Nguồn gốc của tên gọi Hiến pháp

1. Nguồn gốc Phương Tây của thuật ngữ Hiến pháp

Hiến pháp là thuật ngữ được dịch từ chữ “Constitution”, dùng để chỉ luật cơ bản, có giá trị tối cao của một nhà nước pháp quyền.
Constitution là từ gốc tiếng Pháp, có gốc latin là “constituo “. Từ này lại được cấu thành từ tiền tố “cum” nghĩa là cùng nhau, và “statuere” có nghĩa là thiết lập. Như vậy, về mặt con chữ, constitution là “cùng nhau thiết lập”.
Ban đầu “constituo” dùng để chỉ các quy định, mệnh lệnh tối cao do Hoàng để (thời kỳ La Mã) ban hành có tính hiến định như pháp lệnh, sắc lệnh, mệnh lệnh,… Sau này đến thời kỳ Trung cổ, khi Giáo luật (canon law – luật của nhà thờ) trở thành một trong những nguồn luật chính ở châu Âu lúc bấy giờ, thì từ Constitution còn được dùng để chỉ một quyết định quan trọng, đặc biệt là một sắc lệnh do Giáo hoàng ban hành, mà ngày nay được biết đến với tên gọi Tông Hiến (apostolic constitution).

Phải đến khoảng thế kỷ XVIII-XIX với trào lưu triết học Ánh sáng cùng những lý thuyết mới có tính cách mạng về Chính quyền, Quốc gia của các tác gia Sieyès, Rousseau, Montesquieu,…thì theo đó, nội hàm của thuật ngữ Constitution mới dần được hoàn thiện và có ý nghĩa hiện đại như ngày nay vẫn được sử dụng.
Một cách khái quát, khái niệm Constitution dùng để chỉ tổng hợp các quy định pháp luật cấu thành nên Nhà nước và các thiết chế, được áp dụng cho mọi công dân, đối tượng của nhà nước đó.

2. Thuật ngữ Hiến pháp diễn dịch theo quan điểm Á đông

Khi đến Việt Nam, từ constitution được dịch thành Hiến pháp. Hiến pháp (憲法)là một từ Hán Việt. Chữ pháp (法) mang nghĩa là pháp luật, còn chữ hiến (憲)mang nghĩa là mệnh lệnh hoặc tiêu chuẩn, mẫu mực. Có thể chiết tự để hiểu hơn về chữ hiến như sau:

Chữ hiến được hình thành bởi bộ miên (宀) tức mái nhà, bộ chủ (主) tức người nắm quyền, bộ mục (目) tức con mắt và bộ tâm (心) tức trái tim. Bộ mục và bộ tâm được đặt ở dưới, tượng trưng cho cái tâm và tầm nhìn xa trông rộng của người nắm quyền lực trong tay, lấy cái tâm và tầm làm nền tảng để từ đó xây dựng nên một thiết chế vững chắc (miên).

Như vậy, chúng ta có thể hiểu, Hiến Pháp chính là văn bản chứa đựng Tâm và Tầm của tầng lớp lãnh đạo nhằm xây dựng một xã hội hạnh phúc và văn minh trên cơ sở vững chắc của pháp luật. Tư duy này mang đậm màu sắc Á đông, coi trọng vai trò của người lãnh đạo và đức trị trong quản trị nhà nước. Tuy nhiên Hiến pháp – bản thân từ này cũng đã phản ánh đúng hoàn cảnh ra đời và vai trò của nó trong nhà nước pháp quyền Á đông hiện nay.
 
Nguồn tham khảo:

  • Constitution, Wikipedia tiếng anh, https://en.wikipedia.org/wiki/Constitution
  • Constitution, Wikipedia tiếng pháp, https://fr.wikipedia.org/wiki/Constitution

 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm soát quân sự

Quân đội các quốc gia trên thế giới đều tổ chức một lực lượng chấp pháp có tên gọi Cảnh sát quân sự (Quân cảnh), tại Việt Nam, lực lượng này được gọi là Kiểm soát quân sự.
 
Căn cứ: Thông tư số 104/2010/TT-BQP về “Ban hành Điều lệnh Quản lý bộ đội Quân đội nhân dân Việt Nam” do Bộ trưởng Phùng Quang Thanh ký ngày 6/8/2010
 

Chức năng của Kiểm soát quân sự

 

Lực lượng Kiểm soát quân sự (KSQS), có chức năng giúp người chỉ huy duy trì kỷ luật quân đội, Pháp luật Nhà nước, quy tắc trật tự an toàn xã hội đối với mọi quân nhân và các phương tiện giao thông quân sự ở ngoài doanh trại;
Phát hiện ngăn chặn những hành vi làm tổn hại đến sức chiến đấu, đến việc hoàn thành nhiệm vụ của quân đội, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực đóng quân.

(Thông tư số 104/2010/TT-BQP)



Nhiệm vụ của Kiểm soát quân sự

 

  • Kiểm tra, nhắc nhở, chấn chỉnh, giúp đỡ mọi quân nhân và phương tiện giao thông quân sự chấp hành đúng quy định ở ngoài doanh trại
  • Giúp đỡ quân nhân qua lại khu vực làm nhiệm vụ, quân nhân lạc ngũ trở về đơn vị
  • Phát hiện, ngăn chặn những người xâm phạm tính mạng quân nhân, tài sản quân đội, tài sản Nhà nước và những hoạt động làm tổn hại đến sức chiến đấu, đến việc hoàn thành nhiệm vụ của quân đội
  • Phát hiện, tạm giữ quân nhân đào bỏ ngũ, quân nhân có hành vi phạm pháp quả tang và những phần tử giả danh quân nhân
  • Lập biên bản về những hành vi vi phạm kỷ luật của quân nhân và người có liên quan bị tạm giữ; Giải quyết ban đầu các vụ phạm pháp quả tang xảy ra tại khu vực làm nhiệm vụ, báo cáo cấp trên xử lý
  • Phối hợp với CSGT điều chỉnh giao thông quân sự, bảo đảm an toàn khi hành quân và phương tiện quân sự hoạt động trong khu vực được phân công
  • Phối hợp, hỗ trợ lực lượng công an và an ninh địa phương bảo vệ an toàn khu vực đóng quân, bảo vệ tài sản quốc gia, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực đóng quân
  • Là lực lượng tại chỗ sẵn sàng xử trí các tình huống xảy ra.

 
Chỉ huy

  • Lực lượng KSQS thuộc quyền người chỉ huy, chịu sự chỉ đạo của cơ quan quân huấn cấp trên, được tổ chức theo 2 hình thức chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp
  • Lực lượng KSQS không chuyên nghiệp được tổ chức từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên (trừ bệnh viện, nhà máy, xí nghiệp, đơn vị làm kinh tế), để hoạt động khi có yêu cầu nhiệm vụ.

 
Hình thức hoạt động

  • Trạm KSQS cố định được tổ chức để hoạt động thường xuyên ở các địa bàn và đầu mối giao thông quan trọng, có nhiều quân nhân và phương tiện giao thông quân sự qua lại
  • Mỗi trạm ít nhất là một tổ KSQS, do sĩ quan chỉ huy và phải có trụ sở làm việc, trong đó có nơi làm việc của nhân viên thường trực, nơi kiểm tra, kiểm soát và phải có phương tiện liên lạc
  • Trạm KSQS lâm thời và tổ KSQS cơ động được tổ chức để hoạt động thời gian nhất định tại các địa bàn và các trục đường giao thông có nhiều quân nhân và phương tiện giao thông quân sự qua lại. Mỗi trạm có một tổ KSQS do sĩ quan hoặc quân nhân chuyên nghiệp phụ trách
  • Lực lượng KSQS không chuyên nghiệp được tổ chức lâm thời trong khu vực đóng quân và theo sự phân công của chỉ huy khu vực đóng quân. Mỗi tổ KSQS có từ 3 quân nhân trở lên, do sĩ quan phụ trách
  • Tổ chức, biên chế, trang bị, giấy ủy nhiệm KSQS, phương tiện hoạt động của lực lượng KSQS và số lượng, vị trí các trạm KSQS cố định do Bộ Tổng tham mưu quy định
  • Các trạm KSQS lâm thời, các tổ KSQS cơ động do Bộ Tổng tham mưu chỉ định hoặc tư lệnh quân khu quy định trong địa bàn của quân khu mình
  • Lực lượng KSQS của đơn vị nào chỉ được hoạt động trong khu vực được phân công của đơn vị đó.
  • Lực lượng KSQS của cấp trên đến làm nhiệm vụ ở địa bàn nào phải thông báo cho chỉ huy khu vực đóng quân ở địa bàn đó biết và phối hợp với lực lượng KSQS của địa bàn đó (nếu cần thiết)
  • Quân nhân làm nhiệm vụ KSQS phải có biển, băng mang ký hiệu KSQS; Mang mặc trang phục, trang bị nghiệp vụ đúng quy định; Nắm vững chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi và các phương pháp hoạt động
  • Phối hợp chặt chẽ với lực lượng tuần tra, canh gác của các đơn vị trong khu vực, với công an, dân quân tự vệ, với chính quyền và nhân dân địa phương để tiến hành công tác
  • Tổ trưởng phải có giấy ủy nhiệm “Tổ Kiểm soát quân sự” do cấp có thẩm quyền cấp. Sĩ quan được cấp giấy ủy nhiệm KSQS của Tổng tham mưu trưởng không nhất thiết phải có biển, băng kiểm soát quân sự.

 

Quyền hạn của Kiểm soát quân sự

 

  • Nhắc nhở, chấn chỉnh những quân nhân vi phạm điều lệnh, kỷ luật quân đội
  • Kiểm tra, ngăn chặn, tạm giữ các quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân viên quốc phòng và các phương tiện giao thông quân sự vi phạm nghiêm trọng kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước, trật tự an toàn xã hội, gây hậu quả xấu
  • Lập biên bản, thu giữ tang vật, bảo vệ hiện trường, báo cáo người chỉ huy và bàn giao cho cơ quan chức năng xử lý
  • Được sử dụng vũ khí khi người phạm pháp kháng cự lại đe dọa đến tính mạng của mình và người khác hoặc sau khi đã cảnh cáo, ra lệnh đứng lại mà kẻ phạm pháp nguy hiểm vẫn cố tình chống cự hoặc chạy trốn

 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Hòa giải bên cạnh Tòa án

Trong cuốn tự truyện của mình, Mahatma Gandhi mô tả sự mãn nguyện và vui sướng từ việc giúp người khác giải quyết mâu thuẫn: Hai bên đều hài lòng với kết quả… Niềm vui sướng của tôi vô bờ bến. Tôi đã đã biết được thực tiễn pháp lý. Tôi đã thấy được mặt tốt của bản chất con người và đi vào trái tim con người. Tôi biết rằng chức năng thực sự của một luật sư đó là gắn kết các bên đã bị chia rẽ. Bài học mà tôi khắc ghi đó là phần lớn thời gian của tội trong suốt 20 năm hành nghề luật sư của tôi là mang đến sự nhượng bộ hài hòa trong hàng trăm vụ việc. Tôi chẳng mất cái gì, thậm chí cả tiền nong cũng không và chắc chắn rằng tôi vẫn giữ được tâm hồn và tinh thần đó. ( Tự truyện của Mahatma Gandhi,  trang 134).
 
 Khuyến khích giải quyết vụ án thông qua cơ chế hòa giải “hai bên đều thắng” do một hòa giải viên bên cạnh tòa án thực hiện.
Tại phiên họp đầu tiên về quản lý vụ án, Thẩm phán tích cực khuyến khích các bên thảo luận giải quyết tranh chấp.
Thẩm phán cần giới thiệu với các bên về hoạt động hòa giải bên cạnh (hoặc gắn liền) với tòa án nếu các bên có quan tâm, tại bất cứ thời điểm nào.
Kết quả là Thẩm phán và luật sư đều sẵn sàng để tiến hành phiên tòa.Các luật sư hiểu được trách nhiệm phải đưa ra chứng cứ, thẩm vấn nhân chứng và đưa ra các lập luận về vụ án.
Thẩm phán sẵn sàng xem xét chứng cứ và đưa ra quyết định hợp lý và những lý do phù hợp trong bản án của mình.
Hòa giải bên cạnh tòa án cũng là nhân tố không thể thiếu để phiên tòa được thành công. Các hòa giải viên được đào tạo sẽ sẵn sàng hỗ trợ các bên và luật sư của mình trong suốt quá trình tố tụng. Các hòa giải viên được đào tạo về hòa giải “hai bên cùng thắng” theo đó hòa giải viên sẽ tập trung vào lịch sử quan hệ của hai bên hơn là các tranh chấp của tòa án. Để có hiệu quả thì hòa giải viên theo cơ chế “hai bên cùng thắng” phải được đào tạo khoảng 30 giờ.
Cơ chế hòa giải hai bên cùng thắng đã được thực hiện ở rất nhiều quốc gia, trong đó có Malaysia và Thái Lan.
Phiên hòa giải này được tổ chức sớm ngay sau khi nhận được đơn kiện sẽ đặc biệt hữu ích và giúp thẩm phán và tòa án tiết kiệm thời gian.
Điều quan trọng là phải quyết định ai sẽ là hòa giải viên. Người đó không thể là Thẩm phán sẽ tiến hành giải quyết vụ án bởi vì một số trao đổi có thể không được phép diễn ra trước thẩm phán sẽ xét xử vụ án. Một số nước sử dụng thẩm phán không chuyên, một số khác sử dụng Thẩm phán, một số lại sử dụng cán bộ tòa án trong khi đó lại sử dụng những người đã nghỉ hưu (Thái Lan, Trung Quốc). Quyết định lựa chọn ai làm hòa giải viên sẽ dựa trên cơ sở đối tượng nào sẽ phù hợp nhất đối với Việt Nam. Nhưng họ đều phải là những người được đào tạo. Điều quan trọng hơn là cơ chế này sẽ có hiệu quả hơn nếu các bên không phải trả thêm phí cho việc hòa giải.
Chương trình này sẽ được thực hiện ra sao? Cách tốt nhất để bắt đầu là thực hiện chương trình thí điểm với một nhóm nhỏ Thẩm phán và hòa giải viên được đào tạo để sử dụng phương pháp này. Thẩm phán sử dụng các vụ án hiện đã được thụ lý và bắt đầu một quy trình mới. Họ sẽ làm việc với các giảng viên có kinh nghiệm và các giảng viên này sẽ cùng làm việc với họ cho đến khi thành thạo quy trình này. Trong dự án thử nghiệm, có thể có những thay đổi để “phù hợp” với Việt Nam. Thường thì dự án thí điểm sẽ diễn ra từ 3 đến 6 tháng.
Mấu chốt của dự án không chỉ là chỉ cho các thẩm phán phải làm gì. Giảng viên cần phải có mặt trong suốt quá trình diễn ra dự án thí điểm để trả lời câu hỏi và đưa ra những gợi ý. Đó là những kỹ năng mà Thẩm phán phải làm chủ mà không phải những gì học được từ sách vở. Những kinh nghiệm thực tế tại tòa án cùng với sự trợ giúp từ giảng viên là rất quan trọng. Một số người có thể cho rằng “tại sao chúng ta cần có sự hiện diện của người nước ngoài ở tại tòa án của chúng ta?” Câu trả lời là bởi vì kỹ năng không thể học một cách hiệu quả mà có sự hướng dẫn của người có kỹ năng. Giả sử rằng không có bác sỹ phẫu thuật não tại Việt Nam thì không ai muốn một bác sỹ tiến hành phẫu thuật trên đầu mình bởi vì ông ấy đã đọc một cuốn sách. Các bạn cần có một ai đó từ bên ngoài vào để dạy các bạn về kỹ năng. Điều đó rất đúng và là mục đích của dự án về đào tạo trong lĩnh vực quản lý vụ án và hòa giải bên cạnh tòa án này.
Các luật sư cũng phải được đào tạo về cách thức hành nghề ở Việt Nam trong hệ thống tranh tụng kiểu Việt Nam này. Các luật sư khi được đào tạo sẽ hỗ trợ cho các thẩm phán trong việc quy trình quản lý vụ án. Rất ít luật sư Hoa kỳ sinh sống ở Việt Nam am hiểu về hòa giải, quản lý án và hệ thống tranh tụng. Tất cả thành quả của dự án thí điểm cần được Liên đoàn luật sư Việt Nam sử dụng để tổ chức “khóa bồi dưỡng cho luật sư” để tất cả các luật sư có thể được đào tạo về kỹ năng mới này và giúp thực hiện thủ tục tranh tụng tại tòa án.
Khi dự án thí điểm thành công, nó cần được nhân rộng ở các địa phương khác trên toàn Việt Nam, từng tòa từng tòa một cho đến khi phủ khắp đất nước. Điều này có nghĩa là Học viện Tòa án cũng phải có giảng viên tham gia và xem thẩm phán đã nghỉ hưu hướng dẫn để học các kỹ năng đào tạo thẩm phán và hòa giải viên. Điều này cũng áp dụng cả đối với Liên đoàn luật sư phải sẵn sàng để đào tạo tất cả các luật sư trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Mục đích cuối cùng là luật sư được đào tạo về kỹ năng tại trường và các thẩm phán được đào tạo kỹ năng tại các khóa học ban đầu. Nhưng để có được điều đó, cần có một chương trình kế tiếp để tất cả các tòa án chuyển sang mô hình quản lý vụ án và hòa giải bên cạnh tòa án cũng như thủ tục tranh tụng.
 

Hòa giải theo nhóm trong buổi Tọa đàm   

 
Bước đầu tiên là lựa chọn người đại diện cho lãnh đạo cấp cao và người chịu trách nhiệm chính đối với dự án. Người này sẽ là cầu nối giữa dự án thí điểm, Tòa án, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương và các cơ quan liên quan.
Đánh giá đề xuất này và đặt ra các câu hỏi; đưa ra những đề nghị. Nhớ rằng dự án thí điểm chỉ tìm ra vấn đề và tạo ra những thay đổi trước khi tiến hành phổ biến rộng trên toàn quốc. Đây là một quá trình vừa làm vừa đánh giá liên tục.
Người đại diện cho Tòa án và Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương sẽ chỉ định một tòa án hoặc một bộ phận của Tòa án sẽ thực hiện chương trình thí điểm. Cần phải cân nhắc về địa điểm và phạm vi của dự án thí điểm và Chánh án có phải là người lãnh đạo tốt nhất để bao quát dự án thí điểm này v.v…
Việc chuẩn bị phải bắt đầu ngay từ bây giờ đối với những việc cần thiết phải hoàn thiện để khởi động dự án, bao gồm cả việc kết nối và liên lạc với Học viện Tòa án, Liên đoàn luật sư, luật sư Hoa Kỳ sinh sống tại Hà Nội.
Cần có một nghiên cứu về loại người nào sẽ phù hợp nhất để trở thành hòa giải viên theo nguyên tắc hai bên cùng thắng và được chỉ định để tham gia vào chương trình thí điểm. Cũng cần phải cân nhắc đến chi phí cho mô hình hòa giải này để không làm tốn thêm chi phí cho các đương sự.
 

Hòa giải thí điểm tại Hải Phòng

 
Kết luận.
Hòa giải bên cạnh Tòa án sẽ là thay đổi lớn về cách thức giải quyết vụ án tại Việt Nam.
Luật sư sẽ thực hiện vai trò xuất trình chứng cứ, kiểm tra và đối chất nhân chứng, bình luận về việc áp dụng pháp luật và đưa ra lập luận cuối cùng nhân danh thân chủ của mình.
Thẩm phán không còn phải đặt câu hỏi trừ trường hợp luật sư quên không đặt câu hỏi về những điểm quan trọng.
Việc chuẩn bị của thẩm phán được tiến hành trong suốt quá trình quản lý vụ kiện. Thẩm phán sẽ cân nhắc chứng cứ đã được xuất trình, luật áp dụng và trình bày cuối cùng của luật sư về những vấn đề đã được chứng minh và luật áp dụng. Thẩm phán sau đó sẽ chuẩn bị bản án viết trong đó chỉ ra những tình tiết đã được chứng minh, áp dụng pháp luật tương tứng và đưa ra lý do cho phán quyết của mình.
Nếu Hội thẩm vẫn được duy trì, họ cũng phải được đào tạo để thực hiện vai trò của mình. Bởi vì luật sư sẽ trình bày vụ kiện của mình thông qua việc đưa ra chứng cứ và chỉ có thẩm phán biết luật và đưa ra quyết định bác chứng cứ. Theo hệ thống tranh tụng, những câu hỏi của Hội thẩm sẽ rất ít khi phù hợp. Vì vậy, các câu hỏi đó chỉ đưa ra tại phiên tòa và vai trò của họ sẽ ít chủ động hơn. Họ sẽ trở thành những người cố vấn thông thường cho Tòa án sau khi vụ án được trình lên Thẩm phán để quyết định. Điều này sẽ phù hợp với “hệ thống tranh tụng” cần được phát triển.
Quyết định cũng cần phải đưa ra về việc một thẩm phán hay một hội đồng ba thẩm phán sẽ được sử dụng để giải quyết vụ án. Tố tụng tranh tụng chỉ yêu cầu một thẩm phán chủ trì giải quyết vụ án.
Để thực hiện được hệ thống quản lý vụ án và hòa giải hai bên cùng thắng sẽ mất nhiều thời gian nhưng đây là một phần không thể thiếu của việc phát triển hệ thống tranh tụng. Do vậy, rất cần có sự kiên nhẫn khi chúng ta tạo ra những thay đổi trong hệ thống.
 

Nguồn: Tạp chí Tòa án (tapchitoaan.vn)

Những bất cập của Điều 260 BLHS năm 2015

Trong những năm qua, mặc dù Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu nhưng tình trạng vi phạm các quy định về an toàn giao thông vẫn chưa thuyên giảm, nhiều vụ tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Do đó chính sách pháp luật về hình sự cũng được thay đổi theo nhằm khắc phục hậu quả tình trạng này. Tuy nhiên bên cạnh những thay đổi tích cực thì Điều 260 BLHS năm 2015 lại có những bất cập.
 
Mở rộng về chủ thể của tội phạm
Điều 202 BLHS năm 1999 quy định về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộNgười nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt từ từ 6 tháng đển 5 năm.
Điều 260 BLHS năm 2015 quy định về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộNgười nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 đến 05 năm.
Ta thấy chủ thể của của Điều 260 BLHS năm 2015 đã thay đổi rất nhiều so với chủ thể của Điều 202 BLHS năm 1999. Cụ thể, chủ thể của điều Điều 202 BLHS năm 1999 chỉ là những người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ còn chủ thể của của Điều 260 BLHS năm 2015 là những người tham gia giao thông đường bộ; theo khoản 22 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định “Người tham gia giao thông gồm: người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ”, như vậy ta thấy về chủ thể của tội phạm đã được mở rộng hơn, bao gồm tất cả những người tham gia giao thông đường bộ.
Bấp cập khi căn cứ vào hậu quả
Điều 202 BLHS năm 1999 quy định tại khoản 1 về gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác; điểm đ khoản 2 quy định về gây hậu quả rất nghiêm trọng; khoản 3 quy định về gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Những tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt này đã được giải thích và hướng dẫn rất rõ tại Điều 2 của Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông.
Kế thừa Điều 202 BLHS năm 1999 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch, Điều 260 BLHS năm 2015 đã liệt kê cụ thể các tình tiết định tội và định khung hình phạt thành các điểm, khoản tương ứng. Tuy nhiên việc liệt kê này theo tác giả còn một số thiếu sót qua ví dụ sau:
VD1: Ngày 10/3/2018 A lái xe ôtô đi sai phần đường nên đâm vào xe môtô gây tai nạn làm 01 người tổn hại 68 % sức khỏe và 01 người tổn hại 70% sức khỏe. Hậu quả do A gây ra là làm 02 người tổn hại 138% sức khỏe; hành vi nêu trên của A đã phạm vào tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015
Điểm e khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 quy định: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
VD2: Ngày 10/3/2018 B lái xe ôtô đi sai phần đường nên đâm vào xe môtô gây tại nạn làm 01 chết và một người tổn hại 90% sức khỏe. Đối chiếu với Điều 260 BLHS năm 2015 thì hành vi của B chỉ phạm vào tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015.
Từ  2 ví dụ trên ta thấy hậu quả do hành vi của B gây ra lớn hơn hậu quả do hành vi của A gây ra nhưng trách nhiệm hình sự của B lại nhẹ hơn trách hình sự của A. Đây là một bất cập của Điều 260 BLHS 2015.
VD3: Ngày 10/3/2018 C lái xe ôtô đi sai phần đường nên đâm vào xe môtô gây tai nạn làm 01 người tổn hại 60 % sức khỏe, 01 người tổn hại 90% sức khỏe và 01 người tổn hại 95% sức khỏe. Hậu quả do C gây ra là làm 03 người bị thương tổn hại 245% sức khỏe; hành vi nêu trên của C đã phạm vào tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm b khoản 3  Điều 260 BLHS năm 2015
Điểm b khoản 3 Điều 260 BLHS 2015 quy định: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
VD4: Ngày 10/3/2018 D lái xe ôtô đi sai phần đường nên đâm vào xe môtô gây tai nạn làm 02 chết và một người tổn hại 98% sức khỏe. Đối chiếu với Điều 260 BLHS năm 2015 thì hành vi của D chỉ phạm vào tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điểm đ khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015
Hậu quả do D gây ra lớn hơn hậu quả do C gây ra nhưng trách nhiệm hình sự của D lại nhẹ hơn trách nhiệm hình sự của C điều này là trái với các quy định của BLHS.
Trên đây là một số điểm mới và vướng mắc, bất cập từ thực tiễn áp dụng Điều 260 BLHS 2015, để việc áp dụng điều luật thật sự chính xác và hiệu quả thì rất cần sự quan tâm của các cơ quan liên ngành Trung ương, để sớm ban hành hướng dẫn thống nhất trong áp dụng. Có như vậy, công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trong thực tiễn mới đạt hiệu quả, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn trật tự xã hội, an toàn giao thông.
 

Nguồn: Tạp chí tòa án (tapchitoaan.vn)

Các tội có cấu thành hình thức trong BLHS 2015

Cấu thành tội phạm hình thức là gì?

Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
 
Theo quy định pháp luật hình sự, đối với một số tội danh mặc dù người phạm tội mới chỉ thực hiện hành vi “chuẩn bị phạm tội” nhưng do khách thể tội phạm đó xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm đặc biệt quan trọng như: quyền được sống, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏa của con người, xâm phạm an ninh quốc gia,… thì pháp luật vẫn quy định đó đã được xem là cấu thành tội phạm.
 

Các tội có cấu thành hình thức trong Bộ luật hình sự 2015

Theo quy định Điều 14 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017): “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm”. Và BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định người có hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự với 25 tội danh thuộc năm nhóm tội: xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm con người; xâm phạm sở hữu; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội xâm phạm an toàn công cộng. Cụ thể bao gồm các tội danh sau đây:
 

Nhóm tội Tội danh cụ thể
Các tội xâm phạm an ninh quốc gia 1. Điều 108 – tội phản bội Tổ quốc;
2. Điều 109 – Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân;
3. Điều 110 – tội gián điệp;
4. Điều 111 – tội xâm phạm an ninh lãnh thổ;
5. Điều 112 – tội bạo loạn;
6. Điều 113 – tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân;
7. Điều 114 – tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
8. Điều 115 – Phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội;
9. Điều 116 – Phá hoại chính sách đoàn kết;
10. Điều 117 – tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
11. Điều 118 – tội phá rối an ninh;
12. Điều 119 – tội chống phá cơ sở giam giữ;
13. Điều 120 – tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân;
14. Điều 121 – tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân;
Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏa con người 15. Điều 123 – tội giết người;
16. Điều 134 – tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
Các tội xâm phạm sở hữu 17. Điều 168 – tội cướp tài sản;
18. Điều 169 – tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản;
Các tội xâm phạm trong lĩnh vực tài chính 19. Điều 207 – Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả;
Các tội xâm phạm an toàn công cộng 20. Điều 299 – tội khủng bố;
21. Điều 300 – tội tài trợ khủng bố;
22.  Điều 301 – tội bắt cóc con tin;
23.  Điều 302 – tội cướp biển;
24. Điều 303 – tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng  về an ninh quốc gia;
25.  Điều 324 -tội rửa tiền.

 
Lưu ý: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự với 02 tội danh sau đây:

  • Tội Giết người (Điều 123);
  • Tội Cướp tài sản (Điều 168).

Hướng nghiên cứu, hoàn thiện chế định áp giải, dẫn giải trong BLTTHS 2015

Tố tụng hình sự là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng của Nhà nước. So với các lĩnh vực hoạt động nhà nước khác thì tố tụng hình sự là lĩnh vực trong đó việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cần thiết khách quan và xâm phạm nhiều nhất vào cuộc sống tư của công dân, hạn chế quyền và tự do hiến định của họ. Điều này xuất phát từ nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện tội phạm và kẻ phạm tội, ngăn chặn tiếp tục phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự của kẻ phạm tội. Đây là yếu tố quyết định sự cần thiết áp dụng các biện pháp cưỡng chế can thiệp vào tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm thân thể và các quyền hiến định khác của công dân ([1]).
Áp giải và dẫn giải không phải là hai biện pháp cưỡng chế mới trong tố tụng hình sự. Trong lần sửa đổi vừa rồi, hai biện pháp cưỡng chế này được quy định trong cùng một điều luật và thể hiện nhiều điểm mới, tiến bộ nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để các tồn tại trên thực tế. Bài viết, trên cơ sở phân tích quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) về áp giải, dẫn giải, sẽ phân tích những tồn tại, hạn chế chưa được giải quyết trong Bộ luật mới về hai biện pháp cưỡng chế này.

1. Quy định về áp giải, dẫn giải trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Có thể nói, so với quy định của BLTTHS năm 2003, chế định về áp giải, dẫn giải đã có nhiều điểm mới, tiến bộ.
Áp giải và dẫn giải được định nghĩa chính thức trong BLTTHS năm 2015 là các biện pháp cưỡng chế. Theo quy định tại Điều 4 BLTTHS năm 2015 về giải thích thuật ngữ, hai biện pháp cưỡng chế này đã được nhà làm luật đưa ra định nghĩa với nội hàm khá rõ ràng. Theo đó, áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, còn dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định. Định nghĩa đã xác định được bản chất của hai biện pháp, đồng thời, giúp cho người đọc hình dung khái quát về đối tượng, trường hợp của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này. Tiếp đó, hai biện pháp áp giải và dẫn giải được quy định cụ thể trong Điều 127 của BLTTHS năm 2015.

Đây là điểm tiến bộ rõ nét trong kĩ thuật lập pháp về hai biện pháp cưỡng chế này nhìn từ góc độ so sánh giữa BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015. Thật vậy, so với quy định trong BLTTHS năm 2003, nhóm các biện pháp cưỡng chế nói chung chưa được quy định thành một phần riêng mà nằm rải rác trong BLTTHS, cụ thể, các quy định về biện pháp áp giải, dẫn giải chủ yếu được thể hiện dưới dạng nghĩa vụ trong các điều luật cụ thể quy định về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng (Điều 49, 50, 55 thuộc chương IV (Người tham gia tố tụng), trong Điều 130 thuộc Chương X (Khởi tố bị can và hỏi cung bị can) và Điều 134 thuộc Chương XI (Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng)). Điều này phù hợp với quan điểm lập pháp khi sửa đổi BLTTHS năm 2003 là thu hút toàn bộ các biện pháp cưỡng chế tố tụng để điều chỉnh chung trong một chương nhằm bảm đảm tính chặt chẽ và nhất quán trong việc quy định các biện pháp này, từng biện pháp cưỡng chế phải được điều chỉnh cụ thể bởi năm yếu tố: căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành ([2]).

Thứ hai, BLTTHS mới mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng của hai biện pháp áp giải và dẫn giải. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, đối tượng của biện pháp áp giải là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội. Quy định về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là sự kế thừa quy định về người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp nhưng có sự thay đổi để phù hợp hơn với tinh thần bảo vệ quyền con người của Hiến pháp năm 2013 ([3]). Người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Như vậy, so với BLTTHS năm 2003, đối tượng của biện pháp áp giải đã được mở rộng. Trước đây, chỉ có bị can, bị cáo mới có thể bị áp giải nếu thuộc trường hợp luật định. Việc mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng, theo tác giả, là hợp lý. Mục tiêu của biện pháp cưỡng chế áp giải là nhằm đảm bảo người bị áp dụng phải có mặt ở địa điểm nhất định, phục vụ cho hoạt động giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, đảm bảo tính liên tục trong việc giải quyết vụ án. Nếu chỉ quy định bị can, bị cáo có thể bị áp giải thì sẽ không bao quát hết các trường hợp phát sinh trên thực tế. Việc một người tham gia tố tụng hình sự, đặc biệt là người đang trong diện “tình nghi” đã thực hiện tội phạm thì sự vắng mặt (không có lí do chính đáng) hay sự không hợp tác của họ đều có thể ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án. Do đó, việc quy định đối tượng có thể bị áp giải như BLTTHS hiện hành sẽ đảm bảo sự tham gia của những người này trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Như PGS.TS. Nguyễn Thái Phúc đã khẳng định: “Một trong những lí do dẫn đến sự cần thiết áp dụng các biện pháp cưỡng chế là thái độ chủ quan của chủ thể quan hệ pháp luật đối với nghĩa vụ của mình. Với chủ thể tự chấp hành nghĩa vụ pháp luật thì Nhà nước không cần thiết phải áp dụng biện pháp cưỡng chế.” ([4])

Đối tượng của dẫn giải là một số người tham gia tố tụng, cụ thể gồm: 1) người làm chứng; 2) người bị hại; 3) người bị tố giác; 4) người bị kiến nghị khởi tố. Như vậy, trong số 20 tư cách (người) tham gia tố tụng hình sự quy định tại Điều 55 của BLTTHS năm 2015, có 04 tư cách (người) tham gia tố tụng có thể bị dẫn giải. Quy định về đối tượng dẫn giải đã giải quyết được cơ bản khó khăn, vướng mắc về vấn đề này trong BLTTHS trước đây. Thật vậy, Báo cáo số 11 đã chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong quy định của BLTTHS trước đây về đối tượng dẫn giải, đó là “Chỉ quy định dẫn giải đối với người làm chứng mà chưa áp dụng đối với những người tham gia tố tụng khác trong trường hợp đã triệu tập lấy lời khai nhưng không có mặt (Điều 137), gây khó khăn cho hoạt động điều tra. Trường hợp người bị hại từ chối giám định, nhưng xét thấy việc từ chối đó không có lý do chính đáng hoặc ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án thì chưa có biện pháp buộc họ phải đi giám định. Khi người làm chứng không chấp hành quyết định dẫn giải mà không có lý do chính đáng thì không có cơ chế giải quyết để bảo đảm sự có mặt của họ, gây khó khăn cho hoạt động tố tụng.” Hoặc “nhiều trường hợp sau khi đã nhận lại tài sản hoặc đã được bồi thường đầy đủ thì người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại thường vắng mặt tại phiên tòa, gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nhưng do không quy định biện pháp áp giải đối với những người này nên không có căn cứ để thực hiện (Điều 191)” ([5]). Tuy nhiên, quy định của BLTTHS năm 2015 vẫn chưa giải quyết triệt để vấn đề (Xin xem mục 2 bên dưới).
BLTTHS năm 2015 đã bám sát mục tiêu, quan điểm chỉ đạo khi xây dựng chế định về áp giải, dẫn giải. Như trên đã đề cập, từng biện pháp cưỡng chế phải được điều chỉnh cụ thể bởi năm yếu tố: căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành. Căn cứ áp dụng dẫn giải được quy định ngay trong điều luật và tương ứng đối với từng tư cách (người) tham gia tố tụng hình sự.

Về thẩm quyền quyết định biện pháp áp giải, dẫn giải cũng được mở rộng hơn: Khoản 3 Điều 127 đã quy định rõ ràng, cụ thể người có thẩm quyền quyết định áp giải, dẫn giải là “Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử”. Việc trao quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế áp giải, dẫn giải cho những người trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra như Điều tra viên, Kiểm sát viên không chỉ góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng, mà quan trọng hơn, sẽ tăng cường tính độc lập, nâng cao trách nhiệm của những người “trực tiếp” tiến hành tố tụng. Đây cũng là xu hướng lập pháp tố tụng hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2015 cũng đã quy định cụ thể các cơ quan có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải đó là Cơ quan Công an nhân dân và Quân đội nhân dân có thẩm quyền.

Ngoài ra, khoản 6 điều 127 quy định rõ ràng và phù hợp hơn với thực tiễn tố tụng về thời điểm, theo đó “Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm.”.
Như vậy, việc mở rộng, quy định rõ ràng, cụ thể phạm vi đối tượng, trường hợp và thẩm quyền về áp giải, dẫn giải trong BLTTHS năm 2015 sẽ góp phần đảm bảo việc áp dụng các biện pháp này chặt chẽ, đúng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp giải, dẫn giải là vấn đề phức tạp, nhạy cảm và rất dễ bị phản ứng, vì vậy các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần phải xem xét rất thận trọng, chỉ nên áp dụng khi thật cần thiết để làm rõ các nội dung quan trọng của vụ án.

 

2. Một số hạn chế, vướng mắc chưa được giải quyết

BLTTHS năm 2015 ban hành đã đổi mới nhiều trong lập pháp, cả về hình thức, kĩ thuật lập pháp và nội dung của các quy định đối với biện pháp cưỡng chế nói chung, đối với hai biện pháp áp giải, dẫn giải nói riêng. BLTTHS năm 2015 vừa có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, vẫn còn rất sớm để có thể đánh giá tính đúng đắn, khả thi trong các quy định của BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, qua nghiên cứu từ góc độ quy định của luật, tác giả nhận thấy, chế định áp giải, dẫn giải trong BLTTHS năm 2015 vẫn còn một số tồn tại.

Trước tiên, về đối tượng của biện pháp dẫn giải. Như trên đã đề cập, quy định về đối tượng áp dụng của biện pháp này vẫn chưa giải quyết triệt để các vấn đề đã được chỉ ra khi tổng kết BLTTHS năm 2003. Thực tế cho thấy có những vấn đề phức tạp về chuyên môn nhưng người giám định được triệu tập cố tình không tham gia phiên toà đã ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án, trong khi chưa có chế tài xử lý đối với giám định viên vắng mặt mà không có lý do chính đáng (Điều 193) ([6]). Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 vẫn chưa thừa nhận người giám định là đối tượng của dẫn giải. Theo tác giả, việc không đưa người tham gia tố tụng này vào đối tượng bị dẫn giải là không phù hợp với nguyên tắc quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, Điều 5 BLTTHS năm 2015 quy định:

 

Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
…4. Cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.…6. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.

 

Nguyên tắc này xuất phát thường được ghi nhận trong truyền thống pháp luật của các nước theo mô hình tố tụng thiên về thẩm vấn – mô hình tôn trọng nguyên tắc tìm kiếm sự thật khách quan của vụ án (Search for the truth). Ở những quốc gia theo mô hình tố tụng này, tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm là trách nhiệm của mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức. Chính vì vậy, các quốc gia này thường quy định việc người làm chứng có nghĩa vụ hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án. Họ có thể bị dẫn giải nếu thuộc các trường hợp luật định, ví dụ như ở Việt Nam, người làm chứng có thể bị dẫn giải nếu “không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan” ([7]). Ngược lại, trong các quốc gia theo mô hình tố tụng hình sự thiên về tranh tụng – mô hình tố tụng đề cao tính “đối tụng” của bên buộc tội và bên gỡ tội, đặc biệt là tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng nói chung ([8]), người làm chứng nói riêng thường không có nghĩa vụ phải ra làm chứng, cung cấp thông tin cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án. Do đó, họ được “mời” đến phiên tòa để cung cấp lời khai, và như vậy, không có khái niệm “bị dẫn giải” để buộc phải có mặt theo giấy triệu tập. Với cách tiếp cận về “trách nhiệm” nêu trên, có thể thấy, người giám định, trong sự so sánh với người làm chứng “rất nên” thuộc trường hợp có thể bị dẫn giải. Người giám định là “người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật.”([9]). Thực tiễn cho thấy, người giám định trong tố tụng hình sự ở Việt Nam thường là công chức, viên chức nhà nước. Do đó, nếu có phương thức phù hợp để so sánh, nhiều người sẽ tán thành với quan điểm người giám định nên có trách nhiệm cao hơn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm so với người làm chứng – người tham gia tố tụng hình sự do tình huống khách quan mang lại và có thể là bất kỳ ai. Do đó, tác giả cho rằng, phạm vi áp dụng của dẫn giải nên được mở rộng toàn diện hơn nữa, cần quy định bao gồm cả người giám định trong những trường hợp cần giải quyết “vấn đề phức tạp về chuyên môn” như đã đề cập trong báo cáo tổng kết thi hành BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, cần những nghiên cứu sâu hơn để đưa ra quy định hợp lý về trường hợp, hình thức, mức độ “cưỡng chế” có thể sử dụng, đồng thời, cần cân nhắc đến yếu tố “danh dự, uy tín” của giám định viên với tư cách là công chức, viên chức nhà nước.

Thứ hai, về mức độ “cưỡng chế” cần thiết khi áp dụng hai biện pháp này. Ở mục 1 của bài viết, tác giả đề cập đến sự tiến bộ về kĩ thuật lập pháp khi áp giải và dẫn giải được định nghĩa chính thức trong điều luật về giải thích thuật ngữ (Điều 4 BLTTHS năm 2015). Tuy nhiên, nếu xét từ khía cạnh nội hàm khái niệm, hai định nghĩa nêu trên chưa hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu của người nghiên cứu. Điều này bởi lẽ, căn cứ vào thuật ngữ cũng như đối tượng áp dụng, áp giải là biện pháp mang tính cưỡng chế cao hơn dẫn giải. Do đó, những người nghiên cứu có thể suy đoán mức độ cưỡng chế được sử dụng đối với hai biện pháp này. Mặc dù vậy, điều này không được thể hiện trong BLTTHS năm 2015. Thật vậy, theo khái niệm các nhà làm luật đưa ra, bản chất của hai biện pháp không có gì khác nhau ngoài đối tượng áp dụng ([10]). Tuy nhiên, Điều 127 cũng không nêu rõ mức độ cưỡng chế, biện pháp, công cụ có thể sử dụng khi cưỡng chế trong hai trường hợp này. Có quan điểm sẽ cho rằng, những vấn đề kỹ thuật, cụ thể nêu trên có thể được quy định trong các văn bản dưới luật như nghị định, hoặc thông tư, thông tư liên tịch. Tác giả không đồng ý với quan điểm này. Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ, bổ sung và làm rõ hơn nhiệm vụ của Tòa án và Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng Hiến định. Những sửa đổi, bổ sung này đòi hỏi phải được cụ thể hóa trong BLTTHS (sửa đổi)([11]). Do đó, nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp và xác lập căn cứ pháp lý để kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân, một trong các quan điểm chỉ đạo khi xây dựng BLTTHS sửa đổi là quy định mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án phải được quy định trong BLTTHS. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rất rõ quan điểm này, theo đó mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân cần phải được quy định bởi luật – hình thức văn bản quy phạm pháp luật chỉ Quốc hội có thẩm quyền ban hành ([12])./.

Quang Minh / Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Hiến pháp năm 2013;
2. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
3. Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mói trong BLTTHS năm 2015 do PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia;
4. Báo cáo tổng kết số 11/BC-VKSTC ngày19/11/2015 tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003;
5. Nguyễn Văn Biên (chủ biên), Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015, NXB Hồng Đức;
6. Tờ trình số 11/ TTr-VKSTC-V8 ngày 23/3/2015 về dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi).

([1]) Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mói trong BLTTHS năm 2015 do PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, tr.237;
([2]) Báo cáo tổng kết số 11/BC-VKSTC ngày 19/11/2015 tổng kết thực tiễn thi hành 10 năm BLTTHS năm 2003, tr.31;
([3]) Xem thêm Nguyễn Văn Biên (chủ biên), Bình luận khoa học BKTTHS năm 2015, NXB Hồng Đức, tr.107;
([4]) Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mói trong BLTTHS năm 2015 do PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, tr.237;
([5]) Báo cáo số 11/BC-VKSTC, tlđd, tr.20, tr.22;
([6]) Báo cáo số 11/BC-VKSTC, tlđd, tr. 22;
[7] Xem Điều 127, BLTTHS năm 2015;
[8] Ngược lại, ở những quốc gia này, tiêu biểu như Hoa Kỳ, chương trình bảo vệ nhân chứng rất phát triển;
[9] Xem khoản 1 Điều 68 BLTTHS năm 2015;
([10]) PGS.TS. Nguyễn Thái Phúc cũng có cùng nhận định như trên. Xem Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015 do PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, tr.237;
Điều 4. Giải thích từ ngữ
1. Trong Bộ luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
k) Áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử.
l) Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định.
([11]) Tờ trình số 11/ TTr-VKSTC-V8 ngày 23/3/2015 về dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi), tr.2;
([12]) Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định “2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Bàn về nội hàm khái niệm vật chứng theo quy định tại điều 89 BLTTHS 2015

1. Vật chứng là một trong những nguồn chứng cứ có tính truyền thống được BLTTHS ghi nhận bên cạnh các loại nguồn chứng cứ khác và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.

Theo quy định tại Điều 89 BLTTHS 2015 thì  “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.
Như vậy, Điều 89 BLTTHS 2015 về cơ bản vẫn giữ nguyên khái niệm về vật chứng như Điều 74 BLTTHS 2003 chỉ khác đã bỏ từ “bạc” trong từ “tiền bạc” và bổ sung thêm cụm từ “hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” sau cụm từ “có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội”.

2. Nội dung khái niệm vật chứng trong BLTTHS 2015 cũng chỉ mới đề cập một cách chung chung vấn đề ngoại diên của vật chứng chứ chưa đề cập một cách cụ thể vấn đề nội hàm của vật chứng mà nội hàm khái niệm vật chứng phải đi từ nội hàm của khái niệm “vật” và ý nghĩa của nó trong TTHS.

Theo từ điển tiếng việt thì “vật” là “cái có hình khối và có thể nhận biết được”. Thông qua định nghĩa về vật ta có thể hiểu cái có hình khối, có kích thước (vật hình tròn, vuông, chữ nhật, có chiều dài, rộng, cao… và có trọng lượng) mà con người có thể nhận biết được thông qua các giác quan như mắt nhìn, tay sờ, cầm, nắm, xúc chạm; thông qua các giác quan đó chúng ta cảm giác được sức nặng, nhẹ; to, nhỏ…các sự vật hiện tượng mang tính hữu hình cụ thể đều thuộc khái niệm “vật” và có thể là vật chứng trong vụ án hình sự.

Chính vì vậy, khái niệm về vật chứng tại Điều 89 BLTTHS 2015 cần bổ sung thêm nội hàm của vật chứng cụ thể như sau:

Vật chứng là những vật được thu thập theo trình tự, thủ tục do PLTTHS quy định, chứa đựng các thông tin được xác định là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Vật chứng bao gồm: vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm dùng như tiền và các vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội.

a. Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội

Công cụ phạm tội là đối tượng vật chất mà người phạm tội sử dụng để tác động lên đối tượng, qua đó gây thiệt hại cho đối tượng bị tác động còn phương tiện phạm tội là dạng cụ thể của công cụ phạm tội.
Hiện nay, chưa có một văn bản mang tính pháp lý nào quy định loại tội phạm nào thì có công cụ, phương tiện phạm tội, loại tội phạm nào thì không; nhưng theo các sách báo pháp lý và thực tiễn tố tụng hình sự thì vấn đề công cụ, phương tiện phạm tội chỉ đặt ra đối với những tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý; còn đối với những tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý thì không có công cụ, phương tiện phạm tội, mà có chăng chỉ là “vật mang dấu vết tội phạm” hoặc “vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội”. Chẳng hạn như trong vụ án đua xe môtô trái phép thì chiếc xe môtô là phương tiện phạm tội, nhưng cũng với chiếc xe môtô đó, nếu vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thì được gọi là phương tiện gây tai nạn (thông dụng) và thuộc khái niệm “vật có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội” hoặc “vật mang dấu vết tội phạm”.

b. Vật mang dấu vết tội phạm

Dấu vết tội phạm là những phản ánh vật chất do tội phạm gây ra và được lưu giữ trên các đồ vật khác nhau. Dấu vết tội phạm có thể tồn tại ở các dạng thể: rắn, lỏng, khí, mùi vị, âm thanh, ánh sáng, từ trường, điện trường… Tuy nhiên, không phải bất kỳ hành vi phạm tội nào cũng đều gây ra dấu vết trên các vật thể khác nhau; có những “dấu vết” tuy nó tồn tại trong môi trường xung quanh nhưng chúng không thể để lại dấu vết trên các vật. Ví dụ như từ trường, điện trường, mùi vị, ánh sáng. Để thu được các dấu vết này thì phải sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật và sau đó được chuyển thành chứng cứ pháp lý thông qua các tài liệu khác. Ví dụ: máy đo nồng độ cồn trong máu người gây tai nạn giao thông, dụng cụ hút và lưu giữ mùi vị tại hiện trường vụ án, máy ghi âm ghi cường độ âm thanh, máy đo cường độ ánh sáng v.v … Tuy những máy móc này lưu giữ được các dấu vết tội phạm nhưng chúng ta cũng không thể coi là vật chứng được. Trong trường hợp này để bảo đảm kết quả thu lượm dấu vết tại hiện trường có giá trị chứng minh thì Cơ quan Điều tra phải chuyển hóa thành các chứng cứ thông qua các dạng biên bản như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ mẫu vật, biên bản xác minh, biên bản giám định; các loại biên bản này tuy có giá trị chứng minh nhưng cũng không được gọi là vật chứng.

Như vậy, vật mang dấu vết tội phạm chỉ bao gồm những vật hữu hình, cụ thể mà trên nó lưu lại được các dấu vết tội phạm mà chúng ta có thể quan sát, đánh giá, phân tích, kiểm tra. Ví dụ như con dao dính máu, vật mang vết trầy xước do sự va chạm với vật cứng khác; phương tiện gây tai nạn giao thông có dấu vết va chạm dính sơn; chiếc ly có dấu vân tay của người bị nghi thực hiện tội phạm v.v…

c. Vật là đối tượng của tội phạm

Đây là đồ vật, tài sản bị hành vi phạm tội tác động tới gây nên sự biến đổi tương đối về vị trí, hình dáng, kích thước, tính chất v.v …Ví dụ như: chiếc tivi trong vụ trộm cắp là đối tượng của hành vi trộm cắp; hàng cấm là đối tượng của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán hàng cấm; tài sản bị hư hỏng là đối tượng của hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; hàng hóa trong tội buôn lậu … Vật là đối tượng của tội phạm cũng có thể là vật mang dấu vết tội phạm; tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể và vai trò chứng minh của vật chứng đó để chúng ta xác định cho chính xác loại vật chứng. Ví dụ: do thù hằn cá nhân kẻ phạm tội vào nhà nạn nhân đập phá tài sản và bỏ trốn, trong đó có chiếc xe môtô và đã để lưu lại dấu vân tay trên yên xe; trong trường hợp này ta nên xác định chiếc xe mô-tô là vật mang dấu vết tội phạm là chính xác hơn là vật là đối tượng của tội phạm.

d. Tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội

– Tiền có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội
Tiền là một loại tài sản, là phương tiện thanh toán, tiền có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ; các loại kim khí quý, đá quý, ngân phiếu, cổ phiếu… tuy có giá trị thanh toán, trao đổi trên thị trường nhưng không thuộc khái niệm tiền thuộc khái niệm vật là phương tiện phạm tội, vật là đối tượng của tội phạm. Ví dụ: Vàng, bạc, đá quý, ngân phiếu, cổ phiếu, công trái dùng vào việc hối lộ thì thuộc khái niệm phương tiện phạm tội hoặc nếu dùng vào việc buôn lậu thì thuộc khái niệm vật là đối tượng của tội phạm.

Đối với tiền nếu đã được xác định là đối tượng của tội phạm, là công cụ, phương tiện phạm tội, thì tuy nó có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội nhưng không thuộc khái niệm này (tiền có giá trị chứmg minh tội phạm và người phạm tội). Ví dụ: tiền dùng đưa hối lộ là phương tiện phạm tội; tiền trộm cắp được là đối tượng của tội phạm; tiền dùng vào việc đánh bạc bị thu giữ tại chiếu bạc thì là tiền có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội; tiền bạc dùng để in ấn tài liệu phản động, mua ma túy; mua văn hóa phẩm đồi trụy; mua bán tiền giả … cũng là tiền có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội.

– Vật chứng là vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, ngoài những vật, tiền là vật chứng như đã nêu trên thì còn rất nhiều loại vật khác cũng liên quan đến vụ án và có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội và các tình tiết khác của vụ án, vì không thể mô tả hết được các trường hợp thực tế vào trong điều luật, cho nên nhà làm luật mà chỉ nêu lên một cách mang tính khái quát là: “vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

+ Vật chứng minh cho tội phạm và người phạm tội:  là vật qua đó chúng ta có thể rút ra được chứng cứ chứng minh có tình tiết này hay tình tiết khác thuộc bốn yếu tố Cấu thành tội phạm (mà không thuộc các trường hợp đã nêu trên). Ví dụ: chiếc áo của nạn nhân bị đâm thủng trong tội cố ý gây thương tích, xe môtô bị hư hỏng trong vụ tai nạn giao thông v.v…

Trong thực tiễn thì loại vật chứng này rất phong phú, đa dạng và nhiều, do vậy, tùy thuộc vào từng loại án, mối liên hệ giữa vật chứng và đối tượng chứng minh cũng như giá trị chứng minh của nó để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng cho phù hợp. Không nên thu thập và sử dụng quá nhiều vật chứng thuộc loại này gây nên sự trùng lặp, rối rắm trong quá trình đánh giá, sử dụng cũng như việc xử lý vật chứng. Vật chứng minh cho tội phạm bao gồm vật chứng minh cho cấu thành phần tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc cấu thành tội phạm giảm nhẹ cũng như các tình tiết khác có ý nghĩa tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Chúng ta không nên hiểu phiến diện là vật khác có giá trị chứng minh tội phạm chỉ bao gồm những vật chứng có giá trị chứng minh cho tình tiết tăng nặng không thôi. Ví dụ: Trong vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thì giấy phép lái xe chính là vật chứng để chứng minh cho việc người phạm tội có đủ điều kiện để lái xe (trường hợp buộc phải có giấy phép lái xe) và điều này đã loại trừ tình tiết tăng nặng định khung cho người phạm tội theo quy định của BLHS.

+ Vật khác có giá trị chứng minh người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án: 
Theo nghĩa rộng, thì khái niệm tội phạm đã bao hàm khái niệm người phạm tội, chính vì vậy, vật chứng là vật khác có giá trị chứng minh cho tội phạm đã bao hàm khái niệm vật chứng có giá trị chứng minh người phạm tội; tuy nhiên, để nhấn mạnh yếu tố chủ thể của tội phạm và gần với cách hiểu thông thường nên nhà làm luật đã tách cụm từ người phạm tội riêng độc lập với tội phạm.

Vật có giá trị chứng minh người phạm tội là những vật chứng minh cho tư cách chủ thể tội phạm của một người phạm tội, hay nói cách khác, những vật có giá trị xác định đúng một người nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội cũng như những đặc điểm khác thuộc nhân thân người đó. Ví dụ: chiếc dép của người phạm tội (xác minh được) thu được tại hiện trường vụ giết người, dấu vân tay thu được tại hiện trường (trên chiếc cốc) của vụ trộm cắp tài sản do người phạm tội để lại (xác minh được) v.v…

Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp 

Phương pháp thỏa thuận trong Luật lao động là gì?

Thỏa thuận trong Luật lao động là phương pháp điều chỉnh quan trọng của luật LĐ trong nền kinh tế thị trường phương pháp này được sử dụng trong việc thiết lập quan hệ LĐ (Giao kết hợp đồng lao động, chấm dứt HĐLĐ, phương pháp này được sử dụng khi ký kết thỏa ước LĐ tập thể, giải quyết tranh chấp lao động …
 

Phương pháp thỏa thuận trong Luật lao động

Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong trường hợp xác lập quan hệ lao động giữa người lao độngvới người sử dụng lao động, và trong việc xác lập thỏa ước lao động tập thể. Xuất phát từ bản chấtcủa quan hệ lao động là tự do thương lượng, nên khi tham gia vào quan hệ lao động các bên cùng nhau thỏa thuận các vấn đề liên quan trong quá trình lao động trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm đảm bảo cho hai bên cùng có lợi và tạo điều kiện để các bên thực hiện tốt các nghĩa vụ của mình.

Sự khác nhau giữa phương pháp thỏa thuận trong Luật lao động với phương pháp thỏa thuận trong Luật dân sự

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, phương pháp thỏa thuận trong Luật lao động khác với phương pháp thỏa thuận trong Luật dân sự.
Trong Luật dân sự, các chủ thể tham gia quan hệ xã hội do Luật dân sự điều chỉnh bình đẳng và độc lập với nhau về địa vị kinh tế. Chính vì vậy mà phương pháp thỏa thuận trong Luật dân sự được sử dụng triệt để, chúng tác động lên các quan hệ dân sự trong suốt quá trình từ khi xác lập đến khi chấm dứt. Ngược lại, trong Luật lao động các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động không bình đẳng về địa vị, không độc lập với nhau về tổ chức. Chính vì vậy, để điều hòa mối quan hệ này, Nhà nước bằng pháp luật đã đặt ra những quy định nhằm bảo vệ người lao động, nâng cao vị trí của người lao động để họ bình đẳng với người sử dụng lao động.
Bởi vậy, phương pháp thỏa thuận trong Luật lao động tuy là tự do, thương lượng, tự nguyện thỏa thuận, các chủ thể thực hiện quyền tự định đoạt của mình trong khuôn khổ pháp luật, nhưng lao động luôn có yếu tố quản lý.

Ðặc điểm của quản lý hành chính Nhà nước

Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động vừa mang tính chấp hành, vừa mang tính điều hành.

– Các cơ quan hành chính Nhà nước thực thi quyền hành pháp, không có quyền lập pháp và tư pháp nhưng góp phần quan trọng vào qui trình lập pháp và tư pháp. Tính chấp hành của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước được thể hiện ở sự thực hiện trên thực tế các văn bản hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết của cơ quan lập pháp- cơ quan dân cử.
– Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước thể hiện ở chổ là để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện trên thực tế thì các chủ thể của quản lý hành chính Nhà nước phải tiến hành các hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền.
– Ðể đảm bảo sự thống nhất của hai yếu tố này đòi hỏi rất nhiều yêu cầu. Trong đó, quản lý hành chính Nhà nước trước hết phải bảo đảm việc chấp hành văn bản của cơ quan dân cử đaị diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, từ đó mà thực hiện quản lý điều hành. Mọi hoạt động chấp hành và điều hành đều phải xuất phát từ mục đích nhằm phục vụ cho nhân dân, đảm bảo đời sống xã hội cho nhân dân về mọi mặt, tương ứng với các lĩnh vực trong quản lý hành chính Nhà nước.

Hoạt động quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động mang tính chủ động và sáng tạo.

Ðiều này thể hiện ở việc các chủ thể quản lý hành chính căn cứ vào tình hình, đặc điểm của từng đối tượng quản lý để đề ra các biện pháp quản lý thích hợp. Tính chủ động sáng tạo còn thể hiện rõ nét trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính để điều chỉnh các hoạt động quản lý Nhà nước. Tính chủ động sáng tạo được quy định bởi chính bản thân sự phức tạp, đa dạng, phong phú của đối tượng quản lý và đòi hỏi các chủ thể quản lý phải áp dụng biện pháp giải quyết mọi tình huống phát sinh một cách có hiệu quả nhất. Tuy nhiên, chủ động và sáng tạo không vượt ra ngoài phạm vi của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật Nhà nước. Ðể đạt được điều này, đòi hỏi tôn trọng triệt để tất cả các nguyên tắc trong hệ thống các nguyên tắc quản lý hành chính Nhà nước.

Hoạt động quản lý hành chính Nhà nước được bảo đảm về phương diện tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước.

– Trước hết là bộ máy cơ quan Nhà nước – đây là hệ thống cơ quan nhiều về số lượng, biên chế; phức tạp về cơ cấu tổ chức; đa dạng về chức năng, nhiệm vụ cũng như phương pháp hoạt động; có cơ sở vật chất to lớn, có đối tượng quản lý đông đảo, đa dạng, chủ thể chủ yếu là cơ quan hành chính Nhà nước, đó là điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ quản lý. Các cơ quan hành chính trực tiếp xử lý công việc hàng ngày của Nhà nước, thường xuyên tiếp xúc với dân, giải quyết các yêu cầu của dân, là cầu nối quan trọng của Ðảng, Nhà nước với nhân dân. Nhân dân đánh giá chế độ, đánh giá Ðảng trước hết thông qua hoạt động của bộ máy hành chính.
– Bảo đảm tính liên tục và ổn định trong hoạt động quản lý. Liên tục để tránh lối làm việc hô hào, theo phong trào. Tính ổn định nhằm để đảm bảo các hoạt động như: lưu trữ hồ sơ, giấy tờ. Ðó có thể nói là trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước đối với xã hội.

Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động có mục tiêu chiến lược, có chương trình và có kế hoạch để thực hiên mục tiêu.

Công tác quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động có mục đích và định hướng. Vì vậy, phải có chương trình, kế họach dài hạn, trung hạn và hàng năm. Có các chỉ tiêu vừa mang tính định hướng, vừa mang tính pháp lệnh; có hệ thống pháp luật vừa được áp dụng thực thi triệt để cho hoạt động quản lý, vừa tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đặt dưới sự quản lý ấy.

Quản lý hành chính Nhà nước XHCN không có sự cách biệt tuyệt đối về mặt xã hội giữa chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý (chủ thể chịu sự quản lý).

Cán bộ quản lý Nhà nước phải là “công bộc” của nhân dân, biết lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân, thu hút được rộng rãi quần chúng nhân dân tham gia vào việc quản lý Nhà nước và xã hội. Chống quan liêu, cửa quyền, hách dịch, ức hiếp quần chúng.

Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao.

Ðó chính là nghiệp vụ của một nền hành chính văn minh, hiện đại. Khi nói đến một “nền kinh tế tri thức”- nền kinh tế mà ở đó giá trị của tri thức, của sự hiểu biết được đặt lên hàng đầu-thì đội ngũ quản lý nền kinh tế tri thức ấy phải có một tầm vóc tương xứng. Quản lý Nhà nước khác với hoạt động chính trị ở chổ: trình độ kiến thức chuyên môn và kỹ năng quản lý thực tiễn làm tiêu chuẩn hàng đầu.

Tính không vụ lợi:

Quản lý hành chính Nhà nước lấy việc phục vụ lợi ích công làmđộng cơ và mục đích của hoạt động. Quản lý hành chính Nhà nước không phải vì lợi ích thù lao, càng không theo đuổi mục đích kinh doanh lợi nhuận. Cán bộ hành chính vì vậy phải bảo đảm “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”.

Phân biệt cán bộ, công chức, viên chức

Phân biệt cán bộ, công chức, viên chức
 

Khái niệm Cán bộ Công chức Viên chức
Tiêu chí cơ bản
Tính chất – Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý; nhân danh quyền lực chính trị, quyền lực công.– Theo nhiệm kỳ. – Vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý.– Thực hiện công vụ thường xuyên – Thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện kỹ năng, nghiệp vụ chuyên sâu.– Thực hiện các hoạt động thuần túy mang tính nghiệp vụ, chuyên môn.
Nguồn gốc, trách nhiệmpháp lý – Được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, trong biên chế.– Trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước, nhân dân và trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.  – Thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong biên chế.– Trách nhiệm chính trị, trách nhiệm hành chính của công chức – Xét tuyển, ký hợp đồnglàm việc.– Trách nhiệm trước cơ quan, người đứng đầu tổ chức, cơ quan xét tuyển, ký hợp đồng.
Chế độ lương  Hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo vị trí, chức danh. Hưởng lương từ ngân sách nhà nước, theo ngạch bậc. Lương hưởng một phần từ ngân sách, còn lại là nguồn thu sự nghiệp.
Nơi làm việc Cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội. Cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức CT-XH, Quân đội, Công an, Toà án, Viện kiểm sát. Đơn vị sự nghiệp nhà nước, các tổ chức xã hội.
Tiêu chíđánh giá -Năng lực lãnh đạo, điều  hành, tổ chức, quản lý;– Tinh thần trách nhiệm;
– Hiệu quả thực hiện nhiệm vụ
-Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ;– Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ;
– Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực thi nhiệm vụ;
– Thái độ phục vụ nhân dân.
-Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ;– Hiệu quả công việc (số lượng, chất lượng).
– Thái độ phục vụ nhân dân.
Hình thứckỷ luật – Khiển trách;– Cảnh cáo;
– Cách chức;
– Bãi nhiệm.
– Khiển trách;– Cảnh cáo;
– Hạ bậc lương;
– Giáng chức;
– Cách chức;
– Buộc thôi việc.
– Khiển trách;– Cảnh cáo;
– Cách chức;
– Buộc thôi việc.