Danh mục các trận đấu, giải bóng đá quốc tế được đặt cược năm 2018

Bộ VH-TT&DL vừa ban hành Quyết định số 1064/QĐ-BVHTTDL ngày 28/3/2018 công bố Danh mục các trận đấu, giải thi đấu bóng đá quốc tế được lựa chọn làm căn cứ kinh doanh đặt cược năm 2018 (đợt 1).
 
Theo đó, có 09 trận thi đấu bóng đá quốc tế được tổ chức đặt cược, trong đó có: Trận đấu giữa hai đội tuyển của hai liên đoàn bóng đá quốc gia thuộc hai quốc gia khác nhau; Trận đấu giữa đội tuyển bóng đá quốc gia với một đội tuyển bóng đá trực thuộc hai liên đoàn bóng đá quốc gia khác nhau; Trận đấu có 02 câu lạc bộ bóng đá thuộc 2 liên đoàn bóng đá quốc gia khác nhau…
 
Có 15 giải thi đấu bóng đá quốc tế được tổ chức đặt cược, trong đó có: Giải bóng đá vô địch Thế giới – 2018 FIFA World Cup Russia; giải bóng đá vô địch các câu lạc bộ Châu Á – 2018 AFC Champion league; giải bóng đá vô địch Đông Nam A – 2018 AFF Suzuki Cup; giải bóng đá nữ vô địch U-20 Thế giới; giải bóng đá nữ vô địch U-17 Thế giới; giải bóng đá nữ vô địch Châu Á…
Quyết định này được ban hành và có hiệu lực từ ngày 28/3/2018.
 
Xem chi tiết Quyết định và danh mục các giải đấu tại đây
 

Nguồn: Tạp chí kiểm sát (kiemsat.vn)

Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên

Trong những năm gần đây, tình trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật xảy ra có chiều hướng gia tăng và khá phổ biến, có những vụ án do người chưa thành niên gây ra mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng gây hoang mang trong dư luận xã hội. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là một việc khá phức tạp bởi người chưa thành niên còn có nhận thức chưa đầy đủ, hành vi của họ thường mang tính bột phát do bị lôi kéo hoặc kích động, hoặc chưa đủ khả năng làm chủ hành động của mình, hơn nữa họ còn có một tương lai dài phía trước. Do đó, không thể áp dụng các biện pháp xử lý người chưa thành niên phạm tội giống như những người đã thành niên.

 

1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên 

1.1. Khái niệm người chưa thành niên 

Pháp luật ở mỗi quốc gia khác nhau quy định khái niệm người chưa thành niên khác nhau. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổithành niên sớm hơn”. Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến Pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của ngườichưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể. Theo Điều 1 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.

Có thể đưa ra khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.

Ở Việt Nam, tuổi kết nạp Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh là từ 10 đến 15 tuổi, tuổi kết nạp Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là từ 15 đến 30 tuổi. Trong tuổi Đoàn gọi là thanh niên, trong tuổi Đội là thiếu niên, dưới tuổi Đội gọi là nhi đồng. Ở mỗi lứa tuổi, người chưa thành niên được Nhà nước và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục để phát triển tốt nhất về thể chất và nhân cách, trở thành người khỏe mạnh, có ích cho xã hội

1.2. Đặc điểm tâm lí của người chưa thành niên 

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Chính vì vậy mà họ có những đặc điểm riêng về tâm lý; Về trạng thái cảm xúc: Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển cả về sinh lí, tâm lí và ý thức; Về nhận thức pháp luật: khả năng nhận thức về pháp luật của người chưa thành niên còn nhiều hạn chế. Một phần không nhỏ người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú không đúng đắn của cá nhân, không quan tâm đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội; Về nhu cầu độc lập: Nhu cầu độc lập có thể được hiểu là việc cá nhân tự hành động và tự ra quyết định theo ý kiến riêng mà không muốn bị ảnh hưởng của người khác. Ở lứa tuổi chưa thành niên, nhu cầu độc lập thái quá thường biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các hành vi như ngang bướng, cố chấp, dễ tự ái, gây gổ, phô trương. Về nhu cầu khám phá cái mới: Tìm hiểu, khám phá cái mới là một trong những nhu cầu của các em ở lứa tuổi chưa thành niên. Tuy vậy, sự tò mò và khám phá cái mới cũng có thể trở thành một trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em.

1.3. Khái niệm trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên
Qua phân tích khái niệm trách nhiệm hình sự, khái niệm người chưa thành niên ta có thể rút ra khái niệm trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên như sau: Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên là trách nhiệm mà người chưa thành niên phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình.

 

2. Thực trạng về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội 

2.1. Một số quy định của pháp luật về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

2.1.1. Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội 

Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 91 BLHS 2015, có các nguyên tắc cụ thể như sau: Thứ nhất, so với Điều 69 BLHS 1999, Điều 91 BLHS năm 2015 bổ sung nguyên tắc:“Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” (khoản 1, Điều 91). Đây là nguyên tắc định hướng, nội dung của nguyên tắc này là đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân, khi tiến hành một hoạt động liên quan đến việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội cần bảo đảm rằng quyết định đó là tốt nhất cho trẻ em trong mối quan hệ hài hòa với các lợi ích khác cũng như bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật.

Như vậy mục đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là để giáo dục, giúp họ sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội chứ không đề cập trực tiếp đến mục đích trừng trị. Do đó ta cần hiểu rằng, đối với người chưa thành niên, nếu như hành vi mà họ thực hiện bị BLHS coi là tội phạm nhưng việc có đưa ra truy tố xét xử hay không là việc mà các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải xem xét, cân nhắc và ngay trong giai đoạn này mục tiêu giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên cũng phải được đặt lên hàng đầu. Để thực hiện được nguyên tắc này, khi người chưa thành niên phạm tội các cơ quan tư pháp phải xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Việc làm này sẽ giúp người chưa thành niên phạm tội nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc về hành vi của mình có như vậy mới có thể giúp họ sửa chữa lỗi lầm và trở thành người có ích cho xã hội.

Thứ hai là điều kiện miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thấp hơn so với người thành niên phạm tội.

Trên cơ sở kế thừa quy định tại khoản 2, Điều 69 của BLHS năm 1999 về miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên, khoản 2, Điều 91 của BLHS năm 2015 quy định người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp theo quy định của pháp luật và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục.

Theo đó, các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục gồm: người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại các điều: Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy). Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật tức là phạm tội rất nghiêm trọng thuộc một trong 28 tội danh mà BLHS năm 2015 quy định đối tượng này phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại các điều: Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy).Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.

Như vậy, so với BLHS 1999, khoản 2, Điều 91 BLHS năm 2015 đã mở rộng đối tượng được miễn trách nhiệm hình sự đối với cả người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, quy định cụ thể điều kiện miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với các em được miễn trách nhiệm hình sự nhằm bảo đảm tính khả thi cũng như hiệu quả áp dụng của chế định pháp lý này.

Thứ ba, việc truy cứu TNHS người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì tòa án áp dụng các biện pháp giám sát giáo dục và biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được quy định tại mục 2 và mục 3, Chương XII của BLHS, gồm: Khiển trách (Điều 93), Hòa giải tại cộng đồng (Điều 94), Giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95) và biện pháp tư pháp Giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96).

Như vậy, có thể nói rằng việc truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người thành niên phạm tội là biện pháp cuối cùng. Nguyên tắc thứ tư đối với người chưa thành niên phạm tội là nguyên tắc giảm nhẹ TNHS. Tính chất giảm nhẹ được thể hiện ở những quy định về loại và mức phạt  tù có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.

Thứ năm“Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”; Thứ sáu,“Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.
Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”.

Tử hình và tù chung thân là hai biện pháp nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS, người phạm tội chỉ bị áp dụng hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và khi khả năng giáo dục không còn nữa. Chính vì vậy đối với người chưa thành niên phạm tội, khi mục đích của việc truy cứu TNHS chủ yếu là nhằm giáo dục cải tạo họ, thì không thể áp dụng hai hình phạt này.
Nguyên tắc cuối cùng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Khoản 7 Điều 91 BLHS: “Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”.

2.1.2. Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 

Trước đây Bộ luật hình sự 1999 chỉ quy định chung chung rằng người chưa thành niên phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự thì sẽ có gia đình hoặc cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục. Bộ luật hình sự 2015 bổ sung một số biện pháp giám sát, giáo dục đối với người chưa thành niên được miễn trách nhiệm hình sự là: biện pháp khiển trách (Điều 93), hòa giải tại cộng đồng (Điều 94) và giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95). Đây là những quy định cụ thể nhằm đưa việc giáo dục, nâng cao nhận thức đối với người phạm tội đi vào thực tế và có hiệu quả.
Trên cơ sở quy định của BLHS, Bộ luật tố tụng hình sự năm (BLTTHS) 2015 cũng bổ sung các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại các Điều từ 426 đến 429 của bộ luật.

Ngoài ra, Bộ luật hình sự 2015 bỏ đi biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (do đã có các biện pháp giám sát, giáo dục cụ thể nêu trên) và chỉ giữ lại 1 biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, đó là biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96).

+ Biện pháp khiển trách (Điều 93 BLHS 2015)

Được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2, Điều 91 của BLHS 2015; người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.

Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi. Người bị khiển trách phải tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

Tùy từng trường hợp cụ thể cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện các nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3, Điều 93 BLHS 2015 từ 03 tháng đến 01 năm.

Biện pháp này nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội và hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ.

+ Hòa giải tại cộng đồng (Điều 94 BLHS năm 2015)

Được áp dụng đối với  người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 điều 91 của BLHS 2015; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của BLHS.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại đã tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn TNHS.
Người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại; tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.
Tùy trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền ấn định thời điểm xin lỗi, thời gian thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại quy định tại điểm a khoản 3 điều 94 BLHS 2015 và nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 điều 93 của BLHS 2015 từ 03 tháng đến 01 năm.

+ Giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95 BLHS năm 2015)

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 01 năm đến 02 năm đối với  người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của BLHS; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của BLHS.

Người được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục phải chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động; chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn; không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép và thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 Điều 93 của BLHS 2015.

Nếu người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, cơ quan đã áp dụng biện pháp này có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Việc áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong những điểm mới nổi bật của BLHS 2015, thể hiện rõ chính sách nhân đạo của Nhà nước ta, tăng tính hướng thiện trong chính sách xử lý hình sự, nhất là đối với đối tượng cần bảo vệ đặc biệt là người chưa thành niên.

2.1.3. Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96 BLHS 2015)

Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét cần phải cách ly họ ra khỏi môi trường gia đình- xã hội để giáo dục và cải tạo họ thành công dân có ích.
Khi quyết định biện pháp tư pháp này, tòa án cần xem xét tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và môi trường sống của người đó. Thời hạn của biện pháp giáo dục trường giáo dưỡng là từ 1 năm đến 2 năm.

Trường giáo dưỡng là cơ sở giáo dục đặc biệt được Nhà nước thành lập để giáo dục, cải tạo người chưa thành niên phạm tội hoặc có những vi phạm pháp luật khác. Tuy biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bắt buộc người chưa thành niên phạm tội phải chịu sự quản lý chặt chẽ và phải cách li ra khỏi xã hội nhưng họ được học tập văn hóa và nghề nghiệp. Tại đây, họ được học tập, rèn luyện để trờ thành công dân tốt trong tương lai.

Nếu người được giáo dục tại trường giáo dưỡng đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của trường giáo dưỡng được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, Tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 97 BLHS).

2.1.4. Hệ thống hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 

Hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, căn cứ vào đặc điểm của người chưa thành niên, yêu cầu của việc phòng chống tội phạm, nguyên tắc nhân đạo XHCN, luật hình sự quy định các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm:

1. Cảnh cáo.

2. Phạt tiền.

3. Cải tạo không giam giữ.

4. Tù có thời hạn.

+ Cảnh cáo: Cảnh cáo là hình phạt chính, có tính giáo dục sâu sắc, thể hiện sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội và hành vi phạm tội của họ. Cảnh cáo gây ra cho người bị kết án những tổn hại về tinh thần. Người chưa thành niên phạm tội bị phạt cảnh cáo khi phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

+ Phạt tiền: Phạt tiền là hình phạt chính áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm tước đi quyền lợi vật chất của họ. Người chưa thành niên phạm tội bị phạt tiền khi có đủ hai điều kiện: Họ là người đã từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và có thu nhập hoặc tài sản riêng.

+ Cải tạo không giam giữ: Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý.

Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính có nội dung giáo dục sâu sắc không buộc người được áp dụng hình phạt này phải cách li khỏi xã hội. Họ vẫn có thể thực hiện công việc thường ngày và sống trong môi trường gia đình và xã hội như trước đây. Người chưa thành niên phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ cần đáp ứng hai điều kiện sau: Hành vi phạm tội thuộc vào tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý; Họ phải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng.

+ Tù có thời hạn: Tù có thời hạn là hình phạt cách li người phạm tội ra khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Đây là hình phạt có hiệu quả giáo dục và ngăn ngừa cao. Chính vì vậy loại hình này có thể áp dụng đối với mọi tội phạm được quy định trong luật hình sự Việt Nam. Tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc nhất có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:
“Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định”.

2.2. Thực trạng tình hình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở nước ta 

Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em và người chưa thành niên. Chính phủ, các Bộ, ban, ngành và chính quyền các cấp đã đề ra nhiều chương trình, kế hoạch cũng như áp dụng nhiều biện pháp để tăng cường bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật nói chung trong đó có vi phạm pháp luật của người chưa thành niên nói riêng. Tuy nhiên, tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phạm tội ở nước ta hiện nay vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Đặc biệt có một bộ phận thanh thiếu niên đã tham gia vào các băng nhóm tội phạm có tổ chức, phạm tội có sử dụng bạo lực với tính chất côn đồ hung hãn; thực hiện các hành vi giết người, cướp của, chống người thi hành công vụ, bảo kê, đâm thuê, chém mướn gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, báo động về số trẻ em phạm tội đang “gia tăng và trẻ hóa” thực sự trở thành mối lo ngại với con số trung bình 10.000 vụ tội phạm hình sự do trên 15.000 trẻ em gây ra trên toàn quốc mỗi năm [3]. Các vụ án, có người chưa thành niên phạm tội tham gia có xu hướng tăng nhanh cả ở cấp huyện và cấp tỉnh. Nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, do các bị cáo đang ở độ tuổi chưa thành niên một mình hay cùng đồng bọn cũng là những người chưa thành niên gây ra như vụ án Đào Thị Thu Hương (tức My sói) sinh năm 1996 ở quận Hoàng Mai, Hà Nội và đồng bọn về tội “hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và cướp tài sản” hay vụ án Lê Văn Luyện phạm tội “Giết người” xảy ra tại tiệm vàng Ngọc Bích ngày 20/8/2011.

Tuy ở độ tuổi còn rất trẻ, song hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm và quyết liệt, có sự chuẩn bị về công cụ, phương tiện với thủ đoạn tinh vi, xuống tay sát hại người khác một cách hết sức dã man. Do vậy, hậu quả để lại là rất nặng nề, gây bức xúc trong nhân dân và gây dư luận xấu trong xã hội.

 

3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội

3.1. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội

3.1.1. Về xác định độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội

Theo qui định tại Điều 12 BLHS năm 2015, tuổi chịu TNHS là tuổi tính tròn. Nhưng vấn đề đặt ra là đột tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hay 16 tuổi đó được tính từ thời điểm nào? Trường hợp chúng ta có đủ điều kiện xác định chính xác ngày tháng năm sinh (thông thường qua giấy khai sinh) thì việc tính tuổi không có điều gì cần bàn. Nhưng thực tế đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay cho thấy, có rất nhiều trường hợp không có căn cứ xác định chính xác ngày sinh, tháng sinh thậm chí cả năm sinh của người chưa thành niên có hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Giải quyết những tình trạng này, nghị quyết số 02 ngày 5-1-1986 của HĐTP TANDTC đã khẳng định: “Trong trường hợp không có điều kiện xác định chính xác ngày sinh thì tính ngày sinh theo ngày cuối cùng của tháng, và nếu cũng không có điều kiện xác định chính xác tháng sinh thì xác định là ngày cuối cùng của năm sinh”. 
Có thể nói việc đưa ra cách tính tuổi nêu trên hoàn toàn là sự áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo. Quán triệt nguyên tắc này tại Công văn số 81 ngày 10 tháng 6 năm 2002, TANDTC lại một lần nữa cụ thể hóa cách xác định tuổi trong từng trường hợp cụ thể. Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo. Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được cụ thể ngày nào, tháng nào của quí đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của quí đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo. Nếu xác định được cụ thể nửa năm đầu hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày 30 tháng 6 hay 31 tháng 12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo bị cáo. Tuy vậy, các văn bản hướng dẫn này mới chỉ nêu ra cách xác định mốc thời gian để tính tuổi chịu TNHS khi không có đủ điều kiện xác định được chính xác ngày sinh hoặc tháng sinh, quí sinh mà chưa đề cập đến trường hợp có sự tranh chấp chính năm sinh của người chưa thành niên phạm tội.

Thông thường đối với trường hợp này, người ta thường căn cứ vào kết quả giám định. Theo các cơ quan giám định Việt Nam thì đa số các trường hợp có thể xác định chính xác năm sinh, những trường hợp phức tạp thì xác định trong khoảng thời gian và độ sai số từ 1 đến 2 năm. Còn việc giám định để xác định tháng sinh, có trường hợp cho kết quả chính xác tới tháng, nhưng đa số trường hợp chỉ xác định trong một khoảng thời gian nhất định với mức sai số từ 3 đến 6 tháng. Như vậy việc xác định tuổi chịu TNHS trong trường hợp căn cứ vào kết quả giám định với mức sai số như trên chưa được pháp luật qui định. Trong những trường hợp như vậy, việc vận dụng để giải quyết thường chỉ mang tính tùy nghi. Do vậy, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể trường hợp không xác định được chính xác năm sinh mà phải căn cứ vào kết quả giám định theo hướng việc xác định đó dựa trên nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo.

3.1.2. Vấn đề áp dụng hình phạt

Trong một số hình phạt không tước tự do áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chưa thực sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, cũng như nhu cầu giáo dục của đối tượng này. Hình phạt cảnh cáo (khoản 1, Điều 98 BLHS) là một ví dụ. Hình phạt này thể hiện sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội. Khi hội đồng xét xử tuyên án xong, cũng có nghĩa rằng hình phạt được thi hành xong. Vì không có cơ chế theo dõi, hỗ trợ người chưa thành niên phạm tội thực sự nhận thức được lỗi lầm mình gây ra, cho nên không phải lúc nào hình phạt cảnh cáo cũng phát huy hiệu quả. Hay như hình phạt tiền (Khoản 2, Điều 98 BLHS) cũng là vấn đề phải suy nghĩ. Hình phạt này đánh vào lợi ích vật chất của người phạm tội. Thế nhưng phần lớn người chưa thành niên phạm tội đều không có tài sản và chưa nhận thức đầy đủ giá trị đồng tiền. Do vậy, áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên là không hợp lý.

Ở khía cạnh khác, một số tội phạm và ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính (bảo kê mại dâm, môi giới mại dâm người chưa thành niên…) chưa rõ ràng. Ngoài ra, BLHS chưa quy định một tội danh riêng, cụ thể về sản xuất, tàng trữ, lưu hành những văn hoá phẩm có sử dụng hình ảnh người chưa thành niên để khiêu dâm, mà chỉ có một tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147) và tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 146). Do vậy, cần thiết kế một điều luật riêng về hành vi sản xuất, tàng trữ, lưu hành những văn hóa phẩm có sử dụng hình ảnh người chưa thành niên để khiêu dâm vào BLHS 2015.

3.1.3. Các biện pháp bảo vệ người chưa thành niên trong quá trình tham gia tố tụng

Mặc dù BLHS 2015 dành hẳn một chương quy định về người chưa thành niên phạm tội, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu hỗ trợ và bảo vệ người chưa thành niên người chưa thành niên. Khi người chưa thành niên tham gia tố tụng với tư cách bị can, bị cáo, bị hại… dù ở giai đoạn điều tra, truy tố hay xét xử chưa được quan tâm đúng mức. Vấn đề bảo vệ bí mật đời tư của người chưa thành niên, đặc biệt là người chưa thành niên là nạn nhân trong các vụ án hình sự chưa được quy định đầy đủ, gây tổn thương cho các người chưa thành niên trong quá trình tố tụng. Do vậy, cần một cơ chế để giúp cho việc bảo vệ người chưa thành niên tốt hơn khi tham gia vào các hoạt động tố tụng.

3.1.4. Vấn đề khi xét xử người chưa thành niên phải có đại diện  gia đình 

Đây vấn đề đang rất vướng mắc hiện nay, Tại mục 16 phần II Công văn 81/2002/TANDTC ngày 10-6-2002 của TANDTC có hướng dẫn “…Trong trường hợp không xác minh được lý lịch của bị cáo thì tại phiên tòa xét xử không nhất thiết phải có mặt đại diện của gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường  hoặc tổ chức xã hội…”.
Công văn trên chỉ hướng dẫn trong trường hợp không xác định được lí lịch của bị cáo, còn trong trường hợp xác định được lí lịch của bị cáo, nhưng gia đình bị cáo ở quá xa, không thể gửi giấy triệu tập được thì sẽ giải quyết thế nào? Thực tế, có những vụ án cơ quan chức năng không thể triệu tập được bất cứ người đại diện gia đình nào vì họ ở quá xa. Hồ sơ chuyển sang Tòa án, Tòa án cũng không triệu tập được. Trong những trường hợp này, Toà án thường gửi giấy triệu tập thông qua bưu điện (vì không có điều kiện đi trực tiếp). Đến ngày xử không có mặt của đại diện gia đình, nên phải hoãn phiên tòa. Có nhiều vụ án phải hoãn phiên tòa nhiều lần mới xét xử được.
Những trường hợp cán bộ Tòa án trực tiếp đi đến tận nơi để gửi giấy triệu
tập, thì tốn rất nhiều thời gian và chi phí. Trong trường hợp Toàn án không thể đi đến tận nơi trực tiếp được, thì Tòa án thường vận dụng linh hoạt bằng cách yêu cầu Đoàn thanh niên cử người tham gia tố tụng đại diện cho gia đình bị cáo và Tòa án tiến hành xét xử luôn. Nhưng việc Đoàn thanh niên tham gia như trên là không đúng với qui định của BLTTHS, bởi lẽ Đoàn thanh niên chỉ tham gia khi không có đại diện của gia đình bị cáo, chứ không tham gia trong trường hợp có đại diện của gia đình bị cáo là có, nhưng không thể triệu tập họ được.

3.1.5. Về hiểu biết và đánh giá tâm lý người chưa thành niên của Hội đồng xét xử: 

Đây là vấn đề thuộc về trình độ, kỹ năng của Hội đồng xét xử, bởi vì mỗi cá nhân người chưa thành niên, có môi trường sống hoàn toàn khác nhau. Cách nhìn nhận của họ về cuộc sống, về xã hội là khác nhau. Điều quan trọng là Hội đồng xét xử phải thấu hiểu và có cái nhìn đúng về mỗi cá nhân là người chưa thành niên phạm tội, để đánh giá chứng cứ và xác định hình phạt cho chính xác. Hiện nay, trong ngành Tòa án và các tổ chức giáo dục chưa có những lớp tập huấn riêng về tâm lý người chưa thành niên, nên việc hiểu tâm lý để đánh giá ý thức phạm tội của người chưa thành niên chưa sâu. Vì vậy, cần mở nhiều lớp tập huấn bài bản, một cách chuyên nghiệp về tâm lý người chưa thành niên trong ngành Tòa án, tại các trường Đại học, cơ quan chức năng và trong tổ chức Đoàn thanh niên.

3.1.6. Về việc áp dụng qui định của pháp luật về miễn TNHS và án treo 

Trên thực tế, rất ít (hầu như không có) áp dụng chế định miễn TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét xử. Về vấn đề áp dụng chế định án treo cũng không có ưu tiên nào cho người chưa thành niên. Điều 65 BLHS qui định về án treo, Điều 91 BLHS qui định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và hướng dẫn tại Mục 6 Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02-10-2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn về việc áp dụng chế định án treo, cũng không có qui định nào về việc ưu tiên áp dụng án treo đối với người chưa thành niên.

Về việc giao người chưa thành niên cho cơ quan nào để giám sát, giáo dục trong trường hợp họ được hưởng án treo cũng gặp nhiều vướng mắc. Khoản 2, Điều 65 BLHS qui định: “Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó”.
Trên thực tế trong nhiều trường hợp, cha, mẹ người chưa thành niên không sống cùng địa chỉ và có nhiều người chưa thành niên có tên trong hộ khẩu của cha (hoặc mẹ), nhưng lại thường sống chung với người kia nên việc giao giám sát, giáo dục cũng còn áp dụng khác nhau. Vì vậy, TANDTC cần ban hành những qui định cụ thể cho việc áp dụng chế định án treo cho người chưa thành niên.

3.1.7. Về việc bồi thường thiệt hại và xác định trách nhiệm bồi thường

Điều 588 BLDS 2015 qui định:

“1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật dân sự 2015.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường”.
Luật chỉ qui định người chưa thành niên chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường. Như vậy, trường hợp bị cáo chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà không còn cha, mẹ đồng thời, họ cũng không có người giám hộ, thì ai phải bồi thường? Giả sử, người chưa thành niên đó có tài sản, thì có được phép lấy tài sản của người chưa thành niên bồi thường hay không? Luật chỉ qui định trường hợp người chưa thành niên dưới 15 tuổi còn cha, mẹ mà tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường và trong trường hợp người dưới 15 tuổi có tài sản, thì mới được lấy tài sản của ngưới dưới 15 tuổi để bồi thường, chứ luật không qui định người dưới 15 tuổi có tài sản nhưng không còn cha mẹ, không có người giám hộ thì lấy tài sản của người dưới 15 tuổi để bồi thường.

Mặt khác, trong trường hợp bị cáo chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại, nhưng không còn cha me và cũng không có người giám hộ, đồng thời, họ cũng không có tài sản để bồi thường, thì vấn đề bồi thường sẽ giải quyết như thế nào? Những vấn đề trên, luật không qui định nên việc áp dụng còn nhiều vướng mắc. Luật nên qui định rõ ràng trách nhiệm bồi thường là của bị cáo chưa đủ 15 tuổi trong trường hợp bị cáo không còn cha, mẹ, không có người giám hộ. Nếu bị cáo có tài sản, thì lấy tài sản của bị cáo bồi thường ngay. Nếu bị cáo không có tài sản, thì Tòa án vẫn tuyên trách nhiệm dân sự là buộc bị cáo bồi thường, chờ đến khi nào bị cáo có tài sản sẽ thực hiện nghĩa vụ thi hành bản án đã tuyên. Có như vậy, việc giải quyết mới dứt điểm và đầy đủ.

3.2. Một số giải pháp nhằm giảm việc vi phạm pháp luật hình sự của người chưa thành niên 

Từ thực trạng tình hình vi phạm pháp luật của người chưa thành niên có nhiều nguyên nhân, nguyên nhân từ phía gia đình, nguyên nhân từ nhà trường, xã hội, nguyên nhân từ phía cơ quan bảo vệ pháp luật và nguyên nhân từ chính người chưa thành niên phạm tội…Trước tình trạng người chưa thành niên phạm tội đang có chiều hướng gia tăng như hiện nay, thiết nghĩ, để làm giảm việc vi phạm pháp luật hình sự của người chưa thành niên thì cần có sự chung tay vào cuộc của toàn thể công đồng, xã hội nhằm giúp cho các em có được một môi trường giáo dục, sinh hoạt lành mạnh, tránh xa các cạm bẫy,…từ đó có cơ hội để phát triển đầy đủ cả về vật chất và tinh thần, trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội. Một số giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, tuyên truyền pháp luật sâu rộng đến mọi người dân đặc biệt là tầng lớp học sinh, sinh viên. Thường xuyên phát động các phong trào như tìm hiểu pháp luật, tọa đàm, giải thích pháp luật… nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của các em đối với pháp luật, giáo dục ý thức “thượng tôn pháp luật”.

Thứ hai, Tăng cường quản lý chặt chẽ các lĩnh vực nhạy cảm như văn hóa, công nghệ thông tin (Internet)… Có chính sách ưu tiên dạy nghề, tạo công ăn việc làm cho những người chưa thành niên lang thang, không gia đình để khi bước vào đời họ có một nghề tự nuôi sống bản thân. Nhà nước cần đầu tư thêm nhiều khu vui chơi cho cộng đồng trong đó có người chưa thành niên như công viên, các câu lạc bộ…

Thứ ba, nâng cao giá trị đạo đức trong giáo dục, giảng dạy, kết hợp hài hòa quan hệ giữa nhà trường – gia đình, giữa thầy – trò để các học sinh, sinh viên hiểu biết hơn nữa về truyền thống “tôn sư trọng đạo”, “tiên học lễ, hậu học văn”… đây là một trong những cách để phòng ngừa tội phạm có hiệu quả nhất; Mỗi giáo viên, mỗi học sinh, sinh viên là một tấm gương điển hình về chấp hành pháp luật, là một gương tốt cho mọi người noi theo.

Thứ tư, hàng năm, các cơ quan tố tụng nên tổng hợp, có báo cáo về tình hình người chưa thành niên phạm tội, tìm ra được những nguyên nhân, thiếu sót, yếu kém, hạn chế từ khâu nào, từ đơn vị nào trong việc quản lý, giáo dục. Từ đó, đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm để cơ quan chức năng khắc phục và có những chương trình phù hợp.

Thứ năm, cần xây dựng một đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân chuyên trách, được đào tạo có hệ thống, được trang bị những kiến thức về tâm lý học, về khoa học giáo dục để có thái độ đúng mực khi tiến hành các hoạt động tố tụng đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của người chưa thành niên.

Người chưa thành niên chính là tương lai của đất nước, xuất phát từ chính sách nhân đạo của Nhà nước ta trong đường lối xử lý trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là nhằm cảm hóa, giáo dục, giúp đỡ, tạo điều kiện cho họ để trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Do vậy, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là vấn đề vừa mang tính pháp lý vừa mang tính nhân văn sâu. Trong công tác xét xử người chưa thành niên phạm tội đòi hỏi các cơ quan tư pháp, nhất là Tòa án phải cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng trước khi quyết định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, nhằm đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng cũng thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Bên cạnh đó, cần quan tâm chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ tư pháp chuyên trách tiến hành tố tụng, có kiến thức chuyên sâu về tâm lý người chưa thành niên, cũng như các kỹ năng làm việc phù hợp với người chưa thành niên là hết sức cần thiết.

 

Hồ Quân – Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 4 / Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp

 

[1] Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005];
[2] Đào Trí Úc (1993), Mô hình lý luận về Bộ luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr41.]…
[3] http://congly.vn/

Quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt VPHC không phải là đối tượng của vụ án hành chính

Quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính của CQĐT tuy là quyết định hành chính nhưng quyết định này không làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chị H theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nên không là đối tượng của vụ án hành chính.
 
Qua nghiên cứu bài viết của tác giả Nguyễn Thị Đào Hoa – VKSND tỉnh Vĩnh Phúc đăng trên Kiemsat.vn ngày 12/6/2018 với nội dung bài viết  Quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt VPHC có là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính?”. Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai.
 

Nội dung vụ việc:
Chị Nguyễn Thị H điều khiển xe mô tô gây tại nạn cho ông Nguyễn Văn T. Kết quả giám định thương tích kết luận ông T bị tổn thương 28% sức khỏe. Cơ quan điều tra không khởi tố vụ án hình sự mà ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 397 ngày 12/12/2016 đối với chị H số tiền 1.350.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ.
Sau đó, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về dân sự. Quá trình giải quyết vụ án dân sự, đại diện gia đình ông T yêu cầu giám định lại, kết quả giám định lại xác định ông T bị tổn hại 88% sức khỏe. Vì vậy, ông T làm đơn yêu cầu các cơ quan tố tụng xử lý hình sự hành vi của chị H.
Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự và ra Quyết định số 127 ngày 11/4/2018 hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 397 ngày 12/12/2016 đối với chị H để khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với chị H.
Sau khi nhận được quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 127, chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên giải quyết hủy quyết định hủy bỏ quyết định này và giữ nguyên Quyết định số 397 (quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban đầu). Tuy nhiên, khi chị H khởi kiện, còn có hai quan điểm khác nhau về việc Tòa án có thụ lý đơn khởi kiện của chị H hay không.

 
Khoản 3 Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định “…Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, nếu cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có quyết định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải huỷ bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính và chuyển toàn bộ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tài liệu về việc thi hành quyết định xử phạt cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự”.
Căn cứ vào kết quả giám định ban đầu thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lỉnh vực giao thông đường bộ đối với Nguyễn Thị H là có căn cứ. Nhưng do gia đình ông T yêu cầu giám định lại, kết quả ông T bị tổn thương 88% nên cơ quan điều tra phải ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án để ra quyết định khởi tố vụ án, bị can và ra quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị H là có căn cứ đúng theo quy định của BLTTHS.
Trong trường hợp này Nguyễn Thị H không đồng ý với các quyết định của Cơ quan điều tra thì có quyền khiếu nại để xem xét lại các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng các quyết định của cơ quan điều tra xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đối tượng khiếu nại là quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hoặc quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can, kết luận giám định. Bởi vì, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Nguyễn Thị T thuộc đối tượng điều chỉnh của BLHS. Đối với quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan điều tra tuy là quyết định hành chính nhưng quyết định này không làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chị H theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Do vậy, quyết định hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Nguyễn Thị H không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính nên Tòa án không thụ lý đơn khởi kiện của chị H, mà căn cứ Điều 123 Luật Tố tụng hành chính trả lại đơn khởi kiện cho chị H là có căn cứ.
Việc cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với chị Nguyễn Thị H là các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, thuộc phạm vi điều chỉnh của BLTTHS nếu chị H cho rằng các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì chị Nguyễn Thị H có quyền khiếu nại theo quy định của BLTTHS.
 

Ths. Lê Văn Quang, Phó Viện trưởng, VKSND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

Về xác định thời hiệu khởi kiện thanh toán nợ lãi đối với tranh chấp đòi lại tài sản

Pháp luật dân sự hiện hành có quy định khác nhau về thời hiệu khởi kiện của tranh chấp đòi lại tài sản tại Điều 429 Bộ luật Dân sự và Điều 155 Bộ luật Tố tụng dân sự.
 

Ngày 05/01/2009, A cho B vay số tiền 300 triệu, hẹn 02 tháng sẽ trả, không thỏa thuận lãi. Đến ngày 05/3/2009, A yêu cầu B trả nợ nhưng B không thực hiện. Ngày 03/8/2017, A khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc B trả số tiền gốc 300 triệu và tiền lãi chậm trả cho A từ 06/3/2009 đến ngày 03/8/2017 là 250 triệu.

 
Theo quy định tại Điều 427 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 02 năm”. Tại điểm a khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2011 quy định: “… tranh chấp về đòi lại tài sản thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện” và theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012 ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao  hướng dẫn thi hành quy định về thời hiệu khởi kiện theo Điều 159 BLTTDS năm 2011: “Đối với tranh chấp về đòi lại tài sản thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện” và để giải thích cho quy định này, Nghị quyết đã đưa ra một ví dụ như sau: “Ngày 01/01/2008, A cho B vay 500 triệu đồng, thời hạn vay 01 năm. Đến ngày 01/01/2009, B không trả tiền gốc và lãi. Ngày 03/4/2011, A khởi kiện buộc B trả lại khoản tiền gốc và tiền lãi. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã hết thời hiệu khởi kiện. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung”.
 
Theo quy định của pháp luật hiện hành lại có sự khác biệt về  thời hiệu khởi kiện của tranh chấp đòi lại tài sản, tại Điều 429 BLDS năm 2015 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm” và tại Điều 155 BLTTDS năm 2015 quy định các yêu cầu, tranh chấp không áp dụng thời hiệu khởi kiện chỉ bao gồm yêu cầu bảo vệ nhân thân, bảo vệ quyền sở hữu và tranh chấp về quyền sử dụng đất, không tiếp tục quy định tranh chấp đòi lại tài sản là không xác định thời hiệu như BLTTDS năm 2011.

Ý kiến thứ nhất cho rằng,
 Tòa án phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án do hết thời hiệu khởi kiện. Bởi vì, giao dịch được xác lập ngày 05/01/2009, về luật nội dung cần áp dụng BLDS năm 2005 với thời hiệu khởi kiện của hợp đồng dân sự là 02 năm, nhưng đến ngày 03/8/2017, A mới yêu cầu Tòa án giải quyết nên cần áp dụng luật hình thức là BLTTDS năm 2015, nhưng vì BLTTDS năm 2015 không quy định hợp đồng đòi lại tài sản là không xác định thời hiệu như BLTTDS năm 2011 và hướng dẫn của Nghị quyết số 03/2012. Như vậy, tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án BLTTDS năm 2015 đã có hiệu lực thi hành nên BLTTDS năm 2011 và Nghị quyết số 03/2012 đã hết hiệu lực thi hành, do đó, yêu cầu khởi kiện của A đã hết thời hiệu, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.Từ những quy định của pháp luật nêu trên, hiện có hai ý kiến về cách giải quyết vụ án như sau:
 
Ý kiến thứ hai cho rằng, Tòa án cần xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của A, để buộc B trả lại cho A số tiền gốc 300 triệu, còn số tiền lãi 250 triệu thì không chấp nhận. Bởi vì, theo quy định của Nghị quyết số 03/2012, tranh chấp đòi lại tài sản không xác định thời hiệu, còn phần yêu cầu trả nợ lãi chậm trả thì áp dụng theo ví dụ tại điểm b khoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012 là phần lãi đã hết thời hiệu khởi kiện nên không được giải quyết.
 
Ý kiến của tác giả cho rằng, thời điểm các bên xác lập hợp đồng vay tài sản là ngày 05/01/2009 nhưng đến năm 2017 mới yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về căn cứ áp dụng pháp luật cần áp dụng trình thự thủ tục theo quy định của BLTTDS năm 2015 để giải quyết, về nội dung áp dụng BLDS năm 2005 để phù hợp với thời điểm xác lập hợp đồng.
– Đối với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán lãi chậm trả cần được chấp nhận. Bởi vì theo quy định tại khoản 4 Điều 474 BLDS năm 2005, trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả tương ứng với thời hạn chậm trả. Như vậy, ngày 05/3/2009 là đến hạn trả nợ nhưng B không trả, do đó, thời gian chậm trả được tính từ ngày 06/3/2009 đến khi A có yêu cầu khởi kiện. Theo ví dụ trong hướng dẫn của Nghị quyết số 03/2012 đối với yêu cầu trả lãi không được chấp nhận do hết thời hiệu, mặc dù ví dụ chỉ nêu khoản lãi theo thỏa thuận chứ không đưa ra trường hợp lãi chậm trả nên chưa rõ ràng, cụ thể nhưng cần phải hiểu đúng bản chất của nó chính là lãi theo thỏa thuận chứ không phải lãi chậm trả. Nghĩa vụ thanh toán lãi chậm trả đã được BLDS quy định. Do đó, yêu cầu  của A  buộc B thực hiện nghĩa vụ thanh toán lãi chậm trả là có căn cứ pháp luật.
– Đối với thời hiệu khởi kiện của hợp đồng đòi lại  tài sản là không xác định thời hạn. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 và Nghị quyết số 03/2012 hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2011 đã quy định đối với tranh chấp đòi lại tài sản thì không xác định thời hiệu nên vụ án trên được thụ lý giải quyết là đúng pháp luật, bởi vì, mặc dù BLTTDS năm 2015 không quy định về thời hiệu như BLTTDS năm 2011 nhưng tại Điều 2 Nghị quyết số 103/2015 ngày 25/11/2015 của Quốc hội đã quy định: “Đối với các tranh chấp phát sinh trước ngày 01/01/2017 thì áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 159 BLTTDS năm 2011”. Tức là đối với những giao dịch đã được thực hiện trước ngày 01/01/2017 nhưng đến nay mới yêu cầu Tòa án giải quyết thì vẫn tiếp tục áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện theo BLTTDS năm 2011 và văn bản hướng dẫn liên quan để giải quyết. Từ những phân tích trên, theo tác giả yêu cầu khởi kiện của A trong ví dụ nêu trên cần được chấp nhận là đảm bảo quyền lợi của A và đúng căn cứ pháp luật./.
 

Trần Thị Thu Hiền

VKSND Tp. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

Bình luận những quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự trong BLTTDS 2015

BLTTDS 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung về thủ tục giải quyết việc dân sự nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cụ thể hóa các quy định Hiến pháp năm 2013, cũng như phù hợp pháp luật nội dung và thực tiễn giải quyết việc dân sự của Tòa án. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi tập trung giới thiệu, bình luận một số sửa đổi, bổ sung đó.
 
1.Về hình thức yêu cầu giải quyết việc dân sự
Điều 362 BLTTDS 2015 giữ nguyên quy định như khoản 1 Điều 312 BLTTDS 2004 về hình thức yêu cầu giải quyết việc dân sự, đó là người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền. Tuy nhiên, để phù hợp với Luật Thi hành án dân sự năm 2014 về người có quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự thì khoản 1 Điều 362 BLTTDS năm 2015 bổ sung quy định trong trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì có quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của BLTTDS 2015.
Về nội dung đơn yêu cầu, thì Điều 362 BLTTDS năm 2015 tiếp tục kế thừa quy định tại Điều 312 BLTTDS năm 2004. Tuy nhiên, Điều 362 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định làm rõ nội dung đơn yêu cầu khi tổ chức yêu cầu là doanh nghiệp, thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhằm phù hợp với quy định tại Điều 44 của Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Ngoài ra, với mong muốn hiện đại hóa các hoạt động của Tòa án cũng như bảo đảm mọi người đều tiếp cận công lý một cách thuận lợi thì việc gửi đơn, nhận, xử lý đơn yêu cầu được thực hiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). Vì vậy, trong đơn yêu cầu ngoài việc ghi tên, địa chỉ của người yêu cầu như trước đây thì BLTTDS năm 2015 quy định trong đơn yêu cầu ghi rõ số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu để Tòa án thực hiện việc nhận, xử lý đơn yêu cầu bằng phương thức trực tuyến. Đồng thời, để thuận lợi cho người dân thực hiện việc yêu cầu thì TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao TANDTC hướng dẫn về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng.
Về tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn yêu cầu thì khoản 3 Điều 362 BLTTDS năm 2015 giữ nguyên như khoản 3 Điều 312 BLTDTS năm 2004, theo đó, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, ngay khi nộp đơn yêu cầu thì người yêu cầu không thể cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án được đặc biệt khi trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế cũng như chúng ta đang thiếu hụt các hoạt động trợ giúp pháp lý cho đương sự. Do đó, TANDTC cần có hướng dẫn giống như việc khởi kiện là người yêu cầu gửi kèm theo đơn yêu cầu các tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh họ là người có quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự. Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu giải quyết việc dân sự là có căn cứ và hợp pháp sẽ được bổ sung trong quá trình Tòa án giải quyết việc dân sự.
2.Về thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu
Trước đây, BLTTDS năm 2004 chưa có quy định về thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu dẫn đến Tòa án không có cơ sở pháp lý để thực hiện, tùy tiện trong xử lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự. Chính vì vậy, để tạo nên sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật giải quyết việc dân sự thì Điều 363 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định về thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu.
Sau khi nhận đơn yêu cầu, thì Tòa án phải có trách nhiệm xem xét đơn yêu cầu đó có hợp pháp hay không? Nếu đơn yêu cầu không thỏa mãn các điều kiện yêu cầu và hình thức yêu cầu thì Thẩm phán được phân công xử lý như sau:
– Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu: Nếu xét thấy đơn yêu cầu chưa ghi đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 362 BLTTDS năm 2015 thì Thẩm phán thông báo cho người yêu cầu biết. Việc thông báo thực hiện bằng văn bản và nêu rõ những nội dung còn thiếu trong đơn yêu cầu và yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Hết thời hạn 7 ngày mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ.
– Tiến hành thủ tục thụ lý việc dân sự: Nếu xét thấy đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý thì Thẩm phán tiến hành thủ tục thụ lý.
Tuy nhiên, Điều 363 BLTTDS năm 2015 chưa quy định về trường hợp chuyển việc dân sự và trả lại đơn yêu cầu cho phù hợp với quy định tại Điều 41 và Điều 364 BLTTDS năm 2015. Thiết nghĩ, TANDTC cần bổ sung thêm 2 trường hợp trả lại đơn yêu cầu và chuyển việc dân sự khi đơn yêu cầu chưa đáp dứng các điều kiện nhất định. Cụ thể:
+ Trả lại đơn yêu cầu cho người yêu cầu nếu việc dân sự thuộc trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 364 BLTTDS năm 2015.
+ Chuyển đơn yêu cầu cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người yêu cầu biết nếu việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác (Việc dân sự thuộc một trong các loại việc quy định tại Điều 27, 29, 31 và 33 BLTTDS năm 2015 nhưng không thuộc thẩm quyền các cấp quy định tại Điều 37, 38 BLTTDS năm 2015 hoặc không thuộc thẩm quyền theo lãnh thổ quy định tại khoản 2 Điều 39 BLTTDS năm 2015)
3.Về trả lại đơn yêu cầu
Điều 364 BLTTDS năm 2015 bổ sung quy định về việc trả lại đơn yêu cầu nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Thẩm phán khi thấy đơn yêu cầu không thỏa mãn các điều kiện yêu cầu hoặc hình thức yêu cầu thì trả lại đơn yêu cầu cho người yêu cầu đồng thời đương sự có căn cứ khiếu nại việc trả lại đơn khi cho rằng việc trả lại đơn là không có căn cứ. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là, khoản 1 Điều 364 BLTTDS năm 2015 lại không quy định rõ thẩm quyền trả lại đơn yêu cầu thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết đơn yêu cầu mà lại quy định chung chung là Tòa án trả lại đơn yêu cầu. Thiết nghĩ, TANDTC cần hướng dẫn cụ thể điều này nhằm nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán trong việc trả lại đơn yêu cầu.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 364 BLTTDS năm 2015, thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ sau đây:
– Người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự: Đây là trường hợp người yêu cầu không thuộc các chủ thể có quyền yêu cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 362, 376, 381, 387, 391, 396, 398, 401, 403, 420 BLTTDS năm 2015. Ngoài ra, người yêu cầu không đủ năng lực hành vi dân sự thì Tòa án trả lại đơn yêu cầu.
– Sự việc người yêu cầu đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Đây là trường hợp việc dân sự đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết nên người yêu cầu không có quyền yêu cầu giải quyết lại.
– Việc dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đây là trường hợp việc dân sự không thuộc một trong các loại việc quy định tại Điều 27, 29, 31 và 33 BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên, điểm c khoản 1 Điều 364 BLTTDS năm 2015 quy định trả lại đơn yêu cầu do việc dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là không phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015. Bởi vì, theo quy định Điều 102 Hiến pháp năm 2013, thì chức năng của Tòa án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và Tòa án không được từ chối thụ lý giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật áp dụng (khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015) thì Tòa án phải thụ lý giải quyết các việc dân sự khi việc dân sự đó thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự và không thuộc thẩm quyền giải quyết cơ quan, tổ chức khác. Do đó, căn cứ trả lại đơn yêu cầu trong trường hợp này cần quy định là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác.
– Người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 363 của Bộ luật này. Đây là trường hợp người yêu cầu đã nhận được thông báo về sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu nhưng họ không tiến hành sửa đổi, bổ sung trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 363 BLTTDS năm 2015.
– Người yêu cầu không nộp lệ phí trong thời hạn quy định tại điểm a khoản 4 Điều 363 của Bộ luật này, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp lệ phí hoặc chậm nộp vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Đây là trường hợp Thẩm phán được phân công giải quyết đơn yêu cầu xét thấy đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý nên đã thông báo người yêu cầu nộp lệ phí đơn yêu cầu nhưng người yêu cầu không nộp lệ phí trong thời hạn quy định tại điểm a khoản 4 Điều 363 BLTTDS năm 2015 mà không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp lệ phí hoặc chậm nộp vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.
– Người yêu cầu rút đơn yêu cầu. Đây là trường hợp người yêu cầu đã nộp đơn yêu cầu cùng các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, khi Tòa án đang xem xét các điều kiện yêu cầu và chưa thụ lý thì người yêu cầu đã tự nguyện rút lại đơn yêu cầu.
– Những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Khoản 2 Điều 364 BLTTDS năm 2015 quy định rõ khi trả lại đơn yêu cầu Tòa án phải gửi văn bản nêu rõ lí do vì sao trả lại đơn yêu cầu. Nếu người yêu cầu không đồng ý với việc trả lại đơn thì có thể khiếu nại với Chánh án Tòa án nộp đơn yêu cầu. Trình tự, thủ tục khiếu nại được thực hiện như đối với khiếu nại trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự.
4.Về thông báo thụ lý đơn yêu cầu
Trước đây, BLTTDS năm 2004 chưa có quy định về thông báo thụ lý đơn yêu cầu. Điều này dẫn đến tình trạng các đương sự không biết yêu cầu của mình đã được Tòa án thụ lý hay chưa để chuẩn bị tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như Viện kiểm sát khó thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động thụ lý việc dân sự. Vì vậy, Điều 365 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định về thông báo thụ lý đơn yêu cầu. Theo đó, sau khi đã thụ lý vụ án thì Tòa án có trách nhiệm thông báo việc thụ lý bằng văn bản cho người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự. Thời hạn thông báo là 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu. Hình thức thông báo thụ lý đơn yêu cầu bằng văn bản. Văn bản thông báo có đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 365 BLTTDS năm 2015.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 365 BLTTDS năm 2015 lại không quy định rõ thẩm quyền thông báo thụ lý đơn yêu cầu thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết đơn yêu cầu mà lại quy định chung chung là Tòa án thông báo thụ lý đơn yêu cầu. Thiết nghĩ TANDTC cần hướng dẫn cụ thể điều này nhằm nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán trong việc thông báo thụ lý đơn yêu cầu.
5.Về chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Nhằm đảm bảo cho việc giải quyết việc dân sự được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả, tránh tình trạng các Thẩm phán kéo dài thời hạn giải quyết việc dân sự, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định về chuẩn bị xét đơn yêu cầu. Theo đó, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, trừ trường hợp BLTTDS có quy định khác.
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo khoản 2 Điều 366 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án ra một trong các quyết định sau:
– Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
– Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
Tuy nhiên, trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu trong các trường hợp khác không? Hoặc Tòa án có thể ra quyết định tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu không? Về vấn đề này, căn cứ Điều 361 BLTTDS năm 2015 TANDTC cần có hướng dẫn việc ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu, tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu Toà án áp dụng những quy định về việc đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để thực hiện.
Nếu Tòa án ra quyết định mở phiên họp thì Tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát nghiên cứu tham gia phiên họp. Thời hạn để Viện kiểm sát nghiên cứu là trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ. Hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Tòa án để mở phiên họp giải quyết việc dân sự. Đồng thời, Tòa án phải mở phiên họp để giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
Tuy nhiên, cũng giống như trường hợp trả lại đơn yêu cầu và thông báo thụ lý đơn yêu cầu, khoản 2 Điều 366 BLTTDS năm 2015 không quy định rõ thẩm quyền thực hiện các công việc trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu và ra các quyết định thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết đơn yêu cầu mà lại quy định chung chung là Tòa án.
Ngoài ra, Điều 366 BLTTDS năm 2015 chưa quy định về nội dung quyết định mở phiên họp. Điều này dẫn đến đương sự muốn thực hiện quyền thay đổi Thẩm phán, kiểm sát viên, thư ký phiên họp trước khi mở phiên họp cũng không thực hiện được bởi không biết nội dung quyết định mở phiên họp. Do đó, căn cứ vào Điều 361 BLTTDS năm 2015 TANDTC cần hướng dẫn quyết định mở phiên họp được thực hiện theo quy định tại Điều 220 BLTTDS năm 2015.
6.Những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự
Do việc dân sự chỉ do một Thẩm phán giải quyết trừ một số trường hợp đặc biệt nên để đảm bảo việc giải quyết việc dân sự khách quan, đúng pháp luật, tránh sự lạm quyền của Thẩm phán thì BLTTDS năm 2015 tiếp tục quy định kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên họp.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 312 BLTTDS năm 2004 quy định trong trường hợp kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp. Quy định này chưa hợp lý bởi lẽ phiên họp giải quyết việc dân sự được tiến hành nhằm giải quyết yêu cầu của các đương sự – những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc dân sự. Trong khi đó, Viện kiểm sát người không có lợi ích nào liên quan đến việc dân sự tham gia phiên họp chỉ để kiểm sát việc tuân theo pháp luật mà sự vắng mặt của họ lại quyết định đến việc hoãn phiên họp là không công bằng với những người có liên quan đến yêu cầu giải quyết việc dân sự. Vì vậy, khoản 1 Điều 367 BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi quy định về việc hoãn phiên họp trong trường hợp vắng mặt Kiểm sát viên như sau: trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
Nhằm đảm bảo quyền tham gia phiên họp của người yêu cầu nên khoản 2 Điều 367 BLTTDS năm 2015 đã quy định người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa án hoãn phiên họp, trừ trường hợp người yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt họ. Điều này có nghĩa là, nếu người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất dù có hay không có lý do chính đáng đều phải hoãn phiên họp, trừ trường hợp người yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt họ chứ không phải như khoản 3 Điều 313 BLTTDS năm 2004 là chỉ khi người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng mới hoãn phiên họp. Còn đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì khoản 3 Điều 367 BLTTDS năm 2015 vẫn tiếp tục kế thừa quy định tại khoản 4 Điều 313 BLTTDS năm 2004.
Có thể thấy, các quy định về việc những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự và việc hoãn phiên họp hay vẫn tiến hành họp trong BLTTDS năm 2015 được quy định theo hướng đảm bảo phiên họp không bị hoãn nhiều lần và nhanh chóng giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, các quy định này chưa giải quyết được một số vấn đề sau:
– Người yêu cầu vắng mặt tại phiên họp nhưng người đại diện của họ có mặt tại phiên họp thì Tòa án có hoãn phiên họp không hay vẫn giải quyết việc dân sự vắng mặt họ.
– Người yêu cầu và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều là các đương sự trong việc dân sự. Nhưng người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa án sẽ hoãn phiên họp còn người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất có lí do chính đáng thì vẫn có thể tiến hành họp. Điều này là không đảm bảo sự bình đẳng về quyền tham gia phiên họp giữa các đương sự trong việc dân sự.
– Nếu phiên họp có sự tham gia của người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nhưng những người này lại vắng mặt khi được Tòa án triệu tập hợp lệ thì Tòa án có hoãn phiên họp không hay vẫn giải quyết việc dân sự vắng mặt họ.
Trong các trường hợp này, Tòa án áp dụng Điều 361 BLTTDS năm 2015 để vận dụng các quy định về việc hoãn phiên tòa để giải quyết. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc giải quyết việc dân sự thì TANDTC cần có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.
 

Nguồn: Tạp chí tòa án (tapchitoaan.vn)

Về không áp dụng thời hiệu khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu

“Thời hiệu” nói chung và “thời hiệu khởi kiện” nói riêng là một trong những quy định có sửa đổi bổ sung căn bản tại hai bộ luật quan trọng vừa có giá trị thi hành trong hơn nữa năm trở lại đây (ngày 1/7/2016 áp dụng đối với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 – BLTTDS 2015) và mới gần đây (ngày 1/1/2017 đối với Bộ luật dân sự năm 2015 – BLDS 2015). Một mặt, những quy định mới đã có sự thay đổi so với quy định trước đây, mặt khác, các quy định về những nội dung liên quan tại hai bộ luật này vẫn có “độ vênh” mà vẫn chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất, nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những quan điểm khác nhau khi nghiên cứu, triển khai áp dụng trong thực tiễn.
 
Trước đó, về thời hiệu khởi kiện liên quan đến quyền sở hữu, BLTTDS 2004 sửa đổi 2011 quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “tranh chấp về quyền sở hữu tài sảntranh chấp về quyền đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu”.[1] Tuy nhiên, hiện các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện đã không còn được quy định trong BLTTDS 2015 mà thay vào đó được dẫn chiếu áp dụng các quy định của BLDS 2015 về thời hiệu khởi kiện.[2]
Về thời hiệu khởi kiện liên quan đến quyền sở hữu, khoản 2 Điều 155 BLDS 2015 quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Tuy nhiên, yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu hiện chưa được minh thị tại các quy định của pháp luật. Như vậy, vấn đề đặt ra là liệu “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” là những yêu cầu gì? Không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” có đồng nghĩa với việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về quyền đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu” (như quy định trước đây) hay không? Nếu đây là quy định mới thì trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu theo BLDS 2015 cần phải hiểu như thế nào?
Tác giả cho rằng, “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” là một khái niệm mới và đây có thể là sự sửa đổi có chủ đích của nhà làm luật. Vì vậy, không thể hiểu “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” là “tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về quyền đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu”. Thay vào đó, việc xác định thế nào là “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” cần phải dựa trên các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu và biện pháp bảo vệ quyền sở hữu; bởi lẽ, yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu chỉ phát sinh khi quyền sở hữu đã không được bảo đảm và cần được bảo vệ thông qua những biện pháp mà pháp luật quy định.
Trong bài viết này, tác giả trước hết sẽ thử lý giải về cơ sở xác định yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu để từ đó so sánh đối chiếu với các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về quyền đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu mà chúng thuộc đối tượng không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo các quy định của pháp luật trước đây để trả lời cho câu hỏi được đặt ra ở trên. Tiếp theo, tác giả phân tích về yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trong mối quan hệ với một số loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án làm cơ sở để xác định tranh chấp đó có thuộc đối tượng không áp dụng thời hiệu hay không.

1. Thế nào là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu?

Khoản 2 Điều 169 BLDS 2005 và khoản 1 Điều 163 BLDS 2015 về bảo vệ quyền sở hữu đều quy định “không ai có thể bị hạn chế, tước đoạt” quyền sở hữu. Như vậy, bất kỳ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng hoặc quyền định đoạt của chủ sở hữu không thể bị hạn chế hoặc tước đoạt trái pháp luật.
Tước đoạt quyền sở hữu là trường hợp chủ sở hữu bị mất toàn bộ, một hoặc hai trong ba quyền năng nêu trên. Khi đó, chủ sở hữu có quyền “đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt trái pháp luật” như quy định tại khoản 2 Điều 169 BLDS 2005, có quyền “đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật” như quy định tại khoản 1 Điều 166 BLDS 2015. Như vậy, BLDS 2005 và BLDS 2015 đều quy định chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu và người sử dụng trái pháp luật (BLDS 2015 bổ sung thêm một quyền của chủ sở hữu, đó là quyền đòi lại tài sản từ người được hưởng lợi trái pháp luật). Trong trường hợp đó, Điều 255 BLDS 2005 về các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu quy định: “Chủ sở hữungười chiếm hữu hợp pháp… có quyền yêu cầu Tòa án… buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản… và yêu cầu bồi thường thiệt hại” và khoản 2 Điều 164 BLDS 2015 về các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu quy định: “Chủ sở hữu… có quyền yêu cầu Tòa án… buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản… và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Từ các quy định nêu trên cho thấy, trong trường hợp quyền sở hữu bị tước đoạt thì:

  • BLDS 2015 chỉ cho phép chủ sở hữu – người có đầy đủ ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, mới có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền sở hữu; còn BLDS 2005 còn cho phép người chiếm hữu hợp pháp (nhưng không cho phép người sử dụng hợp pháp) có quyền yêu Tòa án bảo vệ quyền sở hữu;
  • Cả hai BLDS 2005 và BLDS 2015 đều quy định yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trong trường hợp này là yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu. BLDS 2005 không quy định về việc chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người được hưởng lợi trái pháp luật, trong khi đó BLDS 2015 có quy định này.

Hạn chế quyền sở hữu theo khoản 1 Điều 255 BLDS 2005 là “hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu” và theo quy định tại khoản 2 Điều 164 BLDS 2015 là “hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu”. Trong trường hợp này, Điều 255 BLDS 2005 về biện pháp bảo vệ quyền sở hữu cho phép “chủ sở hữungười chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Tòa án… buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải… chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và bồi thường thiệt hại” và khoản 2 Điều 164 BLDS 2015 về biện pháp bảo vệ quyền sở hữu quy định: “Chủ sở hữu… có quyền yêu cầu Tòa án… buộc người có hành vi xâm phạm quyền… chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu…
Từ các quy định nêu trên cho thấy, trong trường hợp việc thực hiện quyền sở hữu bị hạn chế thì:

  • BLDS 2005 cho phép chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền sở hữu;
  • Trong khi đó, BLDS 2005 chỉ cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền sở hữu.

Với cách hiểu về yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu như vừa phân tích, vấn đề đặt ra là quy định trước đây về không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về quyền đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu”[3] có đồng nhất với “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu”[4] hay không.
 

2. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” có phải là quy định mới?

Có quan điểm cho rằng, việc bổ sung trong BLDS 2015 trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” chỉ mới so với BLDS 2005 “nhưng lại không mới so với các văn bản pháp luật khác”.[5] Và quy định này “nhằm giúp đồng bộ” với quy định tương tự đã được ghi nhận trước đó tại BLTTDS 2004 sửa đổi 2011 và Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS (Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP).[6] Theo đó, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp dân sự sau đây: (i) tranh chấp về quyền sở hữu tài sản mà đó là tranh chấp ai có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó; và (ii) tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu mà đó là tranh chấp về tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình nhưng do người khác quản lý, chiếm hữu tài sản đó?[7]

Tác giả cho rằng, các tranh chấp nêu trên không đồng nghĩa với “yêu cầu khởi kiện bảo vệ quyền sở hữu” kể cả theo BLDS 2005 và BLDS 2015.[8]

Thứ nhất: Theo điểm a khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004 sửa đổi 2011 quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về đòi tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu mà không quy định về đòi tài sản do người khác đang sử dụng. Trong khi đó, Điều 255 và Điều 256 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 164 và khoản 1 Điều 166 BLDS 2015 quy định đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu còn bao gồm cả việc đòi tài sản từ bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, trong đó bao gồm người đang sử dụng trái phép tài sản thuộc sở hữu của chủ sở hữu;
Thứ hai: Điểm a khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004 sửa đổi 2011 quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về quyền sở hữu và tranh chấp về đòi tài sản. Cũng theo Điều 255 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 164 BLDS 2015 quy định đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu còn bao gồm cả yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi xâm phạm quyền chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu;
Thứ ba: Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu là tranh chấp về tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình nhưng do người khác quản lý, chiếm hữu tài sản đó”. Điều này có nghĩa cũng không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp người sử dụng hợp pháp tài sản đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; trong khi đó, yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trong việc đòi lại tài sản, theo Điều 255 BLDS 2005 chỉ thuộc về chủ sở hữu và người chiếm hữu tài sản, và theo Điều 164 BLDS 2015 thì chỉ chủ sở hữu mới có quyền đòi tài sản.
Thứ tư: Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu quy định tại Điều 255 BLDS 2005 không dành riêng cho chủ sở hữu mà còn cả cho người chiếm hữu hợp pháp, nhưng Điều 164 BLDS 2015 quy định yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu chỉ dành cho chủ sở hữu. Nói một cách khác, quy định của BLDS 2005 được hiểu là đối với trường hợp người chiếm hữu hợp pháp khởi kiện đòi lại tài sản cũng không áp dụng thời hiệu khởi kiện, nhưng theo BLDS 2015 thì chỉ có chủ sở hữu khởi kiện đòi lại tài sản mới không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Thứ năm: Các quy định tại BLTTDS 2004 sửa đổi 2011 không có quy định về trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp đòi lại tài sản từ người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, tại Điều 256 BLDS 2005 và Điều 166 BLDS 2015 đều đã có quy định quyền đòi lại tài sản từ người được hưởng lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Vì vậy, đây cũng là trường hợp thuộc yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên cũng không được áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Từ những phân tích trên, rõ ràng, quy định trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu là quy định có bổ sung mới và hoàn thiện hơn so với quy định trước đây về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về quyền sở hữu và đòi lại tài sản. Do đó, việc “đánh đồng” các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu tại khoản 2 Điều 155 BLDS 2015 với các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004 sửa đổi 2011 và Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP là không đúng và sẽ dẫn đến hệ quả là không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với một số trường hợp không phải là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu và có những yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu thì lại áp dụng thời hiệu khởi kiện, như đã phân tích ở trên.
Vậy, vấn đề tiếp theo là, quy định về không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu theo BLDS 2015 được hiểu và xác định như thế nào trong một số tranh chấp về dân sự có liên quan thuộc thẩm quyền của Tòa án.
 

3. Có cần thiết phải xác định yêu cầu về bảo vệ quyền sở hữu trong từng vụ án cụ thể để quyết định áp dụng hay không áp dụng thời hiệu?

Như đã phân tích tại mục 1 và mục 2, nội hàm của “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” bao gồm:

  • Chỉ có chủ sở hữu – người có đầy đủ ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt mới có quyền yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu;
  • Quyền yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu bao gồm quyền yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sảnchấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu… và bồi thường thiệt hại.”

Như vậy, các yêu cầu khởi kiện đáp ứng đầy đủ hai yếu tố nêu trên sẽ thuộc đối tượng không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Các yêu cầu đó có thể được thể hiện thông qua một trong các tranh chấp liên quan được liệt kê tại Điều 26 BLTTDS 2015 mà thường là tranh chấp về quyền sở hữu, các quyền khác đối với tài sản, tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự…
Điều 26 BLTTDS 2015 liệt kê các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trong đó không có “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu”,[9] trong khi pháp luật về thời hiệu khởi kiện chỉ có quy định chung về thời hiệu khởi kiện;[10] và thời hiệu khởi kiện (03 năm) đối với tranh chấp về hợp đồng, về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (02 năm), thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (03 năm) và một số thời hạn khác đối với yêu cầu về thừa kế tài sản…[11] và về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu.[12] Do đó, như đã nêu, vì “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” có thể “thuộc” bất kỳ một trong số tranh chấp trên nên việc xác định có áp dụng thời hiệu khởi kiện hay không sẽ không thể căn cứ vào tranh chấp cụ thể được quy định tại Điều 26 BLTTDS 2015. Thay vào đó, trong quá trình giải quyết từng tranh chấp cụ thể Tòa án cần phải xem xét tranh chấp đó có chứa đựng yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu hay không, để từ đó quyết định có áp dụng thời hiệu khởi kiện hay không.
Xác định yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trong tranh chấp về quyền sở hữu
Tranh chấp về quyền sở hữu là tranh chấp về việc ai có quyền sở hữu tài sản đang tranh chấp. Nói cách khác, đó là tranh chấp về việc ai có cả ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Rõ ràng, tranh chấp quyền sở hữu là để yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu. Vì vậy, trong vụ án mà nguyên đơn A yêu cầu Tòa án buộc bị đơn B trả lại tài sản cho A mà giữa A và B có tranh chấp ai là chủ sở hữu đối với tài sản đó (Ví dụ 1) được coi là tranh chấp quyền sở hữu và thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tranh chấp quyền sở hữu nêu trên có thể xuất phát hoặc không xuất phát từ một giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự nào giữa A và B.
Tranh chấp chỉ về việc ai có quyền thực hiện một trong ba quyền năng thuộc quyền sở hữu không phải là tranh chấp về quyền sở hữu, nhưng vẫn có thể được xác định là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu.
Ví dụ, A là chủ sở hữu căn nhà, theo thỏa thuận giữa A và B, A giao cho B quyền định đoạt căn nhà. Trong quá trình thực hiện việc định đoạt căn nhà cho người khác thì A đã cản trở B thực hiện quyền định đoạt đó. B khởi kiện A yêu cầu Tòa án buộc A phải chấm dứt hành vi cản trở (ví dụ, phải giao giấy tờ về sở hữu căn nhà cho B để B định đoạt căn nhà) (Ví dụ 2). Đây là yêu cầu về chấm dứt hành vi xâm phạm việc thực hiện quyền định đoạt tài sản chứ không phải là tranh chấp về quyền sở hữu. Mặt khác, đây là yêu cầu của người chỉ có quyền định đoạt tài sản chứ không phải là yêu cầu của chủ sở hữu tài sản. Do đó, tranh chấp nêu trên không phải là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu và vì vậy không thuộc đối tượng không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Trong trường hợp này, Tòa án cần áp dụng thời hiệu khởi kiện theo hợp đồng (03 năm) vì đây là tranh chấp về hợp đồng mà trong đó yêu cầu khởi kiện không phải là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu.
Tuy nhiên, cũng trong ví dụ nêu trên, ngược lại, nếu A kiện B về việc B thực hiện quyền định đoạt tài sản trái pháp luật hoặc trái thỏa thuận giữa A và B (Ví dụ 3) thì đây không phải là tranh chấp về quyền sở hữu mà là tranh chấp theo hợp đồng. Mặc dù phát sinh từ hợp đồng, nhưng đây là yêu cầu của chủ sở hữu buộc B chấm dứt hành vi xâm phạm việc thực hiện quyền sở hữu bởi lẽ việc thực hiện quyền sở hữu bao gồm việc thực hiện bất kỳ một trong số ba quyền năng cấu thành quyền sở hữu. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 164 BLDS 2015[13] đây là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu và thuộc đối tượng không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Một ví dụ khác: A là chủ sở hữu tài sản khởi kiện đòi C trả lại tài sản mà C đang chiếm hữu hoặc sử dụng không có căn cứ pháp luật; đối với tài sản đó, giữa A và B không tranh chấp về quyền sở hữu và không có một thỏa thuận nào (Ví dụ 4). Đây không phải là tranh chấp về quyền sở hữu, không phải là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự mà là “tranh chấp khác” theo khoản 14 Điều 26 BLTTDS 2015. Tuy nhiên, tương tự như phân tích tại Ví dụ 3 nêu trên, đây là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu và thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện.[14]
Như vậy, việc tranh chấp về quyền sở hữu luôn được xác định là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, tranh chấp về việc thực hiện một trong ba quyền năng không phải là tranh chấp về quyền sở hữu và được coi là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nếu người khởi kiện là chủ sở hữu; nhưng lại không phải là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nếu người khởi kiện chỉ là người thực hiện một trong ba quyền năng đó chứ không phải là chủ sở hữu.
Xác định yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trong tranh chấp về các quyền khác đối với tài sản
Các quyền khác đối với tài sản là “quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác”, theo đó bao gồm quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt.[15]
Các biện pháp bảo vệ các quyền khác đối với tài sản cũng được quy định tại Điều 164 BLDS 2015 về “Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản”, theo đó “chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án….” Điều này dẫn tới việc hiểu yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu và yêu cầu bảo vệ các quyền khác là hai khái niệm khác nhau. Và như vậy, vì yêu cầu bảo vệ các quyền khác không thuộc các trường hợp nêu tại Điều 155 BLDS 2015 quy định về các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện nên không thuộc đối tượng không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Trong khi đó, yêu cầu bảo vệ các quyền khác, ví dụ yêu cầu Tòa án buộc chủ sở hữu bất động sản liền kề dành lối cấp, thoát nước (Điều 252 BLDS 2015), dành lối đi qua (Điều 254 BLDS 2015) v.v… không phải là tranh thấp theo hợp đồng, cũng không phải là yêu cầu bồi thường thiệt hại mà BLDS 2015 có quy định về thời hiệu khởi kiện. Như vậy, đối với một số yêu cầu bảo vệ các quyền khác đối với tài sản mà căn cứ xác lập các quyền đó không phải là do thỏa thuận thì BLDS 2015 không quy định về thời hiệu khởi kiện và cũng không thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 155 BLDS 2015.
Xác định yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trong tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự
Như đã trình bày ở các phần trên, trong vụ án tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự mà bản chất của yêu cầu khởi kiện là để bảo vệ quyền sở hữu (chủ sở hữu đòi lại tài sản do người khác chiếm hữu, sử dụng hoặc yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái phép việc thực hiện quyền sở hữu) thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Các ví dụ nêu tại điểm (i) trên đây khi bàn về bảo vệ quyền sở hữu trong vụ án tranh chấp về quyền sở hữu, về thực hiện quyền sở hữu v.v… đã minh thị khá rõ vấn đề này.
Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại để bảo vệ quyền sở hữu
Khoản 2 Điều 164 BLDS 2015 quy định: “Chủ sở hữu… có quyền yêu cầu Tòa án… buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sảnchấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu… và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.  Quy định này có nghĩa khi chủ sở hữu yêu cầu trả lại tài sản hoặc chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu thì chủ sở hữu cũng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể xuất hiện trong vụ án yêu cầu trả lại tài sản hoặc yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở hoặc có thể xuất hiện độc lập sau khi các hành vi xâm phạm quyền sở hữu, hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu đã chấm dứt. Do đó, yêu cầu bồi thường thiệt hại trong bất kỳ một trong hai trường hợp nêu trên đều nhằm bảo vệ quyền sở hữu nên thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu.

Kết luận

Qua nội dung trình bày, tác giả cho rằng, xác định yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu cần phải dựa trên các quy định của BLDS 2015 quy định về bảo vệ quyền sở hữu và biện pháp bảo vệ quyền sở hữu thông qua Tòa án. Theo đó, yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu là yêu cầu của chủ sở hữu đối với Tòa án đề nghị Tòa án buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu phải trả lại tài sản cho người yêu cầu, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện đầy đủ và trọn vẹn quyền sở hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm hoặc cản trở việc thực hiện quyền sở hữu. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trước hết phải là yêu cầu của chủ sở hữu hoặc người cho rằng là chủ sở hữu đối với hành vi vi phạm quyền sở hữu hoặc cản trở việc thực hiện bất kỳ quyền năng nào cấu thành quyền sở hữu.
“Vấn đề bảo vệ quyền sở hữu luôn được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của bất cứ Bộ luật Dân sự nào, trong đó có Bộ luật Dân sự nước ta”.[16] Chính vì lẽ đó, tìm hiểu, phân tích đúng, chính xác và đầy đủ về yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nói chung, quy định về việc không áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nói riêng là một việc làm cần thiết và quan trọng. So với quy định trước đây về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện, các quy định mới này mang tính chính xác, khái quát và đầy đủ hơn. Từ đó, yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu có thể hiện hữu trong tranh chấp về quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự hoặc trong vụ án yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc trong “tranh chấp khác” theo khoản 14 Điều 26 BLTTDS 2015. Vì vậy, khi triển khai áp dụng, Tòa án cần phải thận trọng xem xét bản chất của từng vụ án liên quan đến quyền sở hữu để xác định tranh chấp đó có phải là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu hay không, cho dù có thể đó là tranh chấp theo hợp đồng, để xác định chính xác việc áp dụng hay không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Tác giả hy vọng những ý kiến trao đổi sẽ đóng góp phần nào trong quá trình xây dựng các văn bản hướng dẫn trong thời gian tới./.
[1] Điểm a khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004 sửa đổi năm 2011.
[2] Điều 185 BLTTDS 2015 quy định: “Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu” và “Các quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự.”
[3] Điểm a khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004 sửa đổi năm 2011.
[4] Khoản 2 Điều 155 BLDS 2015.
[5] Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức, tr.214.
[6] Đỗ Văn Đại, (5), tr.215.
[7] Điểm a, b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP. Xem thêm Đỗ Văn Đại (5), tr.215.
[8] Xem thêm phần phân tích tại mục 1 của bài viết.
[9] Xem thêm các quy định tại khoản 2, 3 Điều 26 BLTTDS 2015… Cũng có ý kiến cho rằng việc quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với “yêu cầu về bảo vệ quyền sở hữu” là chưa chính xác, vì thời hiệu khởi kiện chỉ xác định trong vụ án dân sự phát sinh từ tranh chấp, chứ không thể là yêu cầu vì như vậy sẽ phát sinh theo “việc”. Và nếu là “việc” thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện mà phải áp dụng thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Theo tác giả, trong trường hợp này vẫn có thể chấp nhận được khi sử dụng thuật ngữ “yêu cầu”, bởi lẽ, dù có tranh chấp thì khi thực hiện hành vi khởi kiện – chủ thể khởi kiện vẫn phải thể hiện trong nội dung đơn khởi kiện về các yêu cầu cụ thể của mình để Tòa án xác định, và giải quyết cho họ theo quy định của pháp luật. Vấn đề đặt ra và theo tác giả là rất quan trọng, chính là, làm thế nào để Tòa án xác định đúng, chính xác yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu của người khởi kiện trong các tranh chấp hỗn hợp thông qua giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự…
[10] Khoản 3 Điều 150 BLDS 2015 quy định: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”.
[11] Xem Điều 429, Điều 132, Điều 588 và Điều 623 BLDS 2015.
[12] Xem khoản 2 Điều 155 BLDS 2015.
[13] Khoản 2 Điều 164 BLDS 2015 quy định một trong những biện pháp bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu là chủ sở hữu có quyền yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi xâm phạm quyền chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu.
[14] Nói rõ thêm, trong ví dụ này C xác định mình không phải là chủ sở hữu nhưng có quyền sử dụng, chiếm hữu vì nhặt được… Bởi nếu C cũng cho rằng mình là chủ sở hữu thì khi đó phải xác định vụ án tranh chấp về quyền sở hữu theo quy định tại khoản 2 Điều 26 BLTTDS 2015 chứ không phải là trường hợp tranh chấp khác… quy định tại khoản 14 Điều 26 BLTTDS 2015. Xem thêm khoản 2 Điều 164 BLDS 2015 quy định một biện pháp khác để bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu là chủ sở hữu có quyền yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản.
[15] Xem Điều 159 BLDS 2015 và xem thêm các quy định cụ thể về quyền khác đối với tài sản tại Chương XIV BLDS 2015.
[16] Xem tờ trình số 390/Ttr-CP, ngày 12/10/2014 về dự án Bộ luật dân sự sửa đổi, tr.3.
 

Nguồn: Tạp chí tòa án (tapchitoaan.vn)

 

Hướng dẫn về thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách với người cho hưởng án treo

Ngày 15/5/2018, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ban hành Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, có hiệu lực áp dụng từ 01/7/2018, trong đó có hướng dẫn cụ thể về thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách.
 
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP đã kế thừa những qui định sau đây của Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP về cách tính thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách, cụ thể:
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cũng cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tuy nhiên, Nghị quyết đã sửa đổi và qui định thêm 3 trường hợp, cụ thể sau:
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, xét xử phúc thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần đầu.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án sơ thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.
– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc phẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Phân biệt Bản luận tội và Bản cáo trạng của Viện kiểm sát

Trong pháp luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát (VKS) là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật – đây được xem là một trong những nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
 
Theo đó, VKS có quyền quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tốxét xửthi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bởi vậy, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện “Luận tội” và sẽ do Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành tại phiên tòa (điểm c khoản 1 Điều 266 Bộ luật tố tụng hình sự 2015).
Tuy nhiên, chắc hẳn nhiều người có thắc mắc rằng: “Bản cáo trạng” của VKS có phải là “Bản luận tội” không? Và câu trả lời cho câu hỏi trên là: “KHÔNG”. Thực tế đây là hai vấn đề thuộc về quyền hạn của VKS nhưng chúng lại được tiến hành vào những thời điểm khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hơn nữa, xét về bản chất, nội dung của “Bản cáo trạng” và “Bản luận tội” không phải cùng là một. Ngoài ra, hai vấn đề này cũng mang những ý nghĩa riêng biệt nhất định. Dưới đây là bảng so sánh về sự khác biệt giữa “Bản cáo trạng” và Bản luận tội” của VKS để từ đó giúp mọi người có nhìn nhận rõ ràng, chính xác:
 

TIÊU CHÍ BẢN CÁO TRẠNG BẢN LUẬN TỘI
Hình thức Văn bản pháp lý – một loại văn bản tố tụng được ghi nhận tại Điều 132 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Lời trình bày luận tội tại phiên tòa.
Thời điểm tiến hành Trước khi tiến hành xét hỏi,Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có). Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội. 
=>> Như vậy, sau khi Kiểm sát viên đã công bố bản cáo trạng vào thời điểm giai đoạn bắt đầu việc tranh tụng tại phiên tòa và trải qua quá trình xét hỏi xong thì sau đó Kiểm sát viên mới tiến hành trình bày lời luận tội.

Nội dung

– Bản cáo trạng ghi rõ:+Diễn biến hành vi phạm tội; +Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
+Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
+ Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng;
+Nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
– Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật hình sự được áp dụng.
– Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra cáo trạng; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra bản cáo trạng.

– Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ:+Những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án;
+Tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, +Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;
+Mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp;
+Nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
– Luận tội của Kiểm sát viên phảicăn cứvào: những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
– Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.
– Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Ý nghĩa Là văn bản pháp lý thể hiện quan điểm của VKS về vụ án hình sự trên cơ sở kết quả hoạt động điều tra và ra quyết định truy tố bị can ra trước toà án để xét xử.Nói cách khác, bản cáo trạng là văn bản pháp lý kết thúc giai đoạn điều tra và mở đầu một giai đoạn tố tụng mới, đó là giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự.
=>VKS quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.
Bản luận tội không những là căn cứ để bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về toàn bộ vụ án mà VKS đã truy tố trước Tòa ántrên cơ sở hoạt động tranh tụng tại phiên tòa.=> Bản luận tội của VKS là cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định việc đưa ra phán quyết của mình đối với người phạm tội và toàn bộ vụ án theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.
=>> Như vậy, bản luận tội của VKS phải “căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra và ý kiến của người tham gia tố tụng tại phiên tòa”, bởi vậy nó đảm bảo được tính khác quan, chính xác, đầy đủ hơn so với bản cáo trạng trước đó.  Do đó, bản luận tội mang ý nghĩa quyết định hơn trong việc Tòa án đưa ra phán quyết đối với người phạm tội, đảm bảo nguyên tắc xét xử “đúng người, đúng tội” trong tố tụng hình sự.

 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Hủ tục “bắt vợ” có vi phạm pháp luật?

“Bắt vợ” là một phong tục lâu đời của đồng bào Dân tộc H’mông. Khi người con trai quen biết và đem lòng yêu một cô gái, anh ta sẽ tổ chức làm cỗ mời bạn bè và nhờ các bạn lập kế hoạch “cướp” cô gái về nhà một cách bất ngờ, giữ cô trong ba ngày. Sau đó sẽ sang nhà gái thông báo bàn việc cưới. Thường thì, hai người đã “tình trong như đã mặt ngoài cò e” nên việc “bắt vợ” sẽ không có gì khó khăn.
Nhưng từ lâu phong tục này đã bị biến dạng. Hủ tục này bắt nguồn từ tập tục làm nương, người phụ nữ khi lấy về thường trở thành lao động chính. Chỉ vì muốn có thêm người làm, bất chấp con mình còn ít tuổi, nhiều gia đình người Mông đã tổ chức cướp con gái nhà người khác làm vợ cho con mình một cách đầy vũ lực chứ không còn mang tính chất thủ tục. Một khi cô gái đã bị bắt đi, khó lòng quay lại được nữa vì theo tục lệ của người Mông, đã ở nhà trai một đêm thì không được phép trở về nhà cha mẹ đẻ nữa. Sau 3 ngày, nhà trai mới cử người sang nhà gái báo chính thức về chuyện “bắt vợ”.
Những tinh hoa tốt đẹp đã duy trì từ bao đời nay đang ngày càng bị biến dạng, là những tệ nạn ảnh hưởng tới quyền của phụ nữ, đi trái với việc mà chúng ta đang cố gắng thực hiện là một nền văn minh bình đẳng giới. Câu hỏi đặt ra ở đây là, liệu hành vi bắt vợ có được xem là vi phạm pháp luật không?
Hành vi lợi dụng phong tục “bắt vợ” để cưỡng ép kết hôn, bắt giữ người trái pháp luật là những hành vi biến tướng của phong tục này cần phải bị lên án và bị xử lý theo pháp luật.
Theo Luật sư Đặng Văn Cường, phong tục, tập quán không chỉ là nét văn hóa mà còn là quy tắc sinh hoạt động đồng. Phong tục cũng là những quy phạm có thể nâng lên thành luật, là nguồn của pháp luật. Khi không có luật điều chỉnh về một mối quan hệ, một vấn đề trong xã hội thì ưu tiên áp dụng phong tục, tập quán để giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội. Tuy nhiên, khi đã có quy định pháp luật do Nhà nước ban hành, thừa nhận thì mọi công dân phải tuân thủ quy định pháp luật đó. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều cần bị phát hiện và xử lý nghiêm minh. Hiến pháp và pháp luật hiện hành bảo đảm và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Đ20. Hiến pháp 2013) (Theo info.net)
Theo luật pháp nước ta, ”cướp vợ” là hành vi cưỡng ép kết hôn thuộc các hành vi cấm kết hôn được quy định tại Khoản 2, Điều 5, Luật hôn nhân và gia đình 2014:

2. Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;
e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
h) Bạo lực gia đình;
i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

Người có hành vi cưỡng ép kết hôn sẽ bị xử lí theo Điều 55, Nghị định 157/2013/NĐ-CP:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.
2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác

Việc cưỡng ép kết hôn có thể bị truy cứu trách nhiệm theo Điều 181, Luật Hình sự 2015:

Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.

“Bắt vợ” vốn là một nét đẹp văn hóa những lại bị biến tướng nhằm phục vụ mục đích không tốt đẹp. Mong rằng những hiện tượng như vậy sẽ được xóa bỏ để phong tục giữ nguyên được nét đẹp vốn có của nó.

Tại sao không được bắt người vào ban đêm?

Khoản 3, điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định “Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã“.
Như vậy, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã thì bên công an không được bắt người vào ban đêm.

Ban đêm trong tố tụng hình sự

Ban đêm trong tố tụng hình sự được quy định từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.

Tại sao không được bắt người vào ban đêm?

Có thể nhà làm luật cho rằng việc bắt bị canbị cáo để tạm giam không yêu cầu tính cấp thiết đến mức phải thi hành ngay cả vào ban đêm, khi mà cần giữ trật tự bởi quần chúng nhân dân đang trong thời gian nghỉ ngơi sau thời gian dài làm việc trong ngày. Đồng thời, do tính cấp thiết, cấp bách và không thể trì hoãn của các trường hợp bắt người còn lại, nhà làm luật không giới hạn thời gian khi áp dụng. Đường lối áp dụng về thời gian mà nhà làm luật xác định là hoàn toàn đúng đắn, phản ánh đúng yêu cầu khách quan.
 

Nếu bên công an bắt người không mặc đồng phục, không thuộc hai trường hợp nêu trên ta hoàn toàn có quyền yêu cầu trực tiếp lên thủ trưởng đơn vị yêu cầu giải quyết và bồi thường nếu gây thiệt hại đối với hành vi bắt người trái pháp luật.

 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)