Các thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng dân sự

Khái niệm chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. (Điều 93 BLTTDS 2015)
 

Các thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng dân sự

Chứng cứ có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết vụ việc dân sự nhưng làm phạm trù pháp lý khá phức tạp. Tuy vậy, như các sự việc, sự việc khác con người vẫn có thể nhận thức được thông qua các thuộc tính của nó. Các thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng dân sự bao gồm: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp.
 

Tính khách quan của chứng cứ trong tố tụng dân sự

Chứng cứ có tính khách quan bởi chứng cứ là cơ sở để nhận thức vụ việc dân sự. Theo lý luận về nhận thức thì người ta chỉ nhận thức đúng bản chất của sự vật, xự việc khi nó được phản ánh lại một cách khách quan. Những cái đó có được là do sự tưởng tượng, hư cấu không bao giờ nói lên được bản chất sự vật, sự việc và không thể làm cơ sở của nhận thức.
Tính khách quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ phải là cái có thật, tồn tại ngoài ý muốn của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng.Trong quá trình tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng không thể tạo ra chúng theo ý muốn chủ quan của họ mà chỉ có thể thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chúng.  Xác định được tính khách quan của chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tòa án loại bỏ được những cái không có thật, không sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, đúng đắn.
 

Tính liên quan của chứng cứ trong tố tụng dân sự

Chứng cứ có tính liên quan bởi chứng cứ được tòa ns dựa vào để giải quyết vụ việc dân sự. Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ giữa chứng cứ và vụ việc dân sự có mối quan hệ nhất định. Nhờ chứng cứ mà tòa án có thể công nhận hay phủ nhận được tình tiết, sự kiện này hay tình tiết, sự kiện khác của vụ việc dân sự hoặc đưa ra tin tức về nó. Thông thường, chứng cứ bao gồm những tin tức liên quan trực tiếp đến vụ việc dân sự. Thông qua nó tòa án có thể khẳng định ngay được có hay không tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự nhưng trong nhiều trường hợp, chứng cứ còn bao gồm cả những tin tức liên quan gián tiếp đến vụ việc dân sự.
Tuy vậy, nhờ chúng tòa án vẫn có khả năng đưa ra những kết luận nhất định về vụ việc dân sự đang giải quyết. Căn cứ vào tính liên quan của chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ việc, tòa án có thể loại bỏ được những cái không liên quan đến vụ việc dân sự. Từ đó, không phải xác minh làm rõ chúng, bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng và đúng đắn.
 

Tính hợp pháp của chứng cứ trong tố tụng dân sự

Chứng cứ có tính hợp pháp bởi việc giải quyết vụ việc dân sự không thể tách  rời quá trình nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Quá trình này lại phức tạp vì thế pháp luật phải quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến chúng thì mới có thể làm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng với bản chất của nó.
Tính hợp pháp của chứng cứ yêu cầu chứng cứ phải được rút ra từ những nguồn nhất định do pháp luật quy định; quá trình thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng phải được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể chứng minh phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về chứng cứ. Đối với những gì không được rút ra từ các nguồn do pháp luật quy định, không được thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng theo đúng quy định của pháp luật thì không được coi là chứng cứ, không được sử dụng giải quyết vụ việc dân sự.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Dùng dụng cụ nào để tự vệ thì được xem là hợp pháp?

Một công dân Việt Nam bình thường sử dụng dụng cụ nào để tự vệ thì được xem là hợp pháp? đó là câu hỏi nhiều người đang quan tâm trong thời gian gần đây.
Hiện tại thì pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể về các dụng cụ hợp pháp mà một công dân bình thường có thể mang theo nhằm mục đích tự vệ. Việc “hợp pháp” phải tuỳ thuộc vào dụng cụ và chủ thể được phép sử dụng dụng cụ đó. Vì thế, mọi người phải đối chiếu dụng cụ mình mang theo với các dụng cụ và chủ thể được phép sử dụng dưới đây để xác định xem liệu dụng cụ mà mình mang theo người có là hợp pháp hay không?
 
Căn cứ pháp lý: Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017.
 

STT Dụng cụ Chủ thể được phép sử dụng
1 Vũ khí quân dụng gồm (Khoản 2 Điều 3):

  • Súng cầm tay bao gồm: súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng trung liên, súng chống tăng, súng phóng lựu;
  • Vũ khí hạng nhẹ bao gồm: súng đại liên, súng cối, súng ĐKZ, súng máy phòng không, tên lửa chống tăng cá nhân;
  • Vũ khí hạng nặng bao gồm: máy bay chiến đấu, trực thăng vũ trang, xe tăng, xe thiết giáp, tàu chiến, tàu ngầm, pháo mặt đất, pháo phòng không, tên lửa;
  • Bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi; đạn sử dụng cho các loại vũ khí quy định tại các điểm a, b và c khoản này.
 

  • Quân đội nhân dân;
  • Dân quân tự vệ;
  • Cảnh sát biển;
  • Công an nhân dân;
  • Cơ yếu;
  • Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • Kiểm lâm, Kiểm ngư;
  • An ninh hàng không;
  • Hải quan cửa khẩu, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của Hải quan.

(Khoản 1 Điều 18)

2 Súng săn là súng được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, được sử dụng để săn bắn, bao gồm: súng kíp, súng hơi và đạn sử dụng cho các loại súng này. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3, súng săn được xem là vũ khí. Khoản 1 Điều 5 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ quy định nghiêm cấm cá nhân sở hữu vũ khí –> Cá nhân không được phép mang theo súng săn.
3  
Vũ khí thô sơ là vũ khí có cấu tạo, nguyên lý hoạt động đơn giản và được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, bao gồm: dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu. (Khoản 4 Điều 3)
 

  • Quân đội nhân dân;
  • Dân quân tự vệ;
  • Cảnh sát biển;
  • Công an nhân dân;
  • Cơ yếu;
  • Kiểm lâm, Kiểm ngư;
  • An ninh hàng không;
  • Hải quan cửa khẩu, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của Hải quan;
  • Câu lạc bộ, cơ sở đào tạo, huấn luyện thể thao có giấy phép hoạt động;
  • Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh.

(Khoản 1 Điề

Vũ khí thể thao là súng và các loại vũ khí thô sơ dùng để luyện tập, thi đấu thể thao. (Khoản 5 Điều 3)
  • Quân đội nhân dân;
  • Dân quân tự vệ;
  • Công an nhân dân;
  • Câu lạc bộ, cơ sở đào tạo, huấn luyện thể thao có giấy phép hoạt động;
  • Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh;
  • Cơ quan, tổ chức khác được thành lập, cấp phép hoạt động trong luyện tập, thi đấu thể thao.

(Khoản 1 Điều 24)

5 Vật liệu nổ gồm:

  • Vật liệu nổ quân dụng.
  • Vật liệu nổ công nghiệp.
 

  • Các tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an được nghiên cứu, chế tạo, sản xuất và bảo quản vật liệu nổ quân dụng. (Khoản 1 Điều 35)
  • Các tổ chức thuộc Nhà nước được sản xuất vật liệu nổ công nghiệp theo quyết định của Thủ tướng chính phủ. (Điểm a Khoản 1 Điều 37)
6 Công cụ hỗ trợ là phương tiện, động vật nghiệp vụ được sử dụng để thi hành công vụ, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nhằm hạn chế, ngăn chặn người có hành vi vi phạm pháp luật chống trả, trốn chạy; bảo vệ người thi hành công vụ, người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hoặc báo hiệu khẩn cấp, bao gồm:

  • Súng bắn điện, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, từ trường, laze, lưới; súng phóng dây mồi; súng bắn đạn nhựa, nổ, cao su, hơi cay, pháo hiệu, hiệu lệnh, đánh dấu và đạn sử dụng cho các loại súng này;
  • Phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa;
  • Lựu đạn khói, lựu đạn cay, quả nổ;
  • Dùi cui điện, dùi cui cao su, dùi cui kim loại; khóa số tám, bàn chông, dây đinh gai; áo giáp; găng tay điện, găng tay bắt dao; lá chắn, mũ chống đạn; thiết bị áp chế bằng âm thanh;
  • Động vật nghiệp vụ là động vật được huấn luyện để sử dụng cho yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;
  • Công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự.

(Khoản 11 Điều 3)

  • Quân đội nhân dân;
  • Dân quân tự vệ;
  • Cảnh sát biển;
  • Công an nhân dân;
  • Cơ yếu;
  • Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • Cơ quan thi hành án dân sự;
  • Kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, Kiểm ngư, lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thủy sản;
  • Hải quan cửa khẩu, lực lượng chuyên trách chống buôn lậu của Hải quan;
  • Đội kiểm tra của lực lượng Quản lý thị trường;
  • An ninh hàng không, lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải;
  • Lực lượng bảo vệ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ;
  • Ban Bảo vệ dân phố;
  • Câu lạc bộ, cơ sở đào tạo, huấn luyện thể thao có giấy phép hoạt động;
  • Cơ sở cai nghiện ma túy;
  • Các đối tượng khác có nhu cầu trang bị công cụ hỗ trợ thì căn cứ vào tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định.

(Khoản 1 Điều 55)

 
Qua bảng trên đây thì các bạn có thể nhận thấy rằng hầu như một công dân bình thường khi mang theo bất kỳ dụng cụ nào được xem là “vũ khí” sẽ coi như không hợp pháp, dù cho việc sử dụng dụng cụ đó là nhằm mục đích tự vệ. Như vậy, sẽ ra sao nếu trong trường hợp bạn bị người khác xâm phạm tính mạng, thân thể mà không có bất kỳ dụng cụ nào để tự vệ; thiết nghĩ luật nên quy định liệt kê các dụng cụ mà công dân được phép mang theo nhằm mục đích tự vệ, tránh trường hợp khi gặp chuyện xấu thì người bị hại chỉ có biết cắn răng chịu trận.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Thực thi pháp luật bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất ở

Trong trường hợp bị thu hồi đất ở, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trực tiếp bị xâm hại. Họ không chỉ mất quyền sử dụng đất ở mà còn buộc phải di chuyển chỗ ở. Đời sống của họ bị ảnh hưởng rất lớn. Để giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định đời sống thì Nhà nước phải thực hiện việc bồi thường. Hơn nữa, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng đất là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ.
 
1. Cơ sở lý luận của việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người sử dụng đất[1]. Đặc điểm của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất bao giờ cũng gắn với một sự kiện pháp lý là Nhà nước ra quyết định thu hồi đất. Hiến pháp quy định đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý[2]. Trên tinh thần đó, Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, trong đó đặc biệt là quy định về quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai[3]. Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Vì vậy, khi Nhà nước thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì Nhà nước lấy lại đất đã giao thông qua việc thu hồi đất. Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai[4].
Trong trường hợp bị thu hồi đất ở, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất trực tiếp bị xâm hại. Họ không chỉ mất quyền sử dụng đất ở mà còn buộc phải di chuyển chỗ ở. Đời sống của họ bị ảnh hưởng rất lớn. Để giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định đời sống thì Nhà nước phải thực hiện việc bồi thường. Hơn nữa, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng đất là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt[5]. Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất ở của người sử dụng đất để sử dụng vào bất kể mục đích gì mà làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ bồi thường.
 
2. Quy định của pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
Theo quy định của pháp luật có thể thấy là có nhiều lý do dẫn tới việc Nhà nước thu hồi đất. Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”6. Các điều 61, 62, 64, 65 Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ những trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; do vi phạm pháp luật đất đai; do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.
Mặc dù vậy, để tránh việc lạm dụng chính sách thu hồi đất, Nhà nước cũng có quy định hạn chế đối với hoạt động này. Tại khoản 3 Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật”. Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 74, Điều 88 Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Đối với trình tự, thủ tục bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định theo hướng tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của nhân dân trong việc đo đạc, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; trách nhiệm đối thoại và giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuận. Theo đó:
Bước 1. Thông báo thu hồi đất[7]: Trước khi có quyết định thu hồi đất ở, chậm nhất là 180 ngày, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Thông báo thu hồi đất phải được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.
Bước 2. Thu hồi đất[8]: Sau khi nhận được Thông báo thu hồi đất, nếu người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ra quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất và thực hiện các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà không cần chờ hết thời hạn thông báo.
Bước 3. Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất[9]: Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trường hợp người sử dụng đất không phối hợp thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc. Trường hợp người có đất thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế.
Bước 4. Lập phương án bồi thường thiệt hại, hỗ trợ, tái định cư[10]: Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với từng tổ chức, cá nhân, hộ gia định bị thu hồi đất, trên cơ sở tổng hợp số liệu kiểm kê, xử lý các thông tin liên quan của từng trường hợp; áp giá tính giá trị bồi thường về đất, tài sản trên đất. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất.
Bước 5. Niêm yết công khai phương án, lấy ý kiến của nhân dân[11]: Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến của nhân dân, nhất là các đối tượng bị thu hồi đất. Hình thức lấy ý kiến là: Tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền.
Bước 6. Phê duyệt phương án chi tiết và tổ chức triển khai thực hiện[12]: Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến từng người có đất thu hồi. Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt.
Bước 7. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở[13]: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau: Bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư; bồi thường bằng tiền. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 thì việc bồi thường được thực hiện bằng phương thức: Bồi thường bằng tiền; bồi thường bằng đất.
Bước 8. Bàn giao mặt bằng, cưỡng chế thu hồi đất[14]: Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm quản lý đất đã được giải phóng mặt bằng. Sau khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, người bị thu hồi đất phải bàn giao mặt bằng sạch cho chủ đầu tư. Trường hợp người có đất bị thu hồi không bàn giao mặt bằng thì bị cưỡng chế thu hồi đất theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Luật Đất đai năm 2013.
Trên thực tế, thu hồi đất là hoạt động khó khăn, phức tạp và dễ phát sinh tham nhũng, tranh chấp, khiếu kiện, bởi hoạt động này trực tiếp đụng chạm đến lợi ích của nhiều chủ thể khác nhau: Nhà nước, người bị thu hồi đất ở và người được hưởng lợi từ việc Nhà nước thu hồi đất. Trong nhiều trường hợp, người bị thu hồi đất ở không đồng thuận với việc thu hồi và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.
 
3. Một số tồn tại, vướng mắc từ thực tiễn thực thi pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
Một là, căn cứ thu hồi đất ở để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong rất nhiều trường hợp đã bị lạm dụng.
Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được tiếp tục khẳng định tại Hiến pháp năm 2013 (Điều 53). Trên tinh thần đó, Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, trong đó đặc biệt là quy định về quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai. Với tư cách là người đại diện cho toàn dân, Nhà nước có quyền thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và một số trường hợp được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét thông qua chủ trương thu hồi đất.
Tuy nhiên, khi những khái niệm lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng còn hết sức mập mờ như hiện nay, căn cứ thu hồi đất trong rất nhiều trường hợp đã bị lạm dụng nhất là các loại dự án được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận15, bao gồm: “Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng”.
Có thể thấy, nhiều dự án khó chứng minh được là “vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”. Chẳng hạn: “Dự án khu đô thị du lịch sinh thái FLC Sầm Sơn” theo Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh vào ngày 12/12/2014. Theo đó, Dự án bao gồm 05 khu chính đã hoàn thành, đưa vào sử dụng 03 khu, giai đoạn 2 tập trung làm khu công viên và đô thị du lịch biển. Phần đất của 28 hộ dân bị thu hồi nằm trọn vẹn trong khu đô thị du lịch biển. Ở đây, Tập đoàn FLC sẽ xây các khu thương mại, nhà biệt thự, liền kề để bán. Việc Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa viện dẫn điểm d khoản 3 Điều 62 để thu hồi đất của 28 hộ dân trên với lý do “phát triển kinh tế – xã hội vì mục đích quốc gia, công cộng” khiến nhiều người băn khoăn[16]. Hay Dự án khu công viên công nghệ thông tin Hà Nội cũng là loại dự án được ưu tiên đầu tư, Nhà nước đứng ra thu hồi, bồi thường về đất sau đó giao cho doanh nghiệp. Cho đến nay, doanh nghiệp chỉ ưu tiên xây dựng hạng mục công trình để kinh doanh, mang lợi ích cho riêng họ còn những công trình cho mục đích công cộng thì chưa thấy đâu[17].
Hai là, điều kiện bố trí tái định cư
Theo quy định về điều kiện bố trí tái định cư thì hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chổ ở do bị thu hồi hết đất ở, hoặc thu chưa hết đất nhưng diện tích còn lại (kể cả đất vườn có đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng sang đất ở) không đủ để làm nhà ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà không có chỗ ở, đất ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi thì được bố trí đất tái định cư. Đồng thời, quy định khi thu hồi đất mà phải bố trí tái định cư thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và tổ chức thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất. Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng; phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền. Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư[18].
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vướng mắc trong công tác tái định cư, tình trạng thiếu nhà ở, đất ở tái định cư hoặc thiếu nguồn vốn dành cho việc xây dựng các khu tái định cư. Chất lượng các khu tái định cư chưa bảo đảm, đặc biệt đối với các nhà ở tái định cư là chung cư. Tỉ lệ lấp đầy các chung cư còn thấp, nhà xây xong không có người ở, xây thô không hoàn thiện hoặc đất chia lô để đấy, không triển khai xây dựng. Điển hình như các dự án dọc đại lộ Thăng Long, đường 32 (Hà Nội); khu Nhơn Trạch (Đồng Nai); khu đô thị Đông Hải Phòng…, rất nhiều trường hợp hộ gia đình khi chuyển về nơi tái định cư không có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn, trong khi chính quyền địa phương, chủ đầu tư chưa thực sự quan tâm đến đời sống của họ[19]… Đó là một trong những nguyên nhân gây cản trở trong công tác thu hồi, chống người thi hành công vụ, khiếu kiện đất đai kéo dài làm phức tạp tình hình chính trị địa phương.
Ba là, về giá đất bồi thường khi thu hồi đất ở cho người bị thu hồi đất
Những vấn đề quan trọng có tính nguyên tắc liên quan đến xác định giá đất, đã được quy định khá cụ thể tại Luật Đất đai năm 2013[20] và các văn bản hướng dẫn thi hành[21]. Luật Đất đai năm 2013 đã đề cập đến việc tư vấn xác định giá đất khi xây dựng, điều chỉnh khung giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất và định giá đất cụ thể mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền có yêu cầu; giá đất do tư vấn xác định là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định giá đất[22]. Đặc biệt, việc xác định giá đất được thực hiện theo nguyên tắc “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường trong điều kiện bình thường”. Tuy nhiên, với quy định Nhà nước vừa là người ra quyết định thu hồi đất vừa quyết định giá đất tính bồi thường nên chưa bảo đảm tính độc lập, khách quan trong việc ban hành giá đất và khó mang lại quyền lợi tối đa cho người sử dụng đất.
Trong thực tế, khung giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành thường thấp hơn giá trị quyền sử dụng đất chuyển nhượng trên thị trường. Do vậy, nếu áp dụng theo giá khung của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì người bị thu hồi đất có thể được bồi thường thấp hơn giá mà họ chuyển nhượng trên thị trường dẫn đến nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện.
 
4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở, theo tác giả cần thực hiện một số giải pháp đồng bộ sau:
Thứ nhất, cần quy định chặt chẽ hơn về thẩm quyền thu hồi đất, mục đích thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng theo hướng kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực này. Đồng thời, có sự tham vấn ý kiến của các cơ quan chức năng, của người chịu ảnh hưởng trực tiếp về mục đích thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội xem có thực sự “vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” hay không trước khi quyết định thu hồi đất.
Thứ hai, chuẩn bị tốt phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của Nhà nước, người bị thu hồi đất và người được hưởng lợi từ việc Nhà nước thu hồi đất. Những người bị di dời phải được tham vấn rõ ràng và được tham gia vào các chương trình lập kế hoạch và thực hiện dự án. Đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất.
Thứ ba, tham khảo kinh nghiệm của một số nước về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho thấy, trường hợp người bị thu hồi đất không tán thành với phương án bồi thường thiệt hại do Nhà nước xác định, họ có quyền thuê một tổ chức định giá tư nhân để tiến hành định giá lại các chi phí thiệt hại. Nhà nước trả tiền thuê định giá lại. Việc xác định mức bồi thường được xác định là giá trị bất động sản do người bị thu hồi đất đầu tư, không phải là giá trị thực tế của bất động sản. Phần giá trị tăng thêm do sự đầu tư cơ sở hạ tầng của Nhà nước được bóc tách khỏi giá trị bồi thường. Điều này có nghĩa là, Nhà nước không bồi thường theo giá bất động sản hiện tại mà bồi thường theo giá thấp hơn do trừ đi phần giá trị bất động sản tăng thêm từ sự đầu tư cơ sở hạ tầng của Nhà nước[23]. Do vậy, theo tác giả, khoản 4 Điều 115 Luật Đất đai năm 2013 nên sửa đổi theo hướng “giá đất do tư vấn xác định là căn cứ quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định giá đất”.
Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quản lý đất đai và trong quá trình thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở.
Thứ năm, tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật đất đai nói chung, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng.
 

Theo TC Dân chủ – Pháp luật

 
Tài liệu tham khảo:
[1]. Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.
[2]. Điều 53 Hiến pháp năm 2013.
[3]. Xem Điều 4 Luật Đất đai năm 2013.
[4]. Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.
[5]. Xem Điều 105, Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
[6]. Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.
[7]. Xem khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013.
[8]. Xem các khoản 2, 3, 4 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013.
[9]. Xem khoản 1 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.
[10]. Xem khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.
[11]. Xem điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.
[12]. Xem khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.
[13]. Xem Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP.
[14]. Xem khoản 4 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.
[15]. Xem điểm d khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.
[16]. https://laodong.vn/xa-hoi/di-doi-nha-dan-danh-dat-cho-doanh-nghiep-lam-biet-thu-thanh-hoa-thu-hoi-dat-co-dung-luat-533421.bld, 26/3/2016.
[17]. http://www.daidoanket.vn/tin-tuc/tinh-hoa-viet/de-bao-khong-noi-len-tu-dat-373891, 21/07/2017.
[18]. Xem Điều 85, Điều 86 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 27 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.
[19]. Xem thêm: https://cafeland.vn/tin-tuc/quan-ly-nha-tai-dinh-cu-tai-ha-noi-can-sat-thuc-te-70105.html, 27/11/2017.
[20]. Xem Điều 112 Luật Đất đai năm 2013.
[21]. Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất; Nghị định số 104/2014/NĐ-CP ngày 14/11/2014 của Chính phủ quy định về khung giá đất; Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất; Thông tư số 20/2015/TT-BTNMT ngày 20/4/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật để lập dự toán ngân sách nhà nước phục vụ công tác định giá đất.
[22]. Điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 115 Luật Đất đai năm 2013.
[23]. Nguyễn Quang Tuyến, Kinh nghiệm của một số nước về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/kinhnghiemqt/View_Detail.aspx?ItemID=115, 15/4/2013.
 
 

Đèn pin tự vệ là vũ khí hay công cụ hỗ trợ?

Liệu đèn pin tự vệ được coi là vũ khí hay công cụ hỗ trợ? Khi mang đi đường (cho vào cốp xe) liệu có được phép?
 
Căn cứ:
– Bộ luật dân sự 2015
– Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, được sửa đổi, bổ sung năm 2013
 

Đèn pin tự vệ có phải là vũ khí?

Theo Điều 3 của Pháp lệnh vũ khí có quy định:
 

1. Vũ khí gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự.
2. Vũ khí quân dụng gồm:
a) Súng cầm tay hạng nhỏ là vũ khí được thiết kế cho cá nhân sử dụng gồm súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng trung liên và các loại súng khác có tính năng, tác dụng tương tự;
b) Vũ khí hạng nhẹ gồm súng đại liên, súng cối dưới 100 mi-li-mét, (mm), súng ĐKZ, súng máy phòng không dưới 23 mi-li-mét (mm), súng phóng lựu, tên lửa chống tăng cá nhân, tên lửa phòng không vác vai, các loại vũ khí hạng nhẹ khác có tính năng, tác dụng tương tự;
c) Các loại bom, mìn, lựu đạn, đạn, ngư lôi, thủy lôi, hỏa cụ;
d) Vũ khí không thuộc danh mục vũ khí do Chính phủ ban hành nhưng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.

 
Như vậy, “Đèn pin tự vệ” không có trong danh sách vũ khí nói trên

Đèn pin tự vệ có phải công cụ hỗ trợ

Cũng theo Điều 3 Pháp lệnh vũ khí có quy định:
 

Công cụ hỗ trợ gồm:
a) Các loại súng dùng để bắn đạn nhựa, đạn cao su, hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, từ trường, la-de, pháo hiệu và các loại đạn sử dụng cho các loại súng này;
b) Các loại phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa;
c) Các loại lựu đạn khói, lựu đại cay, quả nổ;
d) Các loại dùi cui điện, dùi cui cao su, dùi cui kim loại, khoá số tám, bàn chông, dây đinh gai, áo giáp, găng tay điện, găng tay bắt dao, lá chắn, mũ chống đạn;

 
“Đèn pin tự vệ” không hẳn là dùi cui vì chức năng chính là soi đèn, phát sáng, do đó cũng không thể coi đó là công cụ hỗ trợ được.
Như vậy, có thể khẳng định pháp luật chưa có quy định cụ thể về vật dụng này mặc dù độ phổ biến rất lớn và đang được sử dụng với mục đích rất khác so với mục đích vốn có – phát sáng.

Sự cần thiết phải sửa đổi Luật đất đai năm 2013

Luật đất đai 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29-11-2013 tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, đánh dấu những đổi mới về chính sách đất đai, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời khắc phục, giải quyết nhiều tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003.

Trong gần 4 năm thi hành Luật đất đai 2013, công tác quản lý đất đai đã đạt được một số kết quả quan trọng: Kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình chuyển tiếp thi hành Luật đất đai giữa Luật đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; bước đầu đã khắc phục tình trạng giao đất, cho thuê đất tràn lan, không đưa vào sử dụng,lãng phí. Hạn chế được việc giao đất, cho thuê đất cho các chủ đầu tư không có năng lực, tránh được lãng phí trong việc sử dụng đất. Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã có chuyển biến rõ rệt, hạn chế tối đa việc thu hồi đất “tùy tiện”, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất. Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi. Chính sách tài chính về đất đai được hoàn thiện đã góp phần tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách, những quy định đổi mới về giá đất đã tạo sự chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước về đất đai bằng biện pháp kinh tế. Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đã được coi trọng, giảm tối đa các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Việc thành lập Văn phòng đăng ký đất đai một cấp đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong việc nộp hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ công việc và giúp đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Công tác kiểm tra, kiểm soát việc quản lý, sử dụng đất đã được tăng cường về số lượng; điều chỉnh về đối tượng, trong đó chú trọng thanh tra, kiểm tra đối với các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai.
Tuy nhiên, bên cạnh một số kết quả đạt được, Luật đất đai 2013 vẫn còn tồn tại một số bất cập như sau:
Một là, nhiều quy định trong Luật đất đai 2013 chưa phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và một số luật có liên quan, nhất là các luật về tài sản gắn liền với đất (như Luật đầu tư năm 2014, Luật quy hoạch, Luật nhà ở năm 2014, Luật kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017). Chính sách đất đai chưa đồng bộ, còn mâu thuẫn, chồng chéo. Ví dụ: Nhằm ngăn ngừa tham nhũng, Luật quy định Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch để đưa đất ra đấu giá (Chương Quy hoạch sử dụng đất), nhưng lại cho phép người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân được thực hiện quyền “cho chủ đầu tư dự án thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất với chủ đầu tư dự án để thực hiện dự án theo quy định của Chính phủ” đối với trường hợp đất thuộc diện thu hồi để thực hiện dự án (Điểm i Khoản 1 Điều 179). Cho đến nay, Chính phủ vẫn chưa hướng dẫn được cơ chế thực hiện 2 quyền này khi Nhà nước thu hồi đất.
Hai là, nguồn lực về đất đai vẫn chưa thực sự được khai thác, phát huy đầy đủ và bền vững để trở thành nguồn nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; việc sử dụng đất ở nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tình trạng tham nhũng, trục lợi và thất thoát nguồn thu ngân sách liên quan đến đất đai vẫn diễn ra. Do mục tiêu của Luật đất đai năm 2013 được đặt ra là tăng cường quản lý nhà nước về đất đai chứ không phải là nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng đất, nên rất thiếu những quy định, chế tài cụ thể hướng đến sử dụng nguồn lực đất đai một cách hiệu quả.
Ba là, khó khăn trong tiếp cận đất đai vẫn là một trong những rào cản để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Thiếu các cơ chế phù hợp để tăng cường khả năng tiếp cận đất đai là vướng mắc từ lâu nhưng chưa được Luật điều chỉnh. Hiện nay, cơ chế Ủy ban nhân dân thuê đất của nông dân để cho doanh nghiệp nông nghiệp thuê lại cũng trái với Luật đất đai năm 2013, nhưng đang được áp dụng thành công ở nhiều địa phương.
Bốn là, quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp diễn ra còn chậm, chưa theo kịp nhu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung, cho phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nói riêng; đất đai manh mún đang là yếu tố cản trở người dân và doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào nông nghiệp. Hạn điền (hạn mức nhận chuyển quyền) và thời hạn (hạn mức thời gian sử dụng đất) vẫn là rào cản chính trong xác lập một tư liệu sản xuất có khả năng tiếp nhận đầu tư lớn, dài hạn, có chiều sâu của nông dân vào phát triển kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn.
Năm là, hệ thống tài chính đất đai gồm định giá đất và thuế đất vẫn chưa đạt được trạng thái cần thiết của chuẩn mực quản lý phù hợp. Quyết định giá đất của cơ quan hành chính còn thiếu độc lập và khách quan. Hệ thống thuế về đất đai còn lạc hậu, làm cho nguồn thu từ đất quá nhỏ bé so với nhu cầu bảo vệ lợi ích toàn dân về đất đai và hiện đang là nguyên nhân chính làm cho ngân sách phải chi quá nhiều cho đầu tư phát triển hạ tầng và dịch vụ công cộng, mà mọi người sử dụng lại không phải trả bất kỳ một chi phí nào.
Sáu là, tình trạng vi phạm chính sách, pháp luật về đất đai diễn ra khá phổ biến. Nhiều địa phương, đơn vị do lãnh đạo thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý đã để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất đai, sử dụng đất không đúng mục đích, tự ý chuyển mục đích sử dụng, không đăng ký biến động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không thực hiện nghiêm các nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Bảy là, khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai vẫn chiếm tỷ lệ lớn (70%), là nguy cơ gây ra những bất ổn trong xã hội.
Nguyên nhân của những tồn tại, bất cập nêu trên là do:
    – Hệ thống pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không đồng bộ và thống nhất, dẫn đến không rõ trách nhiệm quản lý, gây khó khăn cho tổ chức thực hiện.
    – Một số nội dung quy định của Luật đất đai chưa phù hợp với thực tiễn triển khai; có một số nội dung mới phát sinh trong thực tiễn nhưng pháp luật chưa có quy định điều chỉnh.
    – Việc tổ chức thi hành pháp luật còn hạn chế, mặc dù pháp luật đã có quy định nhưng không được tổ chức thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng, chưa đầy đủ trong khi công tác thanh tra, kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật chưa thực sự có hiệu quả. Cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức, chỉ đạo cụ thể, sát sao và thường xuyên. Vai trò của chính quyền cấp cơ sở trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai chưa thực hiện tốt.
    – Bộ máy tổ chức làm công tác quản lý nhà nước nhiều nơi chưa tương xứng với yêu cầu tổ chức triển khai thi hành pháp luật trên thực tế. Văn phòng đăng ký đất đai một cấp chậm kiện toàn. Tổ chức phát triển quỹ đất mặc dù đã được thành lập nhưng lại chưa được quan tâm bố trí nguồn lực đầy đủ để thực hiện chức năng tạo quỹ đất; năng lực cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu; điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu và lạc hậu, lực lượng cán bộ, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
    Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện pháp luật về đất đai để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả đất đai, khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực này; công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng đất công; tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất giao cho các cộng đồng và doanh nghiệp nhà nước; tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; hỗ trợ tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn và nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, công nghệ cao, gắn với bảo đảm việc làm và thu nhập bền vững của nông dân, giữ vững ổn định chính trị – xã hội ở nông thôn.
    Ngoài ra, việc Quốc hội thông qua nhiều đạo luật có nội dung liên quan đến lĩnh vực đất đai như Bộ luật dân sự; Luật đầu tư; Luật đấu thầu; Luật nhà ở; Luật tín ngưỡng, tôn giáo; Luật quy hoạch; Luật lâm nghiệp cũng đặt ra yêu cầu phải rà soát, hoàn thiện Luật đất đai để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Do đó việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2013 là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
Theo Ban Nội chính Trung ương

Xét bỏ hình phạt từ hình trong 8 tội danh của BLHS 2015

Trình bày quan điểm về việc xét bỏ hình phạt từ hình trong 8 tội danh của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
 
Như chúng ta đã biết, quyền sống là quyền quan trọng nhất của con người, chỉ khi được sống con người mới có cơ hội thủ hưởng tất cả các quyền con người khác, thế nhưng hình phạt tử hình lại tước đoạt đi quyền sống của người bị kết án. Vì vậy, điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đã đồi hỏi những hạn chế tối đa trong việc áp dụng hình phạt tử hình. Công ước đã quy định rõ, trong các quốc gia chưa loại bỏ hình phạt tử hình, tòa án chỉ được tuyên án tử hình đối với các tội hình sụ nghiêm trọng nhất, chiếu theo thời gian phạm pháp và chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở bản án đã có HLPL do Tòa án có thẩm quyền ra quyết định.
Khoản 1 điều 40 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã quy định: tử hình là hình phạt đặc biệt nghiêm trọng chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng  một trong nhóm các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do BL này quy định.
Để phù hợp với tinh thần của công ước quốc tế về dân sự và chính trị năm 1966 của Liên Hiệp Quốc, phù hợp với xu hướng chung của thế giới là hạn chế, giảm bớt, tiến tới loại bỏ hình phạt này. BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) đã bỏ hình phạt tử hình đối với các tội đó là

  • Tội hiếp dâm
  • Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Tội buôn lậu
  • Tội làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả,ngân phiếu giả, công trái giả.
  • Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Tội đưa lối hộ
  • Tội chiếm đoạt tàu bay,tàu thủy
  • Tội phá hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kĩ thuật quân sự

Đến BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) các nhà làm luật tiếp tục loại bỏ hình phạt tử hình đối với 8 tội danh đó là

  • Tội cướp tài sản
  • Tội sx,bb hàng giả là lương thực thực phẩm
  • Tội tàng trử trái phép chấ ma túy
  • Tội chiếm đoạt chất ma túy
  • Tội phá hủy công trình,cơ sở, phương tiện quan trọng về ANQG
  • Tội chống mệnh lệnh
  • Tội đầu hàng địch
  • Tội hoạt động phỉ.

Như vậy, xu hướng bãi bỏ và không thi hành hình phạt tử hình trong lần sửa đổi bổ sung năm 2009 và đặc biệt là trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã có ý nghĩa quan trọng trong việc đề cao và bảo vệ những giá trị của tính mạng con người, tính chất không thể lấy lại được nếu sai sót, tính chất tàn bạo của hình phạt, nguy cơ bất công trong tố tụng, gấy chia rẽ và tổn hại tới các giá trị đạo đức trong xã hội, trái với nguyên tắc nhân đạo khoan dung  trong hoạt động tư pháp và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Còn xét dưới góc độ phòng ngừa, một số tác giả đã nhận định rằng, thật ngớ ngẫn khi chúng ta cho rằng hình phạt  tử hình có tác dụng phòng ngừa tội phạm cao hơn hình phạt tù chung thân. Thâm chí đôi khi do sai sót thiếu chính xác của con người, hình phạt tử hình còn đưa người vô tội đến chỗ phải chết oan.
Một trong những điểm mới cho thấy sự tiến bộ vượt bậc trong lập pháp hình sự Việt Nam về tính nhân đạo, đó là Bộ luật Hình sự năm 2015 năm 2015 đã bổ sung thêm trường hợp không áp dụng hình phạt hoặc thi hành án tử hình đối với người “đủ 75 tuổi trở lên”.Quy định này không được đề cập trong ICCPR cũng như pháp luật của quốc tế. Đây là độ tuổi (đa số) bị hạn chế về vấn đề sức khỏe cũng như sự minh mẫn trong nhận thức khi họ thực hiện hành vi của mình, do đó Bộ luật Hình sự năm 2015 xem đây là đối tượng đặc biệt cần được quan tâm, bảo vệ và đương nhiên sẽ không áp dụng hình phạt tử hình.
Trong thời gian qua, ở Việt Nam các tội phạm liên quan đến chức vụ, đặc biệt là các tội tham nhũng đã gây ra nhiều hậu quả đặc biệt xã hội, mặc dù những đối tượng này đã nhận được sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật, tuy nhiên, hạn chế lớn nhất khi xử lý các tội phạm này đó là khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra. Tại điểm c khoản 2 Điều 40 BLHS quy định: Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.
Hiện nay có 89 quốc gia trên thế giới đã hủy bỏ án tử hình, 28 quốc gia chưa xử tử người nào trong 10 năm qua và 9 quốc gia chỉ áp dụng án tử hình trong các trường hợp đặc biệt (như tội ác chiến tranh), 74 quốc gia vẫn còn áp dụng nó. Các quốc gia hủy bỏ án tử hình cho rằng tác dụng của hình phạt này với việc ngăn chặn tội phạm cũng giống như các loại hình phạt khác. Các cuộc khảo sát do Liên Hợp quốc thực hiện (năm 1988, 1996 và 2002) về mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và tỷ lệ phạm tội ở nhiều quốc gia trên thế giới đã kết luận rằng: “Không tìm thấy những chứng cứ khoa học cho thấy việc thi hành án tử hình có tác dụng ngăn chặn tội phạm tốt hơn so với việc áp dụng hình phạt tù chung thân v.v..”.
Từ những đánh giá, phân tích các quan điểm về hình phạt tử hình trên thế giới cũng như các chính sách pháp luật hình sự và quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015,có thể  thấy rằng, các quy định về bãi bỏ hình pahjt tử hình ở 8 tội danh  trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)  đã đi đúng hướng, không trái với luật pháp quốc tế, thậm chí còn thể hiện sự tương thích trong quy định. Phù hợp với xu hướng của quốc tế và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đất nước trong giai đoạn hiện nay. Quy định này, một lần nữa thấy được sự phù hợp trong đường lối xử lý và chính sách hình sự của Việt Nam đối với hình phạt tử hình. Đây là sự cụ thể hóa chính sách hình sự thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 cũng như các Nghị quyết của Bộ Chính trị, từ Nghị quyết số 08/NQ-TW năm 2002 đến Nghị quyết 48/NW-TW năm 2005, và đặc biệt Nghị quyết 49/NQ-TW năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp, theo đó, Bộ luật Hình sự phải xây dựng theo hướng: “Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.
Vì vậy, các cơ quan chức năng, các chủ thể áp dụng và thực thi pháp luật cần thể hiện sự công tâm, khách quan và cân nhắc để đảm bảo chính xác khi áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội, bởi đây là hình phạt nghiêm khắc nhất, và chúng ta không có cơ hội để sửa sai trong quá trình tố tụng khi đã thi hành án tử đối với người phạm tội. Mặt khác, nhằm phát huy tối đa mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và đem lại một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.
 

Nguồn:  Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

 


Các tìm kiếm liên quan đến xét bỏ hình phạt từ hình trong 8 tội danh của Bộ luật hình sự năm 2015, hình phạt tử hình trong bộ luật hình sự 2015, 22 tội danh tử hình, bỏ hình phạt tử hình, tội nào bị tử hình, bỏ 7 tội danh tử hình, hình phạt tử hình ở việt nam hiện nay, hình phạt tử hình trong bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, bộ luật hình sự năm 2015 bãi bỏ sửa đổi bổ sung bao nhiêu tội danh

Khi nào biểu tình được coi là hợp pháp?

Biểu tình, tuần hành, trong một vài năm trở lại đây, dường như không còn là điều gì quá mới mẻ đối với người dân Việt Nam.
 
Tuy nhiên, Biểu tình” có phải là hoạt động hợp pháp, được nhà nước cho phép?
Qua bài viết này, tôi mong quý bạn đọc trên Diễn đàn có một cái nhìn đúng hơn về việc Biểu tình ở nước ta, nhằm hạn chế tối đa việc bị lợi dụng cũng như những hành vi không được pháp luật cho phép.
 
Biểu tình, là một quyền của công dân, đã được Hiến pháp 2013 ghi nhận rất rõ ràng ở điều 25: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”.
Tuy nhiên, không phải vì thế mà mỗi người trong chúng ta đều được tự do biểu tình. Nó bị giới hạn ngay trong Hiến pháp 2013 tại điều 14 khoản 2 : “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”.
 
Ngoài ra,trong Nghị định số 38/2005/NĐ-CP quy định một số biện pháp đảm bảo trật tự công cộng, tại điều 7 có quy định như sau: “Việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước với Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền nơi diễn ra các hoạt động đó và phải thực hiện đúng nội dung đã đăng ký.“.
 
Như vậy, suy cho cùng, biểu tình được cho phép với điều kiện nó phải tuân thủ các quy định về an ninh quốc gia, an toàn, trật trự xã hội, y tế công cộng,… Nếu không, thì đó bị xem là biểu tình trái phép.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Sự khác nhau giữa hai hệ thống pháp luật Anh – Mỹ và Châu Âu lục địa

Hai hệ thống pháp luật phổ biết nhất trên thế giới là Common Law (Hệ thống luật Anh – Mỹ), và Civil Law (Hệ thống luật Châu Âu lục địa). Đây là hai hệ thống pháp luật phổ biến với những đặc điểm, bản chất khác nhau để tạo nên hai dòng họ pháp với những đặc trưng riêng biệt.
 
Trong thực tế ngày nay, nhiều quốc gia theo dòng họ pháp luật này nhưng vẫn tham khảo và học hỏi dòng họ pháp luật kia để bổ sung cho những khiếm khuyết của nhau để tạo nên một hệ thống pháp luật quốc gia hoàn hảo hơn. Tuy nhiên dù có tham khảo, học hỏi, các hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhưng về cơ bản vẫn giữ được bản chất và những đặc thù pháp lý riêng biệt.
 

Civil Law Common Law
Nguồn gốc Nguồn gốc của hệ thống pháp luật Civil Law là các nước châu Âu lục địa, điển hình nhất là Pháp và Đức
(Luật La Mã)
Vương quốc Anh(Luật Anh cổ)
Đặc thù riêng biệt Pháp luật ở các quốc gia thuộc hệ thống luật Civil Law được hình thành dựa trên nguyên tắc các nhà lập pháp xây dựng những chế định cụ thể và tạo cơ chế để các nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật chủ yếu hình thành từ tập quán.
Thủ tục tố tụng Thủ tục tố tụng thẩm vấn Tố tụng tranh tụng
Vai trò của tòa án Là cơ quan áp dụng pháp luật Là cơ quan làm luật (cho ra những Án lệ)
Vai trò của luật sư Không được đề cao Rất được đề cao
Thẩm phán Được đào tạo theo một quy trình riêng Đa số được chọn là những luật sư giỏi

 

Tiêu chí xác định hòa giải thành, đối thoại thành

Để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo nên sự thống nhất trong hệ thống Tòa án nhân dân trong việc xác định những vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành, ngày 20/3/2018, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 55/TANDTC-PC về tiêu chí xác định vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành.
 
Những vụ việc nào được xác định hòa giải thành, đối thoại thành?
Theo Công văn số 55/TANDTC-PC thì nguyên tắc chung để xác định hòa giải thành, đối thoại thành trong giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính là:
– Đối với vụ án được xác định là hòa giải thành, đối thoại thành là vụ án dân sự, vụ án hành chính sau khi thụ lý Thẩm phán tiến hành hòa giải, đối thoại mà sau khi hòa giải, đối thoại, người khởi kiện rút đơn khởi kiện hoặc các đương sự thống nhất được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án không phải đưa vụ án ra xét xử.
– Đối với việc dân sự về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, Thẩm phán tiến hành  mà sau khi hòa giải, vợ chồng đoàn tụ.
Đồng thời Công văn nêu trên cũng hướng dẫn các tính vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành.
Vụ việc dân sự hòa giải thành
Vụ việc dân sự được tính là vụ việc hòa giải thành bao gồm:
(1) Các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và được Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận theo quy định tại Điều 212 và Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự;
(2) Sau khi hòa giải, nguyên đơn rút đơn khởi kiện, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo quy định theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự;
(2) Vụ án ly hôn, tranh chấp con nuôi, chia tài sản khi ly hôn mà sau khi hòa giải, vợ chồng thống nhất đoàn tụ cũng được xác định là trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện (theo hướng dẫn tại mục 4 Phần II Giải đáp số 01/2018/TANDTC-GĐ ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao)
(4) Vụ án ly hôn, tranh chấp con nuôi, chia tài sản khi ly hôn sau khi được Thẩm phán tiến hành hòa giải mà các đương sự không đoàn tụ nhưng thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản chung và được Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại các điều 212, 213 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
(5) Việc dân sự yêu cầu thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mà sau khi hòa giải, vợ, chồng đoàn tụ và được Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu theo quy định tại khoản 3 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Vụ án hành chính đối thoại thành
Vụ án hành chính được xác định là đối thoại thành gồm:
(1) Vụ án, qua đối thoại mà người khởi kiện rút đơn khởi kiện; Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 140 Luật Tố tụng hành chính 2015;
(2) Vụ án sau khi đối thoại, người bị kiện ban hành quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện rút đơn như đã cam kết tại phiên họp đối thoại; Tòa án ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 140 Luật Tố tụng hành chính 2015;
Với phong trào thi đua: “Nâng cao số lượng, chất lượng, hiệu quả hòa giải vụ án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” được phát động theo Chỉ thị số 04/2017/CT-TA ngày 03/10/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, gắn kết quả của phong trào thi đua này với việc bình xét các danh hiệu thi đua; đổi mới, hoàn thiện chỉ tiêu thi đua khen thưởng theo hướng coi trọng công tác hòa giải (01 vụ án hòa giải thành được tính bằng 02 vụ án xét xử), Công văn số 55/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao sẽ tạo nên sự thống nhất trong việc xác định, tính vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành trong hệ thống Tòa án nhân dân; đồng thời, tạo động lực để Thẩm phán trong toàn hệ thống Tòa án nỗ lực, kiên trì trong công tác hòa giải, đối thoại.
 

Nguồn: Tạp chí Tòa án (tapchitoaan.vn)

Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự

Nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự là bước chuẩn bị có ý nghĩa quan trọng, giúp Kiểm sát viên chủ động khi tham gia phiên tòa, phiên họp cũng như xác định căn cứ để kiến nghị, kháng nghị đảm bảo pháp luật được tuân thủ.

 

Nghiên cứu, xây dựng hồ sơ vụ việc dân sự là quá trình xem xét tài liệu, chứng cứ, thu thập tài liệu và dự thảo phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát (VKS), đó là yếu tố cơ bản để Kiểm sát viên thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, nâng cao trách nhiệm và chất lượng trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm và phúc thẩm.

 

1. Cơ sở pháp lý

Cơ sở pháp lý của công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 6 và Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2014.

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 tiếp tục khẳng định “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự” là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên tại các điều 57, 58, 59. Trên cơ sở đó, VKS phải kiểm sát các quyết định, các văn bản, hoạt động tố tụng của Tòa án theo quy định của BLTTDS năm 2015 như: Các quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 139, 291); thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện (Điều 192, 194); thông báo việc thụ lý vụ án (Điều 196); thông báo phân công Thẩm phán giải quyết vụ án (trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 197); quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 212, 246); quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 214, 217); quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 220); quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm (Điều 233); thông báo về thời gian tiếp tục phiên tòa (trong trường hợp tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 259); bản án dân sự sơ thẩm, quyết định sửa chữa, bổ sung bản án (Điều 268, 269); thông báo về việc kháng cáo, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo (Điều 277, 284); thông báo thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm (Điều 285); quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án (Điều 288, 289); quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm (Điều 290); bản án, quyết định phúc thẩm (Điều 313, 315); quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn (Điều 318); quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án (Điều 319); thông báo thụ lý đơn yêu cầu (Điều 365); quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự (Điều 366); quyết định giải quyết việc dân sự (Điều 370); quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự (Điều 373); quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự (Điều 375); quyết định khởi tố vụ án hình sự (trong trường hợp Tòa án khởi tố vụ án hình sự theo Điều 497); quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 (Điều 507).

Ngoài ra, khi nghiên cứu giải quyết các vụ việc dân sự, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải nghiên cứu hồ sơ, lập hồ sơ kiểm sát theo hướng dẫn tại Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, ban hành kèm theo Quyết định số 364/QĐ-VKSTC ngày 02/10/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao và văn bản Hướng dẫn nghiệp vụ do VKSND tối cao ban hành: Phải nghiên cứu hồ sơ vụ án, lập hồ sơ kiểm sát, trích cứu đầy đủ, trung thực lời khai của đương sự, các tài liệu, chứng cứ khác…

Thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án, VKS các cấp phát hiện nhiều sai sót, vi phạm như: Việc áp dụng pháp luật không đúng (nhầm lẫn giữa áp dụng pháp luật dân sự, tố tụng dân sự cũ và luật năm 2015), vi phạm trong cách tính án phí, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, không đưa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng như vụ án… và những sai sót trong xác định quan hệ tranh chấp.

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu hồ sơ của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên còn có một số hạn chế như: Một số hồ sơ kiểm sát vụ án trích cứu còn chưa đầy đủ, không chính xác, cá biệt có hồ sơ thiếu chứng cứ có tính quyết định, nhất là những vụ án phức tạp, nhiều nguyên đơn, bị đơn, người liên quan, tài sản tranh chấp có giá trị lớn và ở nhiều nơi… Kiểm sát viên còn không sao chụp một số tài liệu quan trọng không thể thiếu trong hồ sơ một số loại vụ việc như: Tài liệu về giám định chữ viết, biên bản xem xét tại chỗ, định giá… Việc lập đề cương hỏi tại phiên tòa còn sơ sài, chưa sát với nội dung hồ sơ vụ việc, về xây dựng phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa chưa kỹ, chưa đánh giá được những sai sót, vi phạm của Tòa án, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ việc; một số hồ sơ ở cấp phúc thẩm xác định không chính xác về phạm vi kháng cáo, dẫn tới đưa ra đường lối giải quyết chưa chính xác; việc ghi chép ý kiến đề xuất giải quyết của Kiểm sát viên, ghi chép ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo đơn vị không đầy đủ; tình trạng hồ sơ không đánh số bút lục hoặc đánh số không đầy đủ tuy đã được khắc phục nhiều nhưng vẫn còn tồn tại…

2. Một số kinh nghiệm nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm

Thứ nhất, nghiên cứu thẩm quyền thụ lý vụ việc dân sự.

Thẩm quyền về nội dung tranh chấp vụ án dân sự được quy định tại các điều 26, 30, 32; thẩm quyền giải quyết yêu cầu việc dân sự được quy định tại các điều 27, 29, 31, 33; thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức tại Điều 34; thẩm quyền theo cấp Tòa án từ Điều 35 đến Điều 38; thẩm quyền theo lãnh thổ tại Điều 39; thẩm quyền theo lựa chọn của nguyên đơn tại Điều 40 BLTTDS năm 2015.

Kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa sơ thẩm những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc vụ kiện (vụ án) dân sự vì lý do chưa có điều luật áp dụng theo khoản 2 Điều 4 và những việc dân sự thuộc thẩm quyền, Kiểm sát viên khi tiếp nhận hồ sơ vào sổ thụ lý, nghiên cứu hồ sơ, báo cáo Lãnh đạo Viện để ra quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp.

Thứ hai, Tòa án đã  xác định đúng quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp của vụ kiện chưa?

Kiểm sát viên phải nghiên cứu hình thức, nội dung đơn khởi kiện có được làm theo quy định của Điều 189 BLTTDS đối với vụ án và theo quy định tại Điều 362 BLTTDS đối với việc dân sự hay chưa. Nghiên cứu “những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan  theo điểm g khoản 4 Điều 189 và “những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết và những tài liệu, chứng cứ chứng minh cho các yêu cầu này. Mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó” theo điểm d khoản 2 Điều 362. Trong thực tế, người khởi kiện, người yêu cầu có thể nêu đúng quan hệ tranh chấp, yêu cầu nhưng cũng có thể nêu theo tên gọi của giao dịch dân sự hoặc khởi kiện “đòi nhà cho ở nhờ” nhưng thực chất là “nhà cho thuê” hoặc tranh chấp “tài sản” nhưng thực tế là “tranh chấp đòi nhà”, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà nhưng thực chất là “vay tài sản”… Kiểm sát viên phải căn cứ vào nội dung đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo để xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, yêu cầu giải quyết vụ hay việc dân sự là vấn đề cơ bản đảm bảo giải quyết đúng vụ việc dân sự. Mặt khác, Tòa án có xác định đúng tư cách tố tụng của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác như người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại các điều 68, 74, 75, 85 BLTTDS. Lưu ý “những trường hợp không được làm người đại diện” theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền tại Điều 87 BLTTDS. Đối với việc ly hôn đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Cần xem xét đến vi phạm của Tòa án khi không đưa đầy đủ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, không chỉ định người đại diện trong một số trường hợp bắt buộc…

Thứ ba, kiểm sát việc áp dụng của Tòa án về thời hiệu khởi kiện.

Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc; người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ. Về khoảng thời gian, thời hiệu khởi kiện về hợp đồng (Điều 429), yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 588) là 3 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại; thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định không áp dụng thời hiệu khởi kiện tại Điều 155 trong những trường hợp sau: Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai; trường hợp khác do luật quy định.

Ảnh minh họa phiên tòa dân sự

Việc nghiên cứu các chứng cứ là vấn đề rất quan trọng trong việc xác định điểm mấu chốt của vụ việc, Kiểm sát viên phải xác định được các chứng cứ trong vụ án phải được thu thập và được lập theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 93 BLTTDS không? Khi nghiên cứu về thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ cần phải chú ý một số điểm sau:Thứ tư, nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

– Quy định về việc lấy lời khai đương sự: Các biên bản lấy lời khai phải do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện như Thẩm phán, Kiểm sát viên. Đối với người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải có người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Đương sự là cơ quan, tổ chức do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng, việc sửa chữa biên bản ghi lời khai đương sự phải có xác nhận bằng chữ ký của họ.

Kiểm sát viên cần phải nghiên cứu lời khai của các đương sự xem lời khai trước với lời khai sau có mâu thuẫn không? Phân tích, đánh giá lời khai có phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ việc dân sự. Theo yêu cầu của các đương sự hoặc khi các lời khai có mâu thuẫn, Thẩm phán có tiến hành đối chất theo quy định tại Điều 100 BLTTDS? Việc hệ thống được lời khai của các đương sự và các chứng cứ liên quan sẽ giúp Kiểm sát viên định hướng được các vấn đề cần bổ sung hay cần làm rõ tại phiên tòa. Đối với lời khai người làm chứng là một trong những nguồn cung cấp chứng cứ quan trọng, nhưng phải yêu cầu họ cam đoan về lời khai của mình theo quy định tại Điều 99 BLTTDS. Khi nghiên cứu nguồn chứng cứ này, cần chú ý tính khách quan trong lời khai của họ; cần xem xét mối quan hệ của họ với nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, từ đó đánh giá lời khai của họ một cách khách quan, toàn diện.

– Áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời: Ngoài các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 102 BLTTDS sửa đổi năm 2011, BLTTDS năm 2015 quy định thêm 04 biện pháp: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ, cấm tiếp xúc với nạn nhân bị bạo lực gia đình, tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động liên quan đến việc đấu thầu, bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Khi nghiên cứu hồ sơ cần xem xét Tòa án có áp dụng trái quy định hoặc vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, áp dụng không đúng thời hạn hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng. Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ví dụ: Nguyên đơn khởi kiện “đòi quyền sử dụng đất bị lấn chiếm” với bị đơn là chủ nhà đất giáp ranh nhưng lại có đơn yêu cầu Tòa án cấm bị đơn “thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp”, cụ thể là cấm việc bị đơn sửa chữa, cơi nới nhà trong thời gian Tòa án đang giải quyết vụ án, yêu cầu này là vượt quá yêu cầu khởi kiện nên không có căn cứ để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp này.

Cần kiểm tra đánh giá việc giao nộp, thu thập chứng cứ có đảm bảo tính hợp pháp, kịp thời, đầy đủ hay không, nếu chứng cứ không được thu thập hợp pháp, không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật thì sẽ không có giá trị chứng minh.

Nghiên cứu tài liệu về việc xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá, thẩm định giá tài sản: Xem xét tính hợp pháp của biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, biên bản định giá, việc tổ chức thẩm định, định giá có đúng thành phần, theo trình tự, thủ tục luật định hay không, Tòa án phải ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá, việc thẩm định giá tài sản có được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá? Kiểm tra sơ đồ nhà đất, tài sản tranh chấp có mô tả đầy đủ và chính xác đặc điểm, kích thước hiện trạng, những vết tích cũ theo mô tả của các bên đương sự… Từ đó giúp xác định được mâu thuẫn trong lời khai của các bên làm căn cứ xác định sự thật vụ án.

– Về quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án: Để đảm bảo tranh tụng trong xét xử, BLTTDS năm 2015 quy định về việc đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Trường hợp tài liệu, chứng cứ giao nộp chưa đảm bảo đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Tuy nhiên, để xem xét các tài liệu đương sự giao nộp đã đầy đủ chưa đòi hỏi Thẩm phán cần phải xem xét, nghiên cứu kỹ những tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự. Ngoài ra, nhằm bảo đảm cho thủ tục giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ được khách quan, bình đẳng, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người yếu thế, trong một số trường hợp, luật quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về người bị yêu cầu như người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức hay cá nhân kinh doanh hàng hóa… Như vậy, khi nghiên cứu hồ sơ Kiểm sát viên cần xem xét vụ án có cần phải yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, cũng như phía bên nào có trách nhiệm giao nộp chứng cứ để yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ hoặc tự mình thu thập chứng cứ trong trường hợp thực hiện thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm.

Ngoài nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, BLTTDS còn quy định trách nhiệm của đương sự khi giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ cũng phải sao gửi tài liệu chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác (trừ chứng cứ liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục, bí mật nghề nghiệp, kinh doanh…). Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ, nếu hết thời hạn 15 ngày mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, VKS thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Nếu vi phạm thì tùy tính chất, mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định; việc xử phạt đó không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Vì vậy, khi nghiên cứu hồ sơ phải xem xét việc Tòa án, VKS có tiến hành các biện pháp trên trong trường hợp các tổ chức, cá nhân không cung cấp tài liệu, chứng cứ đầy đủ cho Tòa án, VKS.

Lưu ý về việc xác định chứng cứ: Cần nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ, kết hợp với lời khai của các đương sự để đánh giá chứng cứ, trong một số trường hợp, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tài liệu, chứng cứ không đủ cơ sở để tiến hành giám định…

Nghiên cứu tài liệu giám định: Tài liệu giám định là nguồn chứng cứ rất quan trọng, theo quy định của BLTTDS năm 2015, đương sự có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Khi nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên phải chú ý xem những tài liệu có thuộc trường hợp phải bắt buộc trưng cầu giám định nhưng Thẩm phán chưa làm hoặc tuy có giám định nhưng lại chưa nêu được đầy đủ, rõ ràng các yêu cầu cần giám định, hoặc chưa cung cấp đầy đủ tài liệu phục vụ công tác giám định, dẫn đến trong một số trường hợp tài liệu cung cấp không đủ cơ sở để tiến hành giám định, phải tiến hành giám định lại nhiều lần…

Kiểm sát hồ sơ vụ việc dân sự cũng cần lưu ý đến biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, lưu ý đến quy định của BLTTDS năm 2015 về nghĩa vụ của đương sự phải sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác, nếu không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản.

Kiểm sát các căn cứ để Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, việc thỏa thuận phải được thực hiện theo nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, phải hướng dẫn, giải thích cho đương sự nhằm bảo đảm việc thỏa thuận là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án…

Đối với vấn đề nhập, tách vụ án: Tòa án nhập, tách vụ án phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật, nguyên tắc tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự, nhằm giải quyết vụ án một cách nhanh gọn, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, phải lưu ý những trường hợp Tòa án tách vụ án trong những trường hợp vụ việc có liên quan làm ảnh hưởng đến quyền lợi của một trong những đương sự.

Kiểm sát viên nghiên cứu việc Tòa án áp dụng pháp luật trong việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a, b, c, e khoản 1 Điều 214 là những căn cứ có thể xác định được bằng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nghiên cứu việc Tòa án áp dụng pháp luật trong việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a, b, d, đ và e khoản 1 Điều 217 đúng không?

Đối với những vụ án áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn: Tòa án áp dụng loại việc giải quyết theo thủ tục rút gọn phải là những tranh chấp có tính chất đơn giản, sự việc rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ, tài liệu, chứng cứ đầy đủ; các đương sự đều có địa chỉ cư trú rõ ràng, không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài… theo quy định tại khoản 1 Điều 317 BLTTDS năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục này cũng ngắn hơn thời hạn giải quyết các vụ án thông thường. Trong trường hợp có những tình tiết phát sinh theo quy định thì chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường, thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Về thời hạn kháng cáo, đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là 7 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết, thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp là 7 ngày, VKS cấp trên là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định. Kiểm sát viên phải lưu ý ngày nhận bản án, quyết định để bảo đảm thời hạn quy định này.

Nghiên cứu dư luận báo chí: Đối với những vụ việc phức tạp, tài sản tranh chấp lớn… thì dư luận, báo chí thường rất quan tâm; qua dư luận, báo chí cũng là một kênh tham khảo, nhưng cũng không loại trừ một số thông tin từ báo chí mang tính thương mại, thổi phồng, viết theo đơn đặt hàng của đương sự nhằm gây sức ép, do vậy, cơ quan tố tụng cần phải có chính kiến, quan điểm dựa trên sự thật khách quan.

Nghiên cứu quan điểm của luật sư: Những vụ việc có luật sư tham gia phiên tòa, cần phải xem xét Tòa án có bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa? Trên cơ sở hồ sơ vụ việc phải chuẩn bị tốt đề cương hỏi tại phiên tòa. Đối với việc nghiên cứu hồ sơ xét xử phúc thẩm, nghiên cứu kỹ quan điểm của luật sư ở giai đoạn sơ thẩm để chuẩn bị tốt cho đề cương hỏi, cũng như kiểm tra lại quan điểm của mình trong việc xử lý đối với kháng cáo, kháng nghị.

Nghiên cứu biên bản phiên tòa: Thành phần Hội đồng xét xử, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, căn cứ hoãn phiên tòa, tạm ngưng phiên tòa và thời hạn hoãn, tạm ngưng phiên tòa có đúng quy định tố tụng không? Biên bản phiên tòa có phản ánh khách quan, trung thực diễn biến tại phiên tòa không? (Kiểm sát viên phải kiểm tra bút ký phiên tòa ngay sau khi xét xử xong); kiểm tra việc sửa chữa, bổ sung bản án (nếu có).

Thứ năm, kinh nghiệm trong việc chuẩn bị đề cương hỏi và những vấn đề cần đối đáp.

Kiểm sát viên phải chuẩn bị kỹ các câu hỏi tại phiên tòa, các câu hỏi phải ngắn gọn, dễ hiểu, tránh đặt câu hỏi trùng lắp, câu hỏi dài dòng làm cho người bị hỏi khó trả lời, không đặt câu hỏi thuộc về cá nhân, đời sống riêng tư, xâm phạm danh dự của đương sự. Tập trung đặt câu hỏi để làm rõ, giải quyết những mâu thuẫn của các tài liệu, chứng cứ cũng như những vấn đề chưa rõ trong lời khai của các đương sự. (Lưu ý: Quá trình xét xử tại phiên tòa, luật quy định Kiểm sát viên tham gia hỏi sau cùng nhằm đề cao vai trò tranh tụng của các bên đương sự, Kiểm sát viên cần tập trung lắng nghe, ghi chép những câu hỏi đã được hỏi tại phiên tòa để tránh hỏi trùng lắp; đặt câu hỏi tùy thuộc vào diễn biến tại phiên tòa).

Nghiên cứu cách tính án phí và các chi phí tố tụng khác của Tòa án có đúng quy định của Pháp lệnh về án phí, lệ phí và gần đây nhất là quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thứ sáu, kinh nghiệm chuẩn bị phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Văn bản phát biểu được lập theo hướng dẫn tại Điều 28 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSTC-TANDTC ngày 31/8/2016, cụ thể như sau:

– Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ việc cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Phát biểu của Kiểm sát viên cần phải nêu rõ việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán khi tiến hành thụ lý vụ án về thẩm quyền, các thủ tục tố tụng khác như xác định quan hệ phát sinh tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, xác minh, thu thập chứng cứ, các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, các thủ tục triệu tập đương sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử… của Thẩm phán có đúng quy định của pháp luật hay không? Thư ký phiên tòa có tuân thủ chức năng, nhiệm vụ của mình tại phiên tòa? Người tham gia tố tụng có tuân theo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tố tụng không? thực hiện nghiêm túc nội quy phiên tòa không?

– Phát biểu về việc giải quyết vụ án: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Kiểm sát viên phát biểu về đường lối giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của người có yêu cầu độc lập (nếu có). Phát biểu của Kiểm sát viên phải làm rõ các tình tiết của vụ án, yêu cầu của các bên đương sự, đại diện của họ và những người tham gia tố tụng khác; phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự, trên cơ sở đó nêu quan điểm giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên cần phải lưu ý là căn cứ vào kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, phân tích điều chỉnh quan điểm đã dự thảo của Viện kiểm sát.

Các căn cứ xét kháng cáo quá hạn: Khi đương sự có lý do chính đáng như gặp trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan do thiên tai, lũ lụt, bệnh nặng hoặc tai nạn… làm cho người kháng cáo không thể thực hiện được quyền kháng cáo trong thời hạn theo luật định.

 

(Trích bài viết: “Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015” của tác giả Nguyễn Văn Hải, Vụ trưởng Vụ 9 và tác giả Đoàn Thị Thu, KSVCC Vụ 9 VKSND tối cao. Tạp chí Kiểm sát số 5/2018).