bị kết án chỉ giới hạn ở tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.
– Hai là, người bị kết án và bản án đã kết án đối với họ chưa được xóa án tích. Dấu hiệu này được xác định như trường hợp tái phạm.
– Ba là, người phạm tội lại phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Tội phạm này được thực hiện sau và được xét xử sau. Đồng thời, lần phạm tội này đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập do BLHS quy định.
Đối với trường hợp được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS 2015, cũng phải thỏa mãn các dấu hiệu sau:
– Một là, người phạm tội đã tái phạm. Có nghĩa rằng, trước lần bị đưa ra xét xử này, người phạm tội đã 02 lần bị kết án về tội phạm độc lập do BLHS quy định. Đồng thời, trong lần bị kết án thứ hai trước đó, người phạm tội đã bị áp dụng tình tiết “tái phạm”.
Trong thực tiễn, cũng có ý kiến khác nhau về căn cứ áp dụng để xác định dấu hiệu “đã tái phạm” , đó là, dựa vào quy định của BLHS hay căn cứ vào bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã xét xử . Cụ thể:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, dấu hiệu tái phạm phải được xác định bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi bản án đó chưa được xóa án tích, mà người này lại phạm tội mới thì mới bị coi là trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
+ Quan điểm thứ hai cho rằng, căn cứ quy định của BLHS hiện hành về “Tái phạm nguy hiểm”. Nghĩa là, nếu thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu để xác định tái phạm thì người phạm tội phải chịu tình tiết này, bất kể bản án kết tội đối với người phạm tội ở lần thứ 2 trước đó có kết luận người phạm tội tái phạm hay không. Bởi vì, theo khoản 1 Điều 53 BLHS 2015, tái phạm là “trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý”. Điều luật không đòi hỏi phải có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Xoay quanh vấn đề này, theo quan điểm của tác giả, mặc dù khoản 1 Điều 53 BLHS 2015 quy định về “tái phạm” tuy không nêu dấu hiệu phải được Tòa án xác định bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật và cũng chỉ nêu dấu hiệu để xác định“tái phạm” chứ không quy định chủ thể có thẩm quyền xác định người phạm tội đã tái phạm. Do vậy, khi quy kết trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ở lần thứ hai mà Tòa án không xác định người phạm tội “tái phạm” thì về nguyên tắc khi xét xử tội mới, Tòa án không được áp dụng “tái phạm nguy hiểm”. Nếu theo lô gíc hiểu vấn đề như vừa trình bày sẽ dẫn đến bản án của Tòa án kết án người phạm tội ở lần thứ hai phải được xem xét theo trình tự giám đốc thẩm. Khi lần phạm tội thứ hai được xét xử lại và bản án của Tòa án xác định người phạm tội đã “tái phạm” khi có hiệu lực pháp luật thì việc xem xét trách nhiệm hình sự của người phạm tội đối với lần phạm tội mới mới chính xác, đảm bảo ý nghĩa của hình phạt và tính công bằng trong việc xử lý trách nhiệm hình sự.
– Hai là, người bị kết án và bản án đã kết án đối với họ chưa được xóa án tích. Dấu hiệu này được xác định như trường hợp tái phạm và trường hợp thứ nhất của tái phạm nguy hiểm.
– Ba là, người phạm tội lại phạm tội do lỗi cố ý. Theo đó, tội phạm mới mà người phạm tội phạm phải là bất kỳ tội phạm cụ thể nào, có thể là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Dấu hiệu này chỉ đòi hỏi tội phạm đó là tội do lỗi cố ý, không bao hàm tội phạm do lỗi vô ý. Đồng thời, tội phạm này do người phạm tội thực hiện sau và được xử sau và lần phạm tội mới này đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập do BLHS quy định.
Như vậy, với quy định của BLHS và các phân tích trên “tái phạm, tái phạm nguy hiểm” thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra cao hơn so với trường hợp phạm tội không có tình tiết này.
 
Một vướng mắc khác cũng cần được làm rõ, đó là, đã “tái phạm nguy hiểm” chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý thì có thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm không? Xoay quanh vấn đề này, hiện có 2 loại ý kiến sau:
 + Loại ý kiến thứ nhất“tái phạm nguy hiểm” được quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS 2015. Mà theo đó, không có quy định với trường hợp đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý là “tái phạm nguy hiểm”. Cho nên, theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, trong trường hợp này, không nên áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” đối với người phạm tội.
+ Loại ý kiến thứ hai, điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS 2015, quy định“Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý” là tái phạm nguy hiểm. Do vậy, một người đã “tái phạm nguy hiểm” chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý thì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi mà họ gây ra chắc chắn sẽ lớn hơn. Cho nên, cần phải áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” đối với người phạm tội trong trường hợp này, mới phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 3 BLHS 2015 .
Theo quan điểm của tác giả, “tái phạm nguy hiểm” là dạng đặc biệt của “tái phạm”, thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn trường hợp tái phạm. Trong các trường hợp được xác định là “tái phạm nguy hiểm” như tại khoản 2 Điều 53 của BLHS 2015, thì tại điểm b có quy định “Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý”. Tuy quy định này chỉ đề cập đến “tái phạm” mà không quy định trường hợp“tái phạm nguy hiểm”, nhưng về logic sẽ là hợp lý hơn nếu áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm”. Chính vì lẽ đó, phần quy định chung của luật cũng cần quy định đã “tái phạm nguy hiểm” chưa được xóa án tính mà tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý cũng thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
 

Một số vướng mắc và kiến nghị

Một làđối với việc dùng thuật ngữ “tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý” tại điểm a khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015. Nghiên cứu quy định tai khoản 3 và khoản 4 Điều 9 BLHS năm 2015: “Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù”; “Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”. Mặt khác, các tội phạm rất nghiêm trọng có tội được quy định với lỗi cố ý (khoản 2 Điều 248,…), có tội được quy định với lỗi vô ý (khoản 3 Điều 260,…) nhưng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì chỉ có tội phạm được quy định với lỗi cố ý mà không tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định với lỗi vô ý. Do vậy, việc dùng thuật ngữ “tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý” là chưa sát với Phần các tội phạm cụ thể quy định trong BLHS năm 2015.
Hai làđối với điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015, theo nội dung quy định này, sẽ có trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý vẫn không được xác định là “tái phạm nguy hiểm”. Theo quy định tại Điều 9 BLHS năm 2015, có thể thấy tội phạm rất nghiêm trọng dù là lỗi phạm cố ý hay vô ý thì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bao giờ cũng cao hơn so với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng do cố ý. Đối với loại tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, nhà làm luật đã có sự cân nhắc khi quy định trách nhiệm hình sự. Cho nên, sẽ là rất khập khuyển khi xác định người phạm tội đã tái phạm mà lại phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng do cố ý là “tái phạm nguy hiểm”, ngược lại người phạm tội đã tái phạm mà lại phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý nhưng không coi là “tái phạm nguy hiểm”!
Để khắc phục bất cập này, tác giả kiến nghị bổ sung vào điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015 cụm từ “tội phạm rất nghiêm trọng do lỗi vô ý”. Mà theo đó, sau khi sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 53 được viết lại như sau:
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ýtội phạm rất nghiêm trọng do lỗi vô ý”.
Ba làvề phạm vi áp dụng của tình tiết “tái phạm”“tái phạm nguy hiểm” BLHS năm 2015 không có quy định mang tính loại trừ nên dẫn đến cách hiểu trong các trường hợp tái phạm có trường hợp tội phạm được thực hiện trước đó là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý và tội phạm thực hiện sau là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Trong khi đó, điểm a khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015, quy định tái phạm nguy hiểm là trường hợp“Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;”. Như vậy, sẽ có sự trùng lắp giữa quy định tại khoản 1 Điều 53 với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015 về “tái phạm” và “tái phạm nguy hiểm” khi tội phạm đã thực hiện trước đó là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý và tội phạm thực hiện sau là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Bên cạnh đó, như đã phân tích tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không thể tìm thấy do lỗi vô ý.
Từ những lý do phân tích trên, tác giả đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 53 BLHS năm 2015, như sau:
 

Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý.
2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý. Người đã tái phạm nguy hiểm mà lại phạm tội về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng.

 
[1] Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

Tình tiết "Phạm tội 02 lần trở lên" trong Bộ luật hình sự 2015

“Phạm tội 02 lần trở lên” trong Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc tình tiết định khung hình phạt trong rất nhiều tội phạm quy định tại các điều của các chương khác nhau mà trong một số điều luật thì tình tiết này có sự thể hiện nội dung và ý nghĩa khác nhau.
 
Chẳng hạn, Điểm d khoản 1 Điều 134 tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”; Điểm d khoản 2 Điều 141 tội “Hiếp dâm”; Điểm e khoản 2 Điều 142 tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; Điểm b khoản 2 Điều 143 về tội “Cưỡng dâm”;…
Nếu điều luật không quy định là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt thì tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS 2015.

Tình tiết Phạm tội nhiều lần trong Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009)

Trước đây, trong BLHS 1999, tình tiết này (phạm tội nhiều lần) được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48. Trong Luật Hình sự Việt Nam, nhà làm luật chưa đưa ra khái niệm chính thức thế nào là “Phạm tội nhiều lần”. Nhưng thông qua một số văn bản hướng dẫn từ phía các cơ quan tư pháp trung ương, giáo trình luật hình sự, tình tiết này được giải thích như sau:
Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 02/01/1998 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS thì:
 

… tình tiết “Phạm tội nhiều lần” quy định tại khoản 2 Điều 133, khoản 2 Điều 134a… (đối với một số tội phạm có tính chất tham nhũng và tội phạm liên quan đến tình dục) được hiểu là đã có tất cả từ hai lần phạm tội đó trở lên (hai lần phạm tội tham ô trở lên, hai lần phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN trở lên…) mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy định tại khoản 1 điều luật tương ứng, đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại, nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản.

 
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, do nhà xuất bản Công an nhân dân, 2001, tại trang 214 “Phạm tội nhiều lần là trường hợp thực hiện tội phạm mà trước đó người phạm tội đã phạm tội này ít nhất là một lần và chưa bị xét xử. hành vi phạm tội trong trường hợp này là sự lặp lại tội đã phạm trước đó nên có mức độ nguy hiểm cao hơn trường hợp bình thường.”
Tại Tiểu mục 2.3, Mục 2, Phần I Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT/BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 24/12/2007 của Bộ Công an – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII các “Tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999, thì:
 

Tình tiết “phạm tội nhiều lần” quy định tại khoản 2 các điều 193, 194, 195, 196, 197, 198, 200 và 201 của BLHS được hiểu là đã có từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần sản xuất trái phép chất ma túy trở lên, hai lần tàng trữ trái phép chất ma túy trở lên, hai lần bán trái phép chất ma túy trở lên…) mà mỗi lần phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 điều luật tương ứng, đồng thời trong số các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng chất ma túy của các lần cộng lại, nếu điều luật có quy định về số lượng chất ma túy để định khung hình phạt.

Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy đối với một người từ hai lần trở lên cũng bị coi là phạm tội nhiều lần.

 
Theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự,  thì, tình tiết “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 254 của BLHS được hướng dẫn như sau:
 

4.1.  Chỉ áp dụng tình tiết “Phạm tội nhiều lần” đối với người chứa mại dâm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a. Chứa mại dâm (không phân biệt tại một địa điểm hay tại các địa điểm khác nhau) một đôi hoặc nhiều đôi mua bán dâm khác nhau từ hai lần trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau (không phân biệt thời gian dài hay ngắn);
b. Chứa mại dâm hai đôi mua bán dâm trở lên độc lập với nhau trong cùng một khoảng thời gian;
c. Chứa mại dâm một người mua bán dâm với hai người trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau.
4.2. Không coi là phạm tội nhiều lần trong các trường hợp sau đây:
a. Chứa mại dâm một đôi mua bán dâm trong một khoảng thời gian liên tục;
b. Chứa mại dâm nhiều người (một nhóm) cùng đến mua bán dâm, nhưng chỉ một người trong số họ hoặc một số người trong số họ hoặc tất cả họ cùng nhau thoả thuận đứng ra giao dịch với người chứa mại dâm để trả tiền thuê địa điểm, phương tiện một lần và việc mua bán dâm diễn ra trong cùng một khoảng thời gian.

 

Vậy, “Phạm tội nhiều lần – Phạm tội 02 lần trở lên” hiểu thế nào cho đúng?

Tổng hợp các quan điểm trên và từ thực tiễn xét xử, theo quan điểm của tác giả tình tiết “Phạm tội nhiều lần – Phạm tội 02 lần trở lên” có thể được hiểu như sau:
i). Người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng, xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp, mà mỗi hành vi ấy đã có đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập (cùng là hành vi trộm cắp, hiếp dâm, lừa đảo…).
ii). Khi xét xử, các hành vi đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử hoặc bị xử lý bằng các hình thức khác (đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra…).
iii). Nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại.
 

Đặc điểm của “Phạm tội 02 lần trở lên”

Xét về bản chất của tình tiết “Phạm tội nhiều lần” nay là “Phạm tội 02 lần trở lên” có các đặc điểm sau:

  • Một là, phạm tội 02 lần trở lên là người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng hoặc nhiều đối tượng khác nhau (ví dụ: nhiều lần trộm cắp, nhiều lần hiếp dâm…).
  • Hai là, nếu tách ra từng hành vi phạm tội riêng lẽ thì mỗi hành vi ấy đã đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập.
  • Ba là, tất cả các hành vi phạm tội đó đều được quy định tại một điều luật cụ thể trong phần riêng BLHS (cùng là tội trộm cắp, hiếp dâm…), có thể cùng một khoản, cũng có thể phạm tội ở các khoản khác nhau của cùng một điều luật.
  • Bốn là, các hành vi phạm tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật, như: Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án… và cùng bị đưa ra xét xử một lần trong cùng một vụ án.
  • Năm là, nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại.

Tuy nhiên, việc áp dụng tình tiết “Phạm tội nhiều lần” hay “phạm tội 02 lần trở lên” vào từng trường hợp cụ thể không phải đều giống nhau và tùy theo các tội phạm cụ thể nên nội dung, ý nghĩa của tình tiết này có thể khác nhau. Cụ thể:
Theo quy định tại điểm 3.3, khoản 2 Mục I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS thì:
 

Đối với nhiều lần làm hoặc tàng trữ hoặc vận chuyển hoặc lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả thì cần phải lấy tổng số lượng tiền giả của tất cả các lần phạm tội cộng lại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ; nếu trong các lần phạm tội đó có trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì không xem xét trách nhiệm hình sự đối với trường hợp đó (không cộng số lượng tiền giả của lần phạm tội đó); nếu có hai lần phạm tội làm hoặc tàng trữ hoặc vận chuyển hoặc lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả trở lên thì ngoài việc cộng số lượng tiền giả của các lần phạm tội để xem xét trách nhiệm hình sự đối với họ, còn phải áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS.

 
Vậy, với trường hợp theo quy định tại BLHS 2015, người bị buộc tội theo “Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả” (Điều 207); “Làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác” (Điều 208); … khi điều tra, truy tố, xét xử liệu các cơ quan tiến hành tố tụng có được áp dụng tinh thần hướng dẫn tại Thông tư trên không? Bởi tại các điều luật vừa trích dẫn, nhà làm luật không quy định “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết định khung tăng nặng tại các điều luật tương ứng, nên sẽ khó khăn khi áp dụng vào thực tiễn. Tương tự như vậy, trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy, không phải bất cứ vụ án cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản; cướp giật tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản;…đều được cơ quan điều tra phá án thành công, đều đó đồng nghĩa với việc trong những trường hợp vừa nêu, Tòa án khi xét xử chỉ có thể áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội trong khung hình phạt đó, mà không thể là tình tiết định khung. Điều này là không hợp lý, không bảo đảm sự công bằng, bình đẳng trước pháp luật.
Chẳng hạn, một người 02 lần phạm tội “Xâm phạm quyền bình đẳng giới” và 02 lần phạm tội đó bị đưa ra xét xử trong cùng một lần thì người phạm tội đó chắc chắn bị Tòa án áp dụng tình tiết tăng nặng định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 165 BLHS 2015, trong khi đó, một người đã 02 thực hiện hành vi cướp tài sản, nhưng không là trường hợp phạm tội chuyên nghiệp, lần phạm tội trước đó do may mắn trốn thoát, Tòa án đưa ra xét xử 02 lần phạm tội này trong cùng một vụ án, theo khoản 1 Điều 168 BLHS 2015, như vậy về nguyên tắc, Tòa án chỉ được coi tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 và như vậy, mức hình phạt cũng chỉ nằm trong khung quy định của khoản 1 của Điều luật đang áp dụng đối với tội danh đó, mà không được chuyển khung. Rõ ràng là không công bằng, không bảo đảm sự bình đẳng như tinh thần của điểm b khoản 1 Điều 3 BLHS 2015 đã quy định.
Từ phân tích trên, tác giả đề nghị cùng với việc rà soát, sửa đổi, bổ sung BLHS 2015, tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” cần được quy định trong các điều luật quy định tội phạm cụ thể, với ý nghĩa đó là tình tiết phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để có xác định khung hình phạt phù hợp hơn.
 

Nguồn: Phạm Thị Hồng Đào – Văn phòng luật sư Thạnh Hưng

Mức án phí yêu cầu tuyên giao dịch bảo đảm vô hiệu?

Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có tài sản bảo đảm thì họ phải chịu án phí như thế nào? Hiện vẫn có những quan điểm khác nhau về mức án phí.
 

Nội dung vụ án:
Ngày 08/6/2012, Ngân hàng ĐT ký hợp đồng tín dụng cho Công ty QN vay 15.000.000.000  đồng trong thời hạn 12 tháng để bổ sung vốn điều lệ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Để bảo đảm cho khoản vay, giữa Ngân hàng, Công ty QN và các bên thứ 3 đã ký kết 9 hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Các hợp đồng bảo đảm đều được ký kết và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Sau khi vay vốn, Công ty QN đã trả được số tiền gốc là 4.792.000.000 đồng, sau đó không trả được nợ. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty QN trả nợ cả gốc và lãi tính đến ngày 22/12/2017 (ngày xét xử sơ thẩm) số tiền 14.774.486.613 đồng. Trường hợp không trả được nợ, Ngân hàng được yêu cầu xử lý phát mại 9 tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Những người có tài sản bảo đảm không đồng ý phát mại tài sản bảo đảm, có đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu, buộc Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận QSD đất cho họ.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc Công ty QN trả nợ và phát mại tài sản bảo đảm của người thứ ba trong trường hợp Công ty QN không trả được nợ. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của 9 người có tài sản bảo đảm, buộc mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu độc lập không được chấp nhận.

 
Về việc tuyên nghĩa vụ chịu án phí đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu không được chấp nhận, hiện có hai quan điểm khác nhau, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, mặc dù đây là vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại, nhưng quan hệ về kinh doanh thương mại chỉ phát sinh giữa Ngân hàng và Công ty QN (cả hai bên trong quan hệ này đều là tổ chức có đăng ký kinh doanh và có mục đích lợi nhuận). Còn mối quan hệ giữa Ngân hàng và người thứ ba có tài sản bảo đảm chỉ là quan hệ dân sự vì người có tài sản bảo đảm đều là cá nhân không có đăng ký kinh doanh, việc họ cho Công ty QN mượn tài sản là quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn Ngân hàng xuất phát từ mối quan hệ gia đình, bạn bè chứ không có mục đích lợi nhuận. Tức là không đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí của một vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại quy định tại Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Vì vậy, đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu không được chấp nhận, người yêu cầu chỉ phải chịu mức án phí 300.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không được chấp nhận mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí là có căn cứ, đúng pháp luật.
 
Quan điểm thứ hai cho rằng, đây là vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại. Trong vụ án này, Tòa án xác định có hai vấn đề phải giải quyết, một là yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc Công ty QN phải trả nợ; hai là yêu cầu phát mại tài sản của người thứ ba trong trường hợp Công ty QN không trả được nợ cho Ngân hàng. Đây là hai nội dung không thể tách rời khi xem xét giải quyết vụ án này. Do đó, đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu cũng là tranh chấp về kinh doanh thương mại theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Vì vậy, theo quy định tại khoản 1, khoản 6 Điều 26 và tiểu mục 1.2 mục 1 phần II Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tòa án cần buộc 9 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không được chấp nhận mỗi người phải chịu 3.000.000 đồng án phí không có giá ngạch. Việc cấp sơ thẩm chỉ buộc 9 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không được chấp nhận mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí là không đúng quy định của pháp luật.
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất.
Rất mong nhận được ý kiến chia sẻ của các chuyên gia, đồng ngiệp và bạn đọc về vấn đề này.
 

Trịnh Duy Tám – VKSND tỉnh Vĩnh Phúc

Những điểm mới về tạm giam theo quy định của BLTTHS năm 2015

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, tạm thời tước tự do, do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp do luật định. BLTTHS năm 2015 có nhiều quy định mới khắc phục những hạn chế của BLTTHS năm 2003 về chế định này.
 

Mục đích của tạm giam là ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án được tiến hành đúng đắn, còn hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước do Tòa án áp dụng nhằm trừng phạt người phạm tội và nhằm mục đích cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội.
Tạm giam là biện pháp có tính chất lựa chọn “có thể áp dụng” tức là không phải bắt buộc áp dụng đồng loạt cho mọi bị can, bị cáo khi đã có đủ căn cứ mà những căn cứ chỉ là điều kiện đủ để áp dụng tạm giam.

 

Những điểm mới về biện pháp ngăn chặn tạm giam của BLTTHS năm 2015

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về biện pháp ngăn chặn tạm giam ở những nội dung sau.
Một là, ngoài căn cứ bỏ trốn và tiếp tục phạm tội như trong BLTTHS năm 2003 đã quy định thì BLTTHS năm 2015 còn quy định thêm “có dấu hiệu bỏ trốn” (điểm c khoản 2) hoặc “hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội” (điểm d khoản 2), bỏ những căn cứ mang tính chất chung chung, khó xác định cụ thể như “cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử”, “cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử” thay vào đó là những căn cứ mang tính định lượng cụ thể như “đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm”, “không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can”, “có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án, đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giá tội phạm và người thân thích của những người này”.
Việc sửa đổi các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong BLTTHS năm 2015 là rất quan trọng. Bởi lẽ, quy định như vậy sẽ góp phần hạn chế sự tùy tiện, lạm dụng áp dụng biện pháp tạm giam trong quá trình giải quyết vụ án. Đáp ứng được đúng yêu cầu của Đảng và nhà nước đã được thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là “Xác định rõ căn cứ để tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm”.
 
Hai là, nhằm khắc phục vướng mắc trên thực tế áp dụng BLTTHS năm 2003 khi xảy ra tình trạng, những bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng có mức phạt tù quy định trong Bộ luật Hình sự dưới 2 năm thì không thể áp dụng biện pháp tạm giam được; điều này gây khó khăn trong thực tiễn giải quyết vụ án. Bởi vì, trên thực tế có những đối tượng phạm tội ít nghiêm trọng như: Trộm cắp giá trị nhỏ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giá trị nhỏ… nhưng bỏ trốn khi bị khởi tố, tiếp tục phạm tội ít nghiêm trọng… thì các cơ quan tiến hành tố tụng không thể áp dụng biện pháp tạm giam được. Khắc phục nhược điểm này, BLTTHS năm 2015 đã quy định thêm một trường hợp tạm giam, đó là: “Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã”.
 
Ba là, BLTTHS năm 2015 đã có sửa đổi về thời hạn tạm giam theo hướng hạn chế số lần gia hạn và thời hạn tạm giam được gia hạn. Theo đó, đối với việc áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn điều tra thì việc gia hạn được quy định như sau: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
Thẩm quyền gia hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng có sửa đổi trong hai trường hợp: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Cụ thể, đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn 02 lần với tổng thời gian tạm giam được gia hạn không quá 08 tháng. Trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia thì thời hạn tạm giam được Viện tưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao gia hạn được quy định rõ hơn là không quá 04 tháng. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung trường hợp đặc biệt khi không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với bị can thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra./.
 
(Trích bài viết:“Biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của BLTTHS năm 2015 của tác giả Hoàng Tám Phi, nghiên cứu sinh, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Kiểm sát số 7/2018).

Các hành vi bị nghiêm cấm trên không gian mạng

Với đa số phiếu tán thành, sáng 12/6, Quốc hội đã bỏ phiếu thông qua Luật An ninh mạng, gồm 7 Chương, 43 Điều quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2019.
 
Theo đó, Luật An ninh mạng đã dành Điều 8 quy định về các hành vi mà người sử dụng dịch vụ bị nghiêm cấm thực hiện trên không gian mạng.
1. Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây:
– Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này về tấn công mạng hoặc có liên quan đến tấn công mạng;
– Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
– Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;
– Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;
– Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng;
– Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;
2. Thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia;
3. Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác;
4. Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng;
5. Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi;
6. Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.
Người nào có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.