Phân loại quan hệ pháp luật dân sự

Quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng và phong phú, đa dạng cả về chủ thể, khách thể, nội dung, cách thức phát sinh…Việc phân loại này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt thực tiễn vì nó góp phần hiểu đúng về quan hệ giữa các bên và áp dụng đúng pháp luật nhằm giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra.
 

Căn cứ vào khách thể của quan hệ pháp luật dân sự

Căn cứ vào khách thể của quan hệ pháp luật dân sự (nhóm điều chỉnh của quan hệ pháp luật dân sự)có thể chia quan hệ pháp luật dân sự thành hai loại:

– Quan hệ nhân thân:

Quan hệ nhân thân là các quan hệ dân sự liên quan đến các vấn đề nhân thân và về nguyên tắc không thể dịch chuyển cho người khác trừ trường hợp pháp luật cho phép. Ví dụ: đứng tên tác giả trong một tác phẩm, quyền đối với danh dự, nhân phẩm, tên gọi….

– Quan hệ tài sản:

Quan hệ tài sản là quan hệ pháp luật dân sự luôn gắn với một tài sản nhất định hoặc việc chuyển dịch một tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác. Ví dụ như quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng hay quan hệ thừa kế
Do đặc trưng của hai loại quan hệ này nên các biện pháp được áp dụng để bảo vệ các quan hệ pháp luật khi có sự vi phạm cũng khác nhau. Khi quan hệ pháp luật dân sự về tài sản bị xâm phạm thì đòi hỏi áp dụng các chế tài mang tính chất tài sản để bảo vệ quyền tài sản của người bị xâm phạm. Khi quan hệ pháp luật dân sự về nhân thân bị xâm phạm thì chế tài không mang tính chất tài sản mà thường áp dụng các hình thức như buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai…

Căn cứ vào tính xác định của chủ thể quyền và chủ thể nghĩa vụ

Dựa vào tiêu chí này, quan hệ pháp luật dân sự được chia thành hai loại:

– Quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối:

Trong quan hệ này, chủ thể quyền được xác định, còn các chủ `thể khác đều là chủ thể nghĩa vụ. Nghĩa vụ của các chủ thể nghĩa vụ được biểu hiện là dạng nghĩa vụ không hành động (tức là không thực hiện bất cứ hoạt động nào xâm phạm tới quyền của chủ thể quyền). Thông thường, các loại quyền tuyệt đối được pháp luật ghi nhận mà không phải do các bên thỏa thuận.

– Quan hệ pháp luật dân sự tương đối:

Quan hệ pháp luật dân sự tương đối là quan hệ pháp luật xác định cả chủ thể quyền và nghĩa vụ. Trong loại quan hệ này, nội dung quyền và nghĩa vụ thông thường do các bên thỏa thuận dựa trên các quy định của pháp luật. Nội dung các thỏa thuận này các nhà làm luật không thể quy định chi tiết mà chỉ đưa ra các quy định khung để các chủ thể dựa trên đó thỏa thuận.

Căn cứ vào cách thức thực hiện quyền dân sự

Để thỏa mãn quyền của mình, chủ thể quan hệ pháp luật dân sự có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau, có thể trực tiếp thực hiện quyền, có thể thực hiện quyền thông qua hành vi của chủ thể khác. Dựa trên cơ sở này, quan hệ pháp luật dân sự được phân thành 2 loại:

– Quan hệ pháp luật dân sự vật quyền:

Đây là quan hệ dân sự mà trong đó quyền của chủ thể bên này được thực hiện thông qua hành vi trực tiếp của chủ thể mang quyền. Ví dụ: chủ sở hữu muốn thỏa mãn quyền của mình sẽ thực hiện hành vi chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản.

– Quan hệ pháp luật dân sự trái quyền:

Quan hệ dân sự trái quyền là những quan hệ mà trong đó quyền của chủ thể bên này có được thực hiện hay không hoàn toàn thông qua hành vi mang tính nghĩa vụ của chủ thể bên kia. Ví dụ như: hành vi trả tiền của bên mua đối với bên bán trong quan hệ mua bán thực hiện quyền được nhận khoản tiền mua bán hàng hóa của người bán.

Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của luật thi hành án dân sự Việt Nam

Đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự Việt Nam

Đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự Việt Nam là các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, đương sự, cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến việc thi hành án dân sự phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự.
Một số đặc trưng cơ bản:
– Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự, từ khi đương sự thực hiện quyền yêu cầu thi hành án dân sự đến khi kết thúc thi hành án.
– Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự có tác dụng trực tiếp đối với việc thi hành bản ánquyết định được đưa ra thi hành.
– Một bên chủ thể thuộc đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự còn bên kia là đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác.
Đối tượng điều chỉnh của luật thi hành án dân sự có thể chia thành 3 nhóm:
– Nhóm 1: Các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các đương sự.
– Nhóm 2: các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cá nhân, cơ quan và tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân sự.
– Nhóm 3: các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với toà án, trọng tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và viện kiểm sát.
Trong các nhóm đối tượng trên thì nhóm quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các đương sự mang tính phổ biến, bởi đương sự là người có quyền hoặc nghĩa vụ thi hành án dân sự còn cơ quan thi hành án dân sự có nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức thi hành án dân sự. Để đảm bảo việc thi hành án dân sự nhanh chóng, đúng đắn, boả vệ được lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước hết pháp luật phải điều chỉnh quan hệ này.

Phương pháp điều chỉnh của Luật thi hành án dân sự Việt Nam

Phương pháp điều chỉnh của Luật thi hành án dân sự Việt Nam là tổng thể những cách thức mà luật thi hành án dân sự tác động lên các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của nó.
Luật thi hành án dân sự Việt Nam điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự bằng hai phương pháp là mệnh lệnh và định đoạt.
– Phương pháp mệnh lệnh: Nó quy định địa vị pháp lý cho các cơ quan thi hành án dân sự hoàn toàn khác với địa vị pháp lý của các chủ thể khác. Các chủ thể khác phải phục tùng cơ quan thi hành án dân sự. Quyết định của cơ quan thi hành án dân sự đưa ra trong quá trình thi hành án buộc các chủ thể phải thực hiện hoặc bị cưỡng chế thực hiện. Nếu không có sự can thiệp của cơ quan thi hành án thì nhiều trường hợp việc thi hành án dân sự không thể thực hiện được.
Ngoài ra để các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình thì các cơ quan này phải có những quyền lực pháp lý nhất định với các chủ thể khác, từ đó họ mới có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án.
– Phương pháp định đoạt: Trong quá trình thi hành án dân sự các đương sự vẫn được quyền tự quyết định quyền, lợi ích hợp pháp của họ và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Khi bản án, quyết định dân sự được thi hành, các đương sự có quyền tự quyết định việc thi hành án dân sự như yêu cầu đương sự bên kia hoặc cơ quan thi hành án thi hành.
Trong quá trình thi hành án dân sự, các đương sự vẫn có thể thương lượng, thoả thuận việc thi hành án, tự thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án nữa.

Phương pháp điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu

Trình bày phương pháp điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu.
 
Mục mục: (Nhấn vào từng mục để chuyển nhanh đến phần nội dung)
1. Đặc điểm hình sự và những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu.
1.1. Đặc điểm hình sự các tội phạm xâm phạm sở hữu.

1.1.1. Đặc điểm về đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu.

1.1.2. Thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm:

1.1.3. Địa điểm và thời gian gây án:

1.1.4. Những dấu vết phổ biến của vụ án xâm phạm sở hữu

1.1.5. Những công cụ, phương tiện và vũ khí mà bọn tội phạm xâm phạm sở hữu thường sử dụng khi gây án:

1.1.6. Đặc điểm nhân thân người bị hại

1.2. Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu.

  • Một là: Có vụ xâm phạm sở hữu xảy ra hay không?
  • Hai là: Thời gian và địa điểm xảy ra.
  • Ba là: Thủ đoạn gây án.
  • Bốn là: Công cụ, phương tiện thủ phạm sử dụng để thực hiện tội phạm.
  • Năm là: Những tài sản bị chiếm đoạt.
  • Sáu là: Người bị hại trong vụ án xâm phạm sở hữu.
  • Bảy là: Người thực hiện hành vi phạm tội
  • Tám là: Động cơ và mục đích phạm tội.
  • Chín là: Chứng minh làm rõ những tình tiết tăng nặng, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm.

2. Tiến hành hoạt động điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu.
2.1. Giai đoạn điều tra ban đầu

2.1.1. Tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm.

2.1.2. Khởi tố vụ án hình sự.

2.1.3. Tiến hành những biện pháp cấp bách để truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng.

2.1.4. Lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng.

2.1.5. Khám nghiệm hiện trường.

2.1.6. Tập hợp tài liệu ban đầu, lập kế hoạch điều tra.

2.1.7. Tiến hành những biện pháp điều tra và những biện pháp trinh sát hỗ trợ để làm rõ đối tượng gây án.

2.1.8. Khởi tố bị can

2.2. Giai đoạn điều tra tiếp theo nhằm chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.

2.2.1. Bắt, khám xét.

2.2.2. Hỏi cung bị can.

2.2.3. Trưng cầu giám định chuyên môn.

2.2.4. Thực nghiệm điều tra.

2.3. Giai đoạn kết thúc điều tra.
 

1. Đặc điểm hình sự và những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu.

1.1. Đặc điểm hình sự các tội phạm xâm phạm sở hữu.

Ngoài những đặc điểm chung giống các loại tội phạm khác, tội phạm xâm phạm sở hữu còn có những đặc điểm riêng sau đây:

1.1.1. Đặc điểm về đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu.

– Phần lớn đối tượng của những vụ án xâm phạm sở hữu là nam giới, có nhiều tiền án, tiền sự, một số bị can không có nơi cư trú nhất định.
– Thường là những đối tượng côn đồ, lưu manh, hung hãn, có quan hệ gia đình và xã hội phức tạp;
– Đặc điểm tâm lý: Đa số các đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu có những hành vi liều lĩnh, đặc biệt là đối tượng phạm tội cướp tài sản có hành vi tàn bạo, coi thường tính mạng người khác. Khi thực hiện tội phạm thế hiện tính liều lĩnh cao độ, quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng, bằng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản của nạn nhân.
– Đặc biệt, đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu thường tham gia vào các hoạt động tệ nạn như nghiện ma tuý, cờ bạc, bảo kê gái mại dâm, các nhà hàng, tiệm nhảy…

1.1.2. Thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm:

*Giai đoạn chuẩn bị gây án:
Nội dung của giai đoạn chuẩn bị gây án bao gồm:
– Lựa chọn mục tiêu để thực hiện tội phạm:
+ Đối với những vụ cướp, cướp giật, cưỡng đoạt tài sản bọn chúng thường đi trên đường, đến các nhà ga, bến xe, đón phục ở các đoạn đường vắng để lựa chọn những người có nhiều tài sản để cướp, cướp giật, cưỡng đoạt.
+ Đối với những vụ xảy ra trong nhà, bọn tội phạm thường nhằm vào những gia đình giàu có, các chủ tiệm vàng… sau đó chúng điều tra quy luật sinh hoạt, làm ăn, buôn bán của chủ nhà, tìm hiểu những nơi cất các tài sản để thực hiện hành vi cướp, cướp giật, cưỡng đoạt, trộm cắp…
+ Đối với những vụ xảy ra ở các kho hàng, kho bạc, ngân hàng thì bọn chúng nghiên cứu kỹ giá trị của các loại tài sản đó, chế độ bảo vệ, đặc điểm địa hình xung quanh khu vực kho hàng, ngân hàng, kho bạc để thực hiện hành vi chiếm đoạt.
– Chuẩn bị vũ khí, công cụ phương tiện cần thiết để gây án. Mua sắm vũ khí, phương tiện đi lại, bình xịt hơi cay, kìm cộng lực, chìa khoá vạn năng…
* Giai đoạn gây án:
– Tiếp cận mục tiêu tấn công bằng các thủ đoạn như bí mật đột nhập, giả danh người mua hàng; giả danh cán bộ Công an, cán bộ kiểm tra điện nước; giả danh cán bộ đưa thư từ, bưu phẩm; giả làm khách hỏi thăm đường… để tiếp cận.
– Sau khi tiếp cận mục tiêu, chúng thường nhanh chóng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Nếu gặp sự cản trở, chúng tháo chạy, hoặc chủ động tấn công chống trả để chiếm đoạt tài sản hoặc bỏ chạy.
* Giai đoạn sau khi gây án:
– Nhanh chóng rút khỏi hiện trường
– Nhiều trường hợp khi bị truy đuổi bọn tội phạm sử dụng vũ khí chống trả
– Nhanh chóng cất giấu, tiêu thụ các tài sản đã chiếm đoạt được.

1.1.3. Địa điểm và thời gian gây án:

– Địa điểm gây án thường lựa chọn là những nơi có đặc điểm địa hình thuận lợi cho việc xuất hiện, gây án và rút khỏi hiện trường sau khi gây án.
– Thời gian gây án: thường tập trung chủ yếu trong khoảng từ 17h – 23h

1.1.4. Những dấu vết phổ biến của vụ án xâm phạm sở hữu

– Dấu vết chân, dấu vết giày, dép, dấu vết vân tay của thủ phạm,
– Dấu vết công cụ, phương tiện gây án, dấu vết súng đạn, dấu vết nguồn hơi, dấu vết lục soát tài sản,
– Dấu vết sinh vật như máu, lông, tóc… trong các vụ cướp, cướp giật, trộm cắp tài sản;
– Các loại dấu vết khác như: dấu vết đổ vỡ, thay đổi đồ vật tại hiện trường, dấu vết cỏ, cây bị dập nát…
– Trường hợp nạn nhân của vụ xâm phạm sở hữu bị thương hoặc bị giết mà trước đó có sự vật lộn, giằng co, chống cự lại thủ phạm thì trên cơ thể của nạn nhân và thủ phạm có thể để lại các dấu vết bầm tím, cào cắn, bông, vải, sợi, máu, lông, tóc…
– Ngoài ra, trên đường đến hoặc rút chạy khỏi hiện trường của vụ án còn có thể có các loại vũ khí như súng, dao, lựu đạn, dây trói; nhữ ng đồ vật, phương tiện… do thủ phạm vứt lại hoặc đánh rơi.

1.1.5. Những công cụ, phương tiện và vũ khí mà bọn tội phạm xâm phạm sở hữu thường sử dụng khi gây án:

Súng, lựu đạn, dao găm, lưỡi lê, kiếm, mã tấu, búa, rìu, gậy gỗ, thanh sắt, côn gỗ, hộp xịt hơi cay, thuốc ngủ, thuốc mê, kìm cộng lực, chìa khoá vạn năng, dây trói, mũ che mặt, găng tay cao su, các loại phương tiện giao thông như xe máy, xe đạp, ô tô và các phương tiện thông tin liên lạc như điện thoại di động
Việc quyết định sử dụng loại công cụ, vũ khí gây án nào phụ thuộc vào thói quen, sở trường của đối tượng gây án hoặc nhóm đối tượng gây án cũng như mục tiêu, địa điểm… mà chúng dự định và lựa chọn để thực hiện tội phạm.

1.1.6. Đặc điểm nhân thân người bị hại

Trong các vụ án xâm phạm sở hữu người bị hại là người bị xâm phạm trực tiếp về tài sản, đối với tội phạm cướp, cưỡng đoạt tài sản, người bị hại bị đe doạ về tinh thần nên họ thường rơi vào tình trạng tinh thần bị hoảng loạn, sợ hãi; trong một số trường hợp họ còn bị đau đớn về thể xác do hành vi sử dụng vũ lực của người phạm tội. Do vậy, đa số người bị hại đều căm ghét người phạm tội, tích cực cộng tác với cơ quan điều tra trong việc cung cấp những thông tin phản ánh về tội phạm, mong muốn cơ quan điều tra nhanh chóng tìm ra thủ phạm và tài sản bị chiếm đoạt.
Song bên cạnh đó, cũng có một số ít người bị hại vì những nguyên nhân khác nhau như sợ lộ bí mật đời tư, sợ lộ những hành vi phạm tội trước đó của chính người bị hại như: buôn lậu, tham ô… nên thường có hành vi cản trở hoạt động điều tra; không tích cực cộng tác với cơ quan điều tra.

1.2. Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu.

Căn cứ vào các Điều từ 133 đến 145 Bộ luật Hình sự và Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong quá trình điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu cần chứng minh những vấn đề cơ bản sau:
Một là: Có vụ xâm phạm sở hữu xảy ra hay không?
Để chứng minh làm rõ vấn đề này cần tiến hành khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người bị hại, lấy lời khai những người làm chứng… để thu thập tài liệu chứng cứ làm rõ hành vi chiếm đoạt tài sản, vũ khí, công cụ phương tiện mà thủ phạm đã sử dụng khi thực hiện tội phạm, thiệt hại do tội phạm gây ra.
Hai là: Thời gian và địa điểm xảy ra
Vấn đề thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm xâm phạm sở hữu cần được làm rõ, vì đây là cơ sở để tiến hành những biện pháp điều tra ban đầu, truy bắt người phạm tội theo dấu vết nóng, xác định phạm vi đối tượng gây án, những người làm chứng về vụ án. Để làm rõ thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm xâm phạm sở hữu cần tiến hành các biện pháp khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, hỏi cung bị can.
Ba là: Thủ đoạn gây án.
Những tài liệu về thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm có thể thu thập được trong quá trình khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người bị hại, hỏi cung bị
can…
Bốn là: Công cụ, phương tiện thủ phạm sử dụng để thực hiện tội phạm.
Trong quá trình điều tra cần làm rõ được đặc điểm, chủng loại, nguồn gốc của những công cụ, phương tiện và vũ khí mà thủ phạm sử dụng khi gây án. Để thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh làm rõ vấn đề này và phát hiện thu giữ cần tiến hành các biện pháp khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, trưng cầu giám định…
Năm là: Những tài sản bị chiếm đoạt.
Chứng minh làm rõ số lượng, chủng loại, giá trị, đặc điểm, nguồn gốc của những tài sản bị chiếm đoạt là căn cứ để xác định có tội phạm xâm phạm sở hữu xảy ra hay không, mức độ thiệt hại và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Những tài liệu phản ánh về những tài sản bị chiếm đoạt có thể thu thập được thông qua các biện pháp lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, khám xét, hỏi cung bị
can…
Sáu là: Người bị hại trong vụ án xâm phạm sở hữu.
Trong quá trình điều tra cần chứng minh làm rõ người bị hại là ai, trường hợp người bị hại bị thương thì phải làm rõ đặc tính, mức độ thương tích và mối liên hệ nhân quả giữa vết thương tích với hành vi dùng vũ lực của người phạm tội bằng cách trưng cầu giám định. Đặc tính và mức độ thương tích là cơ sở để cá thể hoá hành vi phạm tội, mức độ hình phạt cũng như xác định mức độ bồi thường thiệt hại do hành vi tội phạm gây ra.
Bảy là: Người thực hiện hành vi phạm tội
Trong quá trình điều tra cần chứng minh làm rõ những ai là người thực hiện hành vi phạm tội? Họ tên tuổi, địa chỉ của các bị can phạm tội xâm phạm sở hữu, khi thực hiện hành vi phạm tội có đồng phạm hay không? Nếu có đồng phạm cần chứng minh làm rõ vai trò, vị trí của từng bị can trong vụ án. Đặc biệt chú ý làm rõ đặc điểm nhân thân của từng bị can trong vụ án. Khi đánh giá vai trò vị trí của từng bị can trong vụ án cần căn cứ vào nội dung của sự bàn bạc, thoả thuận và hành vi cụ thể của từng bị can trong quá trình gây án. Nếu băng, ổ nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu hoạt động đã lâu thì phải làm rõ được từng giai đoạn hoạt động của băng, ổ nhóm, tất cả những vụ án do băng, ổ nhóm tội phạm gây ra và vai trò của từng đối tượng trong từng vụ án.
Tám là: Động cơ và mục đích phạm tội.
Động cơ và mục đích phạm tội xâm phạm sở hữu được phản ánh chủ yếu ở động cơ tư lợi và mục đích chiếm đoạt tài sản, bên cạnh đó cũng có động cơ huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Để làm rõ vấn đề này cần phải đánh giá đặc điểm hành vi phạm tội, quan hệ của thủ phạm với người bị hại, đặc điểm nhân thân của thủ phạm và giá trị của tài sản mà thủ phạm định chiếm đoạt hay đã chiếm đoạt, định huỷ hoại hoặc làm hư hỏng hay đã huỷ hoại hoặc làm hư hỏng.
Chín là: Chứng minh làm rõ những tình tiết tăng nặng, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm.
Nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện những vấn đề cần chứng minh nêu trên trong từng vụ án sẽ định hướng cho Điều tra viên thực hiện yêu cầu của pháp luật, đó là chứng minh làm rõ sự thật của từng vụ án cụ thể một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Tuy vậy, những vấn đề cần phải chứng minh trong điều tra tội phạm xâm phạm sở hữu nêu trên chưa phải đã hết. Mức độ cụ thể hoá những vấn đề cần chứng minh này phụ thuộc vào từng điều kiện cụ thể và từng tội danh trong nhóm các tội phạm xâm phạm sở hữu được quy định trong Bộ luật Hình sự.

2. Tiến hành hoạt động điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu.

2.1. Giai đoạn điều tra ban đầu

2.1.1. Tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm.

Khi tiếp nhận, Điều tra viên cần phải ghi lại nội dung vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đặc biệt chú ý hỏi để làm rõ 6 nội dung chính:
– Vụ việc đó là vụ việc gì?
– Tại sao xảy ra, tại sao họ biết được; thời gian xảy ra;
– Những ai biết được vụ việc đó, họ tên tuổi địa chỉ và số điện thoại của họ và khi cần thì có thể gặp họ ở đâu;
– Diễn biến của vụ việc đó;
– Địa điểm xảy ra vụ việc.
– Kiểm tra tố giác, tin báo và tiến hành một số biện pháp cấp bách.
Sau khi nhận tin và kiểm tra tin, Điều tra viên gọi điện thoại hoặc bằng các hình thức thích hợp khác đề nghị Công an phường, xã, quận, nhanh chóng tiến hành những biện pháp cấp bách sau:
– Bảo vệ hiện trường và các dấu vết tại hiện trường;
– Ngăn chặn hậu quả của vụ phạm tội nếu nó còn tiếp diễn;
– Giúp đỡ, cấp cứu nạn nhân nếu tính mạng của họ bị đe doạ (đối với những vụ cướp, cướp giật tài sản);
– Sơ vấn nạn nhân, đặc biệt là những nạn nhân bị thương nặng nếu có;
– Truy tìm phát hiện người làm chứng của vụ án;
– Truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng;
– Sơ vấn đối tượng gây án nếu bị bắt giữ tại hiện trường.

2.1.2. Khởi tố vụ án hình sự.

Sau khi hoàn thành những công việc nêu trên, Điều tra viên báo cáo toàn bộ kết quả kiểm tra tố giác, tin báo và những biện pháp đã tiến hành lên thủ trưởng cơ quan điều tra, nếu có đủ cơ sở thì đề nghị khởi tố vụ án, tiến hành điều tra chứng minh sự thật của vụ án.

2.1.3. Tiến hành những biện pháp cấp bách để truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng.

Điều tra viên có thể sử dụng những biện pháp sau đây:
– Kiểm tra người và phương tiện giao thông đi ra từ khu vực hiện trường.
– Dựa vào đặc điểm nhân dạng của thủ phạm, đặc điểm của những công cụ, phương tiện và đồ vật, tài sản thủ phạm đem theo khi chạy trốn; gọi điện ngay cho các đơn vị Công an ở những tuyến đường, những địa bàn mà thủ phạm có thể chạy tới, yêu cầu phối hợp và tổ chức truy lùng, bắt giữ thủ phạm.
– Nhanh chóng sử dụng chó nghiệp vụ truy lùng và bắt giữ thủ phạm theo dấu vết nguồn hơi.
– Huy động các lực lượng như, Cảnh sát giao thông, Cảnh sát 113… Để đảm bảo phát hiện kịp thời, chính xác và bắt giữ an toàn thủ phạm cần có sự tham gia của người bị hại, người biết đặc điểm nhận dạng thủ phạm trong quá trình truy lùng.
– Kiểm tra những cơ sở điều trị của các cơ quan y tế và tư nhân nếu thủ phạm bị thương nặng khi gây án hoặc khi đuổi bắt.
– Nếu thủ phạm đã rõ thì khẩn trương tiến hành kiểm tra nơi ở, nơi làm việc, và tất cả các mối quan hệ của thủ phạm. Bố trí lực lượng mai phục ở những địa điểm này để kịp thời phát hiện và bắt giữ khi thủ phạm xuất hiện.

2.1.4. Lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng.

Đối với các vụ phạm tội như cướp, cướp giật, cưỡng đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… thì người bị hại theo dõi được hành vi gây án của thủ phạm, nhớ được những đặc điểm bên ngoài; giọng nói; thói quen của chúng, đặc điểm của những công cụ, phương tiện và vũ khí mà chúng sử dụng khi gây án, tài sản bị chiếm đoạt…
Đối với những vụ trộm cắp thì thường người bị hại có thể cung cấp những thông tin về số lượng, đặc điểm của các loại tài sản bị mất. Vị trí, nơi cất giữ các loại tài sản, những ai biết được việc họ có các tài sản đó, cũng như những thông tin về việc họ có thể nghi cho ai lấy trộm các tài sản đó…

2.1.5. Khám nghiệm hiện trường.

– Ở hiện trường những vụ án cướp, cướp giật Điều tra viên phải tập trung lực lượng, phương tiện, kiên trì, tỷ mỷ tìm hiểu dấu vết, vũ khí và đồ vật do thủ phạm bỏ lại. – Đối với hiện trường ở trên đường và ở chỗ đất trống: Sau khi quan sát hiện trường, việc tìm kiếm dấu vết thường được bắt đầu từ điểm đến hiện trường và kết thúc ở điểm rút khỏi hiện trường của thủ phạm. Nếu tìm thấy địa điểm phục kích của thủ phạm thì phải xem xét thật tỷ mỷ để phát hiện dấu vết chân, giày, dép của thủ phạm ở chỗ đất mềm, những giấy tờ, mẩu thuốc lá do thủ phạm để lại.
– Đối với hiện trường ở trong nhà: Trước khi khám nghiệm hiện trường cần phải tìm nơi mai phục của thủ phạm, có thể tìm thấy dấu vết chân, dấu vết giày, dép, phương tiện giao thông. Trước khi khám nghiệm trong nhà, cần đề nghị người bị hại, chủ nhà đại diện chủ nhà xem xét và xác định những nơi thủ phạm lục soát, tìm kiếm tài sản… Sau đó, tuỳ theo đặc điểm của từng căn nhà có thể tiến hành tìm kiếm dấu vết theo chiều vận động của thủ phạm phạm hay theo ô. Tất cả những đồ vật mà thủ phạm lục soát hoặc chạm tay vào đều phải nghiên cứu kỹ lưỡng. Khi nghiên cứu cần chú ý phát hiện dấu vết cạy phá, dấu vết vân tay ở trên bề mặt của các đồ vật như hòm, tủ, va ly, túi xách, gương soi… Nếu khi gây án, thủ phạm dùng súng thì phải tập trung lực lượng tìm đầu đạn, vỏ đạn.

2.1.6. Tập hợp tài liệu ban đầu, lập kế hoạch điều tra.

Sau khi kết thúc khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải khẩn trương tập hợp, nghiên cứu, đánh giá tài liệu, dấu vết, vật chứng thu thập được từ các biện pháp khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng… và các biện pháp trinh sát khác để lập kế hoạch điều tra vụ án. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tài liệu, dấu vết vật chứng Điều tra viên đưa ra những giả thuyết về thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, những công cụ, phương tiện và vũ khí mà thủ phạm sử dụng để gây án; nơi cất giấu và tiêu thụ tài sản chiếm đoạt được, thủ phạm của vụ án.
Trên cơ sở những giả thuyết điều tra, Điều tra viên dự kiến những biện pháp điều tra để kiểm tra từng giả thuyết, những biện pháp trinh sát hỗ trợ và trình tự tiến hành, những phương tiện kỹ thuật, tài chính cần thiết cho hoạt động điều tra.
Lập kế hoạch điều tra tương ứng với các tình huống phổ biến sau đây:
– Tình huống thứ nhất: Đối tượng gây án bị bắt quả tang, đã có những tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu đã xảy ra.
– Tình huống thứ hai: Vụ án xâm phạm sở hữu xảy ra có thật, thủ phạm đã rõ hoặc chưa rõ, nhưng đã bỏ trốn, có khả năng truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng.
– Tình huống thứ ba: Vụ án xâm phạm sở hữu trên thực tế đã xảy ra, đối tượng gây án chưa rõ, không có khả năng truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng.
Đây là tình huống điều tra phổ biến nhất trong hoạt động điều tra những vụ án xâm phạm sở hữu. Trong tình huống này, nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động điều tra là tiến hành những biện pháp điều tra và những biện pháp trinh sát phối hợp để làm rõ thủ phạm và bắt giữ. Vì vậy, trong bản kế hoạch điều tra cần đưa ra những giả thuyết sau đây:
Giả thuyết về thủ phạm của vụ án; Giả thuyết về công cụ, phương tiện và vũ khí gây án, tài sản bị chiếm đoạt, nơi cất giấu và tiêu thụ; Giả thuyết về mối liên hệ giữa vụ án với những vụ án khác xảy ra trong địa bàn.

2.1.7. Tiến hành những biện pháp điều tra và những biện pháp trinh sát hỗ trợ để làm rõ đối tượng gây án.

– Tiến hành kiểm tra, xác minh những đối tượng nghi có liên quan đến vụ án xâm phạm sở hữu.
* Việc sử dụng thời gian của đối tượng vào thời điểm xảy ra vụ án?
* Đối tượng có để lại các dấu vết, đồ vật tại hiện trường không?
* Trên cơ thể, quần, áo của đối tượng có mang các dấu vết do gây án mà có?
* Đối tượng có liên quan đến công cụ, phương tiện, vũ khí gây án và tài sản bị chiếm đoạt không?
* Người bị hại, người chứng kiến vụ án xảy ra có khẳng định đối tượng là thủ phạm của vụ án không?
+ Những biện pháp kiểm tra, xác minh:

  • Sơ vấn đối tượng nghi vấn; trưng cầu bác sỹ, kỹ thuật viên hình sự kiểm tra trên thân thể, quần áo của đối tượng để phát hiện những dấu vết như: Vết cào, vết cấu, vết cắn, vết xước, vết bẩn, vết rách… Tổ chức nhận dạng đối tượng nghi vấn, trưng cầu giám định nếu thu được những dấu vết, tài liệu ở hiện trường nghi do thủ phạm để lại. Nếu có đủ cơ sở thì xin lệnh khám người; chỗ ở, chỗ làm việc của đối tượng để thu giữ vật chứng của vụ án, truy tìm và lấy lời khai những người làm chứng…
  • Điều tra viên có thể phối hợp với lực lượng trinh sát tiến hành kiểm tra bí mật người, chỗ ở và nơi làm việc của đối tượng để phát hiện các dấu vết, nơi cất giấu những công cụ, phương tiện và vũ khí gây án, tài sản chiếm được; tiến hành ngoại tuyến, kiểm tra điện thoại, ghi âm bí mật các cuộc đàm thoại của đối tượng, tổ chức cho người bị hại, người làm chứng nhận dạng bí mật đối tượng…

– Phối hợp với các lực lượng trinh sát xây dựng đặc tình hoặc bố trí màng lưới đặc tình sẵn có của lực lượng trinh sát thâm nhập vào các ổ nhóm tội phạm để xác minh thủ phạm của vụ án xâm phạm sở hữu.
– Nếu có cơ sở nhận định thủ phạm của vụ án xâm phạm sở hữu tiếp tục gây án thì Điều tra viên phối hợp với lực lượng trinh sát tiến hành mai phục để kịp thời bắt giữ.
– Khi hỏi cung các bị can bị bắt giữ trong các vụ án khác cần khai thác mở rộng để xác định xem có liên quan đến vụ án xâm phạm sở hữu đang điều tra không?
– Truy tìm tài sản bị chiếm đoạt, những công cụ, phương tiện và vũ khí mà thủ phạm sử dụng gây án.
+ Gửi thông báo truy tìm những vật cần truy tìm của vụ án đến những đơn vị cơ sở ở những địa bàn mà thủ phạm có thể cất giấu hoặc tiêu thụ.
+ Phối hợp với lực lượng trinh sát, phổ biế n đặc điểm của những vật cần truy tìm cho đặc tình, cơ sở bí mật và yêu cầu những lực lượng này bám sát địa bàn cất giấu, tiêu thụ để truy tìm.
– Tiến hành nhận dạng: Để xác định thủ phạm của vụ án xâm phạm sở hữu có thể tiến hành cho người bị hại, người làm chứng nhận dạng qua ảnh những đối tượng đang có lệnh truy nã, những đối tượng có nhiều tiền án, tiền sự với điều kiện họ có thể nhận dạng qua ảnh được. Ngoài ra, Điều tra viên có thể tổ chức cho nhận dạng những tài sản bị chiếm đoạt, những công cụ, phương tiện và vũ khí mà thủ phạm sử dụng khi gây án…

2.1.8. Khởi tố bị can

Sau khi đã tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu, tiến hành các biện pháp cấp bách, xác định được đối tượng phạm tội thì ra quyết định khởi tố bị can để áp dụng các biện pháp điều tra đối với bị can. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền khởi tố bị can theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.2. Giai đoạn điều tra tiếp theo nhằm chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.

2.2.1. Bắt, khám xét.

Dựa trên cơ sở tổng hợp, phân tích những tài liệu, chứng cứ, thu thập được từ việc tiến hành những biện pháp điều tra, nếu có đủ cơ sở xác định đối tượng thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu thì khẩn trương lập kế hoạch phá án, ra quyết định khởi tố bị can, tiến hành bắt, khám xét và hỏi cung bị can.
– Nếu bị can bỏ trốn thì ra Quyết định truy nã và gửi đến Công an các địa phương, đặc biệt ở các địa bàn sinh, trú quán, làm việc của đối tượng, của những bạn bè, người thân của đối tượng, đồng thời có kế hoạch truy bắt:
+ Kiểm tra bí mật hoặc công khai tất cả các địa điểm, các mối quan hệ có khả năng bị can ẩn náu và bố trí lực lượng cần thiết bí mật theo dõi những địa điểm và mối quan hệ này để kịp thời bắt giữ khi bị can xuất hiện.
+ Dùng gia đình, người thân, bạn bè của bị can tác động bị can ra tự thú.
+ Phối hợp với lực lượng trinh sát tiến hành những biện pháp trinh sát cần thiết để làm rõ sự duy trì mối liên hệ giữa gia đình và bị can để tìm ra nơi ẩn náu của bị can.
+ Sử dụng những người là đồng bọn của bị can để tìm ra nơi ẩn náu của bị can nếu những người này sống tự do ở bên ngoài không bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế của pháp luật.
+ Kiểm tra những tài liệu về những đối tượng bị bắt giữ trong các hoạt động điều tra, truy nã, tấn công tội phạm… để phát hiện ra bị can của vụ án xâm phạm sở hữu.
Khi đã phát hiện ra bị can cần có những phương án tối ưu để tiếp cận và bắt giữ bị can nhanh gọn, đảm bảo an toàn. Sau khi bắt được bị can cần phải khám xét ngay người, chỗ ở, của đối tượng để thu giữ công cụ, phương tiện và vũ khí mà bị can sử dụng khi gây án, tài sản đã chiếm đoạt…

2.2.2. Hỏi cung bị can.

Cần phải tập trung giải quyết ngay những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
– Làm rõ những đối tượng còn lại của vụ án xâm phạm sở hữu nhất là những vụ cướp, cướp giật, cưỡng đoạt tài sản để có biện pháp truy bắt tiếp.
– Làm rõ nơi cất giấu những công cụ, phương tiện, vũ khí gây án, tài sản đã chiếm đoạt và những đồ vật khác có liên quan đến vụ án xâm phạm sở hữu đề kịp thời thu giữ.
– Làm rõ các giai đoạn hoạt động của băng, ổ nhóm, của từng bị can; vai trò, vị trí của từng bị can trong băng, ổ nhóm.
– Thu thập những tài liệu về hoạt động của những tên tội phạm khác đang tiếp tục gây án. Để giải quyết được nhiệm vụ đặt ra, căn cứ vào tài liệu thu thập được về hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn che giấu tội phạm, đặc điểm nhân thân của bị can, khi tiến hành hỏi cung, Điều tra viên cần chú ý một số chỉ dẫn chiến thuật sau đây:
+ Đối với những vụ án do băng, ổ nhóm gây ra, nếu như những bị can củ a băng, ổ nhóm chưa bắt hết, chưa thu giữ được công cụ, phương tiện, vũ khí gây án, tài sản bị chiếm đoạt hoặc chưa làm rõ hết các đối tượng khác của vụ án, khi hỏi cung phải ưu tiên làm rõ những đối tượng khác trong băng, ổ nhóm để truy bắt tiếp, những tài sản bị chiếm đoạt để thu giữ và thu thập những tài liệu làm cơ sở để bắt những bị can khác của vụ án.
Trong tình huống này, Điều tra viên nên hỏi cung ngay sau khi bắt được bị can, sử dụng yếu tố bất ngờ trong hỏi cung để làm mất khả năng phân tích, đán h giá của bị can về những tài liệu, chứng cứ mà Điều tra viên đã thu thập được, về chiến thuật của hỏi cung của Điều tra viên để có biện pháp đối phó. Nếu có đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị can, thì câu hỏi đầu tiên thường yêu cầu bị can khai ra những đối tượng khác của vụ án, nơi cất giấu những công cụ, phương tiện và vũ khí gây án; những tài sản chiếm đoạt được. Trong tình huống này, kết quả hỏi cung đòi hỏi Điều tra viên có sự phối hợp với các lực lượng trinh sát để xây dựng đặc tình trại giam, sử dụng các biện pháp trinh sát kỹ thuật như BP2, BP3… nhằm nắm bắt diễn biến tư tưởng và thủ đoạn đối phó của bị can đối với hoạt động điều tra, xác định nơi cất giấu hay tiêu huỷ những công cụ, phương tiện và vũ khí gây án, nơi cất giấu hay tiêu thụ những tài sản chiếm đoạt được, làm rõ những đối tượng khác của băng, ổ nhóm.
+ Điều tra viên cần khai thác và sử dụng những mâu thuẫn giữa các bị can trong băng, ổ nhóm để làm rõ tội lỗi của chúng. Bởi vì, giữa các đối tượng băng, ổ nhóm thường có những mâu thuẫn về quyền lợi, địa vị ngôi thứ, đặc điểm cá nhân… đây là đặc điểm có tính quy luật. Mặt khác, đặc điểm tâm lý chung của bọn tội phạm là chúng rất dễ khai báo về hành vi phạm tội của đồng bọn, nhưng lại rất khó khăn khi khai báo về tội lỗi của mình; căn cứ vào đặc điểm này, khi hỏi cung từng bị can, cần khai thác và sử dụng triệt để những mâu thuẫn của bị can đang hỏi với các bị can khác của vụ án để làm rõ hành vi phạm tội của những bị can đó.

2.2.3. Trưng cầu giám định chuyên môn.

Các giám định thường được trưng cầu đó là: Giám định dấu vết chân, dấu vết vân tay, dấu vết giày, dép, súng, đạn, giám định tài liệu, vết thương tích…

2.2.4. Thực nghiệm điều tra.

Tiến hành thực nghiệm điều tra để kiểm tra tài liệu, chứng cứ thu thập được, thu thập tài liệu, chứng cứ mới của vụ án, kiểm tra và đánh giá giả thuyết điều tra. Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, chứng cứ của vụ án, Điều tra viên có thể tiến hành thực nghiệm điều tra để kiểm tra khả năng theo dõi, nhận biết những tình tiết nào đó trong vụ án của người bị hại, người làm chứng, bị can nhất là các vụ cướp, cướp giật, cưỡng đoạt tài sản.
Ngoài ra, tiến hành thực nghiệm điều tra còn giúp cho Điều tra viên kiểm tra khả năng thực hiện một hành vi nào đó trong vụ án như: bẻ khoá; vượt tường; trèo theo đường mái nhà; mang vác các đồ vật tài sản cồng kềnh; trói người bị hại cũng như làm rõ quá trình hình thành các loại dấu vết như dấu vết cạy phá, vết bắn, thương tích…
Kết quả thu được qua thực nghiệm điều tra trong những trường hợp này có ý nghĩa chứng cứ, chứng minh sự thật của vụ án xâm phạm sở hữu.

2.3. Giai đoạn kết thúc điều tra.

Căn cứ vào kết quả điều tra, Cơ quan điều tra có thể kết thúc điều tra vụ án bằng việc ra một trong các quyết định sau đây:
– Đình chỉ điều tra vụ án khi có một trong những căn cứ quy tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Tố tụng hình sự.
– Đề nghị truy tố đối với những trường hợp có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can. Trong trường hợp này, Điều tra viên được giao nhiệm vụ thụ lý vụ án cần tiến hành làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố. Bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố cùng hồ sơ vụ án được gửi đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Phương pháp điều tra các tội phạm xâm phạm nhân thân

Trình bày phương pháp điều tra các tội phạm xâm phạm nhân thân.
 
Mục mục: (Nhấn vào từng mục để chuyển nhanh đến phần nội dung)
1. Đặc điểm hình sự của tội phạm và những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các tội phạm xâm phạm nhân thân.
1.1. Đặc điểm hình sự của tội phạm xâm phạm nhân thân.

1.1.1. Đặc điểm của các tội phạm xâm phạm nhân thân chi phối phương pháp điều tra.

1.1.2. Đặc điểm về đối tượng phạm tội xâm phạm nhân thân.

1.1.3. Đặc điểm về thủ đoạn phạm tội xâm phạm nhân thân.

1.1.4. Hiện trường dấu vết các vụ án xâm phạm nhân thân.

1.1.5. Đặc điểm về người bị hại trong các vụ án xâm phạm nhân thân.

1.2. Những vấn đề cần phải chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm nhân thân.

  • Một là: Các vụ án xâm phạm nhân thân xẩy ra trên thực tế hay không?
  • Hai là: Thời gian và địa điểm gây án.
  • Ba là: Thủ đoạn gây án.
  • Bốn là: Vũ khí, công cụ, phương tiện gây án.
  • Năm là: Đặc điểm cá nhân của người bị hại.
  • Sáu là: Đối tượng gây án, động cơ mục đích gây án.
  • Bảy là: Những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, những nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm.

2. Tiến hành các hoạt động điều tra

2.1. Giai đoạn điều tra ban đầu:

  • Thứ nhất: Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm xâm phạm nhân thân
  • Thứ hai: Tiến hành những biện pháp cấp bách:
  • Thứ ba: Khởi tố vụ án hình sự
  • Thứ tư: Tiến hành các hoạt động trinh sát phối hợp trong điều tra các tội phạm xâm phạm nhân thân.
  • Thứ năm: Khởi tố bị can

2.2. Giai đoạn điều tra tiếp theo:

  • Thứ nhất: Tổng hợp tài liệu chứng cứ đã thu thập được về vụ án, lập kế hoạch điều tra:
  • Thứ hai: Bắt, khám xét, thu thập vật chứng, tài liệu trong điều tra các vụ án xâm phạm nhân thân
  • Thứ ba: Hỏi cung bị can phạm tội xâm phạm nhân thân:
  • Thứ tư: Thực nghiệm điều tra.
  • Thứ năm: Trưng cầu giám định chuyên môn
  • Thứ sáu: Nhận dạng
  • Thứ bảy: Đối chất

2.3. Giai đoạn kết thúc điều tra các vụ án xâm phạm nhân thân.

 

1. Đặc điểm hình sự của tội phạm và những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các tội phạm xâm phạm nhân thân.

1.1. Đặc điểm hình sự của tội phạm xâm phạm nhân thân.

1.1.1. Đặc điểm của các tội phạm xâm phạm nhân thân chi phối phương pháp điều tra.

– Các tội phạm xâm phạm nhân thân đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, thân thể, danh dự, nhân phẩm của con người. Hậu quả do tội phạm gây ra là chết người hoặc các tổn hại về sức khỏe danh dự, nhân phẩm, riêng tổn hại về sức khoẻ được xác định bằng tỷ lệ phần trăm thương tích theo qui định của pháp luật.
– Các tội phạm xâm phạm nhân thân thường thể hiện bằng hành động tác động tực tiếp lên thân thể, danh dự, nhân phẩm của con người… gây ra các tổn hại. Nhiều trường hợp hành động đó còn được hỗ trợ bằng việc sử dụng các công cụ, phương tiện, vũ khí… để thực hiện tội phạm, thể hiện tính nguy hiểm của hành vi phạm tội đồng thời thể hiện sự quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng.
– Đặc điểm về hiện trường các vụ án xâm phạm nhân thân rất có ý nghĩa cho hoạt động điều tra làm rõ vụ án… đặc biệt là đối với các tội xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ của con người.
Hiện trường là nơi phản ánh nhiều nhất các hành vi xâm hại, diễn biến của quá trình thực hiện hành vi, các dấu vết phản ánh hành vi xâm hại. Vì vậy, công tác khám nghiệm hiện trường cần được chú trọng trong hoạt động điều tra nhất là giai đoạn điều tra ban đầu các tội xâm phạm nhân thân.
– Các dấu vết phổ biến của các vụ xâm phạm nhân thân: Các dấu vết phổ biến của các vụ xâm phạm nhân thân chính là các dấu vết sinh vật, các dấu vết thương tích… do hành vi phạm tội của đối tượng để lại. Các dấu vết này thể hiện hành vi phạm tội có nét đặc thù của đối tượng gây án, có thể để lại trên hiện trường của vụ án, trên người bị hại, để lại trên công cụ, phương tiện phạm tội, nhiều trường hợp còn có thể để lại chính trên người của thủ phạm. Vì vậy, thông qua dấu vết đặc trưng mà có thể phân biệt nhóm các tội phạm xâm phạm nhân thân với các tội phạm khác, đồng thời cũng có thể xác định được những nơi để lại các dấu vết đó để phát hiện thu thập phục vụ cho công tác điều tra làm rõ vụ án.
– Đối tượng phạm tội xâm phạm nhân thân, thường có tâm lý lì lợm, coi thường tính mạng, sức khoẻ của người khác… động cơ, mục đích phạm tội cũng đa dạng, phức tạp, có thể do mâu thuẫn thù tức; có thể do ghen tuông tình ái; có thể để thực hiện hoặc che giấu một tội phạm khác; có thể do dùng các chất kích thích hoặc cũng có thể do tính côn đồ hung hãn…
– Giữa đối tượng phạm tội và người bị hại thường có quan hệ, hoặc tiếp xúc với nhau trước khi đối tượng thực hiện hành vi phạm tội, nhiều trường hợp đối tượng và người bị hại có quan hệ thân thiết, nhiều trường hợp là thân nhân, họ hàng…
– Đặc điểm về người bị hại trong các vụ án xâm phạm nhân thân cũng đa dạng, nhiều trường hợp chính do cách sống, do hành vi của người bị hại là nguyên nhân chính thúc đẩy đối tượng thực hiện hành vi phạm tội.
Đây là những đặc điểm chính chi phối tới phương pháp điều tra các tội phạm xâm phạm nhân thân, chính những đặc điểm này đòi hỏi trong quá trình điều tra cần phải khai thác triệt để, từ đó định hướng cho hoạt động điều tra thu thập chứng cứ, nhất là giai đoạn điều tra ban đầu.

1.1.2. Đặc điểm về đối tượng phạm tội xâm phạm nhân thân.

– Thành phần đối tượng phạm tội.
Tính đa dạng, phức tạp về thành phần đối tượng phạm tội và động cơ mục đích gây án.
+ Những đối tượng phạm tội xâm phạm nhân thân ở trong tất cả các thành phần xã hội khác nhau như dân tộc, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, địa vị xã hội, lứa tuổi, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế… Có những đối tượng phạm tội xâm phạm nhân thân nguyên là cán bộ, công nhân viên chức, đảng viên, Công an, bộ đội…
+ Động cơ mục đích phạm tội cũng rất đa dạng. Những người phạm tội xâm phạm nhân thân có vô số mục đích khác nhau và do những động cơ khác nhau. Các động cơ mục đích phạm tội xâm phạm nhân thân phổ biến là:
Do thù hằn, mâu thuẫn; vì ghen tuông, tình ái; do mê tín; xâm phạm nhân thân để che giấu hành vi phạm tội khác hoặc để thực hiện một hành vi phạm tội khác; xâm phạm nhân thân mang tính chất côn đồ hung hãn…
– Động cơ mục đích phạm tội.
+ Các vụ xâm phạm nhân thân mang tính chất côn đồ hoặc xâm phạm nhân thân để che giấu tội phạm khác… thì thành phần đối tượng đa số là đối tượng sưu tra hình sự hoặc có quá khứ xấu.
+ Các vụ xâm phạm nhân thân vì mục đích khác, chẳng hạn xâm phạm nhân thân vì mâu thuẫn thù tức, vì ghen tuông … đối tượng phạm tội đa số là chưa có quá khứ phạm tội; giữa thủ phạm và nạn nhân phần lớn là có quan hệ với nhau từ trước… Mâu thuẫn giữa thủ phạm và nạn nhân trong trường hợp này thường phát sinh và tồn tại trong một thơì gian dài, bộc lộ ra bên ngoài bằng nhiều hình thức khác nhau rất dễ nhận biết (chẳng hạn thường xuyên đánh cãi chửi nhau).
– Đặc điểm tâm lý.
Tâm lý của thủ phạm trước và sau khi gây án xâm phạm nhân thân, nhất là sau khi gây án, thường có những diễn biến khác thường, bộc lộ ra ngoài rất dễ nhận biết. Đó là sự hoang mang, lo lắng, căng thẳng, dao động, hoảng loạn, thay đổi quy luật sinh hoạt, thăm dò cơ quan điều tra; tung tin đánh lạc hướng; mua chuộc, đe dọa người biết việc. Tuy vậy, cũng có nhiều đối tượng sau khi gây án vẫn tỏ ra bình tĩnh, tin tưởng vào sự bí mật của hành vi mà chúng đã gây ra. Những đối tượng này thường là những kẻ lưu manh chuyên nghiệp, nhiều tiền án tiền sự

1.1.3. Đặc điểm về thủ đoạn phạm tội xâm phạm nhân thân.

* Giai đoạn chuẩn bị gây án
Trừ những vụ xâm phạm nhân thân bột phát, mang tính côn đồ, còn lại hầu hết các vụ xâm phạm nhân thân thủ phạm đều có giai đoạn chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Các biểu hiện trong giai đoạn này thường là:
– Điều tra nghiên cứu kỹ về nạn nhân, tìm hiểu nơi ở, nơi làm việc, quy luật đi lại, sinh hoạt, nghỉ ngơi, thói quen, nhu cầu sở thích, các mối quan hệ gia đình và xã hội… của người bị hại để lợi dụng hoặc điều chuyển họ đến nơi để đối tượng thực hiện hành vi phạm tội.
– Đối với các vụ xâm phạm nhân thân với mục đích cướp của, thủ phạm còn tìm hiểu về tài sản, tiền bạc, nơi cất giấu, sơ đồ cấu trúc nhà cửa, các thành viên khác trong gia đình.
– Các vụ xâm phạm nhân thân vì ghen tuông mâu thuẫn hoặc xâm phạm nhân thân để bịt đầu mối, đối tượng thường dựa vào quan hệ có sẵn để điều nạn nhân đến một nơi mà chúng chuẩn bị trước để thực hiện hành vi phạm tội, sau đó xoá các dấu vết, tiêu huỷ các vật chứng nhằm che giấu tội phạm.
– Sau khi nghiên cứu kỹ về nạn nhân, thủ phạm tính toán lựa chọn hình thức gây án và chuẩn bị hung khí, phương tiện gây án sao cho phù hợp nhất.
– Hình thức gây án quy định hung khí gây án và do đó sẽ quy định cả về thời gian, địa điểm tiến hành, số lượng đối tượng tham gia và các hành vi khác nhằm che giấu tội phạm.
* Tiến hành gây án.
– Đối tượng phạm tội thường tìm cách để thực hiện hành vi phạm tội được nhanh chóng, bất ngờ và có kết quả nhất bằng cách chọn và lợi dụng hoàn cảnh khách quan như ở nơi vắng người, đêm tối… cố gắng không để người khác trông thấy, nghe thấ y những gì có liên quan đến hành đông phạm tội.
– Khi điều nạn nhân đến nơi mà chúng đã chuẩn bị trước hoặc đón lõng tại nơi mà nạn nhân đi qua hoặc sẽ tới, chúng lựa chọn thời cơ tấn công bất ngờ, nạn nhân không kịp tự vệ, không kịp kêu cứu, không kịp chạy trốn, thời gian diễn ra tương đối nhanh chóng và mau lẹ.
* Sau khi gây án
– Những vụ án mà giữa thủ phạm và nạn nhân có mối quan hệ từ trước, sau khi gây án thủ phạm thường tìm cách xoá các dấu vết, giả tạo hiện trường… nhằm đánh lạc hướng cơ quan điều tra.
– Một thủ đoạn phổ biến nữa là thủ tiêu các loại giấy tờ; đồ vật có liên quan đến nạn nhân hoặc quan hệ của nạn nhân; làm mất đặc điểm nhận dạng của nạn nhân trong các vụ án giết người.
– Thủ tiêu hung khí, giữ bí mật việc sử dụng thời gian gây án, thăm dò theo dõi cơ quan điều tra để tìm cách đối phó; tung tin giả đánh lạc hướng cơ quan điều tra.
– Bỏ đi khỏi địa bàn cư trú với những lý do “tự nhiên, hợp pháp” nhiều trường hợp đối tượng sau khi gây án đã bỏ trốn.

1.1.4. Hiện trường dấu vết các vụ án xâm phạm nhân thân.

* Hiện trường vụ án gắn liền với dấu vết vụ án và phản ánh một cách khách quan động cơ mục đích, diễn biến, hình thức thủ đoạn, hung khí phương tiện… và những tình tiết khác của vụ án.
Trong điều tra các tội phạm xâm phạm nhân thân thường xuất hiện một số hiện trường điển hình như:
– Xâm phạm nhân thân với động cơ mục đích giết người hoặc giết người để cướp của: Ngoài các dấu vết hung khí trên tử thi, hiện trường còn để lại nhiều dấu vết lục soát, cạy phá nhằm tìm kiếm, chiếm đoạt tài sản.
– Xâm phạm nhân thân với động cơ, mục đích hiếp dâm: trên hiện trường để lại những dấu vết vật lộn, thể hiện sự tự vệ chống cự của nạn nhân. Trên cơ thể nạn nhân có thể có dấu vết của bạo lực: vết giằng xé quần áo, vết thương tích trên thân thể, và đặc biệt là dấu vết giao cấu cưỡng bức, dấu vết sinh vật như, tinh trùng, vết máu, lông tóc…
– Xâm phạm nhân thân do mâu thuẫn thù tức hoặc ghen tuông tình ái: ngoài các dấu vết máu, vết chân tay, các dấu vết công cụ… còn tồn tại nhiều dấu vết thể hiện sự căm thù cao độ.
* Các dấu vết phổ biến trong các vụ án xâm phạm nhân thân:
– Dấu vết sinh vật: Vết máu, lông, tóc, nước bọt, tinh khí và các chất thải sinh vật khác;
– Dấu vết thương tích bên ngoài và bên trong nạn nhân;
– Dấu vết vân tay, vết chân, dày dép…;
– Dấu vết công cụ cạy phá lục soát;
– Dấu vết phương tiện giao thông;
– Dấu vết súng đạn;
– Dấu vết các chất axit;
– Các dấu vết hình sự khác…

1.1.5. Đặc điểm về người bị hại trong các vụ án xâm phạm nhân thân.

– Án xâm phạm nhân thân có đặc trưng riêng đó là cả đối tượng phạm tội và mục tiêu phạm tội đều là con người. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, lúc đầu nhiều vụ chưa xác định được tung tích người bị hại nhất là các vụ án giết người nên gây nhiều khó khăn cho công tác điều tra. Do đó, phải khẩn trương tiến hành công tác bảo vệ và khám nghiệm hiện trường, thu thập những thông tin về lai lịch, tung tích nạn nhân để tạo điều kiện cho các bước điều tra tiếp theo.
– Nạn nhân trong các vụ giết cướp phần đông là những người giàu có hoặc tỏ ra giàu có. Một số hộ độc thân, có nhiều tài sản cũng là mục tiêu của bọn cướp.
– Đa số các nạn nhân trong các vụ án xâm phạm nhân thân có quan hệ với thủ phạm từ trước. Trong quá trình quan hệ, giữa thủ phạm với nạn nhân đã nảy sinh mâu thuẫn, các mâu thuẫn không được giải quyết một cách kịp thời, thoả đáng và thiếu triệt để… là điều kiện trực tiếp dẫn đến vụ án.
– Trong một số trường hợp, chính nạn nhân đã có những hành vi trái pháp luật với thủ phạm hoặc với thân nhân thủ phạm và đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến vụ án.

1.2. Những vấn đề cần phải chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm nhân thân.

Trong quá trình điều tra, việc xác định cụ thể và chính xác những vấn đề cần chứng minh trong vụ xâm phạm nhân thân không những giúp cho điều tra viên lập kế hoạch điều tra được đúng đắn, chính xác mà còn tạo điều kiện giải quyết vụ án, xử lý người phạm tội được một cách khách quan.
Căn cứ vào các Điều 93 đến Điều 122 của Bộ luật Hình sự và Điều 63 của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình điều tra, cần thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh những vấn đề sau đây.
– Các vụ án xâm phạm nhân thân xẩy ra trên thực tế hay không.
Chứng minh làm rõ có vụ án xảy ra hay không có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì kết quả có thể dẫn đến đình chỉ điều tra nếu trên thực tế vụ án không xảy ra. Ngược lại kết quả chứng minh làm rõ có vụ án xảy ra, thì đó là cơ sở để cơ quan điều tra xác định phương hướng hoạt động điều tra.
– Thời gian và địa điểm gây án.
Chứng minh thời gian và địa điểm gây án là làm rõ vụ án xẩy ra lúc nào, ở vị trí địa điểm nào. Bởi vì, có vụ án xẩy ra thì nhất định phải xẩy ra ở thời gian và không gian nhất định, không chỉ nói lên tính khách quan, thực tế mà là cơ sở để xác định ai là người bị hại và ai là người gây ra hành vi nguy hiểm cho xã hội.
– Thủ đoạn gây án.
Làm rõ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội từ khâu chuẩn bị gây án, thủ đoạn gây án và hành vi che giấu tội phạm. Mức độ nguy hiểm của tội phạm, được xác định trên cơ sở nghiên cứu tính chất của hành vi phạm tội và hậu quả xẩy ra khi thực hiện hành vi đó. Làm rõ thủ đoạn gây án sẽ tạo ra cơ sở để phân biệt rõ giữa các tội cụ thể trong nhóm các tội phạm xâm phạm nhân thân (giết người hay cố ý gây thương tích hay gây rối trật tự công cộng?).
– Vũ khí, công cụ, phương tiện gây án.
Phải chứng minh làm rõ thủ phạm đã sử dụng vũ khí, công cụ phương tiện gì để gây án. Nguồn gốc của vũ khí, công cụ phương tiện đó. Thủ phạm tự làm hay mua sắm, mang theo để gây án hay thu nhặt ở hiện trường… Vũ khí, phương tiện gây án là những vật chứng quan trọng để chứng minh sự thật vụ án, góp phần giải quyết vụ án được khách quan và chính xác (vụ con dao trong vụ giết Thiếu úy Lê Thanh Sơn đừng Hải Triều, quận 1; vụ Cố ý gây thương tích ở bùng binh đường Nguyễn Trãi, quận 1…).
– Đặc điểm cá nhân của người bị hại.
Làm rõ đặc điểm nhân thân của người bị hại, quá trình lịch sử, tâm lý cá tính, nghề nghiệp, tiền sự, tiền án… tạo cơ sở để xem xét đánh giá hành vi của người bị hại trước và trong khi xẩy ra vụ án. Đặc biệt chú ý đối với những vụ án xâm phạm nhân thân do đối tượng bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân hoặc vụ án xâm phạm nhân thân do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Làm rõ tính chất mức độ thương tích của người bị hại cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội của thủ phạm gây ra với mức độ thương tích của người bị hại.
– Đối tượng gây án, động cơ mục đích gây án.
Phải chứng minh làm rõ đối tượng gây án là ai. Mối quan hệ giữa đối tượng và người bị hại, đối tượng có năng lực trách nhiệm hình sự hay không? Động cơ mục đích gây án, nếu đối tượng gây án có nhiều thì phải làm rõ vai trò, vị trí của từng đối tượng.
Để xác định động cơ mục đích gây án thì phải làm rõ hành vi gây án, hậu quả tác hại mối quan hệ giữa đối tượng và người bị hại, đặc điểm nhân thân của bị can.
– Những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, những nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm.
Điều tra viên cần khách quan, thận trọng. Trong quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ phải luôn chú ý cả mặt thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh tội phạm, có tài liệu chứng cứ chứng minh vô tội, có tình tiết tăng nặng, có tính tiết giảm nhẹ. Tuyệt đối không được chủ quan, định kiến một chiều, chỉ chú ý buộc tội hoặc chỉ chú ý tình tiết tăng nặng mà không chú ý tình tiết giảm nhẹ.
Trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án, phải thu thập tài liệu chứng minh những nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm và phải thể hiện trong hồ sơ vụ án.

2. Tiến hành các hoạt động điều tra các tội phạm xâm phạm nhân thân

2.1. Giai đoạn điều tra ban đầu:

Trong giai đoạn điều tra ban đầu để làm rõ vụ án, cần tiến hành những công việc sau đây:
Thứ nhất: Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm xâm phạm nhân thân
– Nguồn tin báo về tội phạm xâm phạm nhân thân thường từ:
Lời trình báo của nạn nhân hoặc của thân nhân nạn nhân; Lời trình báo của công dân; Tin báo của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; Tin từ các lực lượng quản lý công khai như: lực lượng tuần tra kiểm soát, Cảnh sát giao thông, Cảnh sát trật tự; Các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình …); Tội phạm tự thú…
– Khi tiếp nhận những tin báo cần ghi rõ những nội dung theo “Lục Hà”.
– Kiểm tra xác minh nguồn tin: Có thể qua CA phường hoặc trực tiếp xác minh.
Thứ hai: Tiến hành những biện pháp cấp bách:
– Cấp cứu nạn nhân ;
– Truy bắt thủ phạm gây án theo dấu vết nóng (nếu được);
– Bảo vệ hiện trường và khám nghiệm hiện trường ;
– Xác định và lấy lời khai ban đầu người làm chứng, người bị hại..;
– Truy tìm tung tích nạn nhân(nếu chưa rõ tung tích nạn nhân);
Thứ ba: Khởi tố vụ án hình sự
Sau khi tiến hành các hoạt động trên thấy có sự việc phạm tội xảy ra thì ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành các hoạt động điều tra, việc khởi tố vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thứ tư: Tiến hành các hoạt động trinh sát phối hợp trong điều tra các tội phạm xâm phạm nhân thân.
Trừ những vụ án đã rõ thủ phạm, còn các vụ án chưa rõ thủ phạm các hoạt động trinh sát hỗ trợ thường được sử dụng bao gồm:
– Xác lập và xác minh hiềm nghi:
Cần căn cứ vào từng vụ đối với từng tội phạm cụ thể mà phối hợp để xác lập các đối tượng hiềm nghi phù hợp với các dấu hiệu theo quy định. Sau khi đã xác lập được các đối tượng hiềm nghi thì tiến hành kiểm tra, xác minh hiềm nghi đối với các đối tượng, cụ thể:
+ Kiểm tra về việc sử dụng thời gian: cần căn chính xác việc sử dụng thời gian trước, trong và sau khi vụ án xảy ra. Từ đó làm cơ sở xác minh kết luận.
+ Kiểm tra đối tượng nhằm phát hiện những dấu vết trên người, quần áo vết máu, thương tích… nghi do gây án để lại.
+ Xem xét dấu vết trên thân thể.
+ Cần xem xét theo dõi diễn biến tư tưởng của đối tượng sau khi vụ án xảy ra.
+ Nghiên cứu rõ căn cước, lai lịch, nhân thân, quan hệ của họ với người bị hại.
– Sử dụng biện pháp trinh sát xác minh:
Trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc với đối tượng nghi vấn để xác minh. Gián tiếp gặp gỡ với người có quan hệ với đối tượng, với chính quyền, cơ quan , xí nghiệp nơi quản lý đối tượng… để xác minh.
– Sử dụng đặc tình, cơ sở bí mật hoặc công tác viên danh dự để phát hiện và thu thập các thông tin, tài liệu phục vụ cho công tác điều tra làm rõ vụ án.
– Sử dụng biện pháp ngoại tuyến để theo dõi, giám sát đối tượng thu thập tài liệu chứng cứ về hành vi phạm tội của đối tượng.
Thứ năm: Khởi tố bị can
Sau khi đã tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu, tiến hành các biện pháp cấp bách, xác định được đối tượng phạm tội thì ra quyết định khởi tố bị can để áp dụng các biện pháp điều tra đối với bị can. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền khởi tố bị can theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.2. Giai đoạn điều tra tiếp theo:

Giai đoạn điều tra tiếp theo là giai đoạn chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội về thực chất giai đoạn này là giai đoạn áp dụng các biện pháp điều tra được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm. Cụ thể:
Thứ nhất: Tổng hợp tài liệu chứng cứ đã thu thập được về vụ án, lập kế hoạch điều tra:
– Tổng hợp tài liệu ban đầu: Thông qua kết quả công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi (nếu có), lấy lời khai ban đầu, tiến hành các hoạt động cấp bách… Điều tra viên phải tập hợp tất cả các tài liệu để xác định: Thời gian địa điểm xảy ra vụ án; Công cụ, phương tiện gây án; Những dấu vết để lại; Thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội; Lai lịch, quan hệ của người bị hại; Động cơ mục đích phạm tội… Xác định những vấn đề đã rõ, đã có tài liệu, những vấn đề chưa rõ, cần phải tiếp tục làm rõ, cần tiếp tục thu thập.
– Lập kế hoạch điều tra: Trên cơ sở những tài liệu đã thu thập được cần nêu ra các giả thuyết nghiệp vụ từ đó xác định những biện pháp điều tra cần áp dụng, những hoạt động trinh sát cần hỗ trợ. Các công việc trọng tâm, cơ bản cần phải giải
quyết, lực lượng, phương tiện, thời gian cần sử dụng để hoàn thành các công việc đó. Nội dung bản kế hoạch điều tra không cố định mà thường xuyên bổ sung, điều chỉnh theo tiến độ phát triển của các hoạt động điều tra.
Thứ hai: Bắt, khám xét, thu thập vật chứng, tài liệu trong điều tra các vụ án xâm phạm nhân thân
– Bắt đối tượng phạm tội: Khi bắt đối tượng trong điều tra các tội phạm xâm phạm nhân thân phải tuân thủ chiến thuật bắt nói chung, song cần chú ý:
Khi tiến hành bắt phải nhanh chóng bất ngờ, tuỳ từng đối tượng cụ thể ta sẽ có kế hoạch bắt cụ thể, sát hợp. Khi đã có lệnh bắt có thể áp dụng mọi biện pháp để bắt bằng được đối tượng.
– Khám xét: Khi khám xét phải có đầy đủ căn cứ quy định tại Điều 115 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chú ý phát hiện, thu giữ công cụ, hung khí gây án, đồ vật tài sản của người bị hại bị chiếm đoạt cũng như tất cả những vật chứng tài liệu chứng minh tội phạm và người phạm tội. Khi khám xét phải tuân thủ quy định về quyền và thủ  tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thứ ba: Hỏi cung bị can phạm tội xâm phạm nhân thân:
– Những vấn đề cần làm rõ qua công tác hỏi cung bị can
Qua hỏi cung bị can cần làm rõ mục đích động cơ phạm tội của bị can; nhân thân lai lịch của từng bị can; diễn biến của quá trình phạm tội, thời gian địa điểm xảy ra; công cụ phương tiện đã sử dụng để thực hiện tội phạm, nguồn gốc các công cụ, phương tiện đó; Làm rõ mối quan hệ của bị can với người bị hại; Nguyên nhân dẫn tới việc thực hiện tội phạm …
– Để hỏi cung đạt kết quả tốt, Điều tra viên cần làm tốt những vấn đề sau:
+ Nghiên cứu kỹ nguồn tin ban đầu, từ đó xác định diễn biến của vụ án, giúp xác định đối tượng gây án.
+ Nghiên cứu kỹ hiện trường, dấu vết vật chứng đã thu thập được từ đó sử dụng trong hỏi cung bị can.
+ Nghiên cứu tài liệu kết luận của giám định về tỷ lệ thương tật của nạn nhân, kết luận khám y khoa (đối với các vụ hiếp dâm, cưỡng dâm…) kết quả pháp y tử thi, các tài liệu đã thu thập được bằng các biện pháp khác.
+ Nghiên cứu nắm vững đặc điểm tâm lý, diễn biến của bị can để từ đó sử dụng các chiến thuật hỏi cung bị can sát hợp.
Thứ tư: Thực nghiệm điều tra.
– Thực nghiệm điều tra bằng làm thử trong trường hợp theo lời khai của đối tượng mà tài liệu chứng cứ ta chưa có nhiều. Hoặc trường hợp đối tượng phạm tội trong trường hợp khó thực hiện.
– Thực nghiệm điều tra bằng diễn lại đây là loại phổ biến để củng cố tài liệu, chứng cứ, kiểm tra toàn bộ lời khai của bị can và các tài liệu chứng cứ mà ta đã có.
– Khi tiến hành thực nghiệm điều tra phải đảm bảo tuyệt đối an toàn cho người tham gia thực nghiệm điều tra và không để cho đối tượng chạy trốn.
– Đảm bảo đúng thủ tục quy định, quay phim, chụp ảnh, vẽ sơ đồ…
Thứ năm: Trưng cầu giám định chuyên môn
– Trưng cầu giám định thương tích nhằm xác định tỷ lệ thương tật của nạn nhân, phục vụ cho hoạt động điều tra làm rõ vụ án (có thể giám định qua hồ sơ bệnh án nếu người bị hại không có mặt tại Việt Nam).
– Trưng cầu giám định y khoa đối với các vụ hiếp dâm, cưỡng dâm… nhằm xác định các tổn thương do hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm gây ra;
– Trưng cầu giám định tình trạng tâm thần trong những trường hợp có nghi ngờ về tình trạng tâm thần của đối tượng thực hiện hành vi phạm tội cũng như những trường hợp do hành vi phạm tội của đối tượng gây cho người bị hại.
– Trưng cầu giám định pháp y tử thi: Có thể trưng cầu giám định pháp y tử thi để xác định nguyên nhân chết, thời gian chết, các thương tích trên tử thi, hung khí để lại các thương tích đó. Những thương tích nào có thể do người bị hại tự gây ra, thương tích nào do thủ phạm gây ra. Thương tích nào có trước, có sau. Thương tích nào quyết định cái chết của nạn nhân. Nạn nhân bị chết ngay hay một thời gian sau khi bị gây thương rồi mới chết. Nạn nhân đã ăn uống gì trước khi chết, thời gian ăn đến khi chết là bao lâu. Nhóm máu của nạn nhân, nếu là nữ giới cần khám màng trinh, có thai hay không, có bị hiếp trước khi chết hay không…
– Trưng cầu giám định dấu vết súng đạn: Được áp dụng trong những trường hợp tội phạm có sử dụng súng khi thực hiện hành vi phạm tội nhằm xác định: Các vết bắn do một hay nhiều khẩu súng bắn ra, hướng bắn, tầm bắn. Cỡ súng, loại súng, cỡ đạn…
– Nếu thương tích do vũ khí sắc nhọn gây ra cần trưng cầu giám định để xác định: Hướng đâm, lực đâm, kích thước, đặc điểm của loại vũ khí đó.
– Trưng cầu giám định dấu vết vân tay, dấu vết dày dép nhằm xác định là của một người hay của nhiều người, cụ thể là ai…
– Trưng cầu giám định chất độc, chất ma tuý để xác định loại chất độc đó là gì, công thức của chất độc, nguồn gốc chất độc, nơi thường sử dụng. Nếu là chất ma tuý thì là loại gì, số lượng, hàm lượng…
Thứ sáu: Nhận dạng
– Tiến hành nhận dạng nạn nhân trong các vụ xâm phạm nhân thân:
Trường hợp nạn nhân còn sống thông qua nhận dạng nhằm xác định chính xác đối tượng gây án để phục vụ cho hoạt động điều tra làm rõ vụ án.
Trường hợp nạn nhân chết, việc nhận dạng tử thi để xác định người bị hại sau khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi ta trang điểm tử thi và để ở nơi thuận lợi cho mọi người qua lại quan sát, xác định đối với tử thi. Ngoài ra có thể nhận dạng thông qua ảnh hoặc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
– Nhận dạng đối tượng gây án: có thể tiến hành bí mật hoặc công khai, khi nhận dạng phải chấp hành đúng quy định.
– Nhận dạng đồ vật, tài sản để xác định tài sản bị cướp, công cụ phương tiện gây án.
Thứ bảy: Đối chất
Khi cần thiết và thấy không còn biện pháp nào tối ưu hơn thì ta tổ chức cho đối chất để xác định sự thật của vụ án. Khi đối chất cần tuân thủ điều kiện và thủ tục tiến hành. Không để cho đối tượng thông cung hoặc hợp thức hoá lời khai.

2.3. Giai đoạn kết thúc điều tra các vụ án xâm phạm nhân thân.

– Tổng hợp toàn bộ tài liệu chứng cứ đã thu thập được, đối chiếu với những vấn đề cần chứng minh trong vụ án để sắp xếp và hoàn chỉnh hồ sơ. Phải đánh giá và xác định được độ chứng minh của các chứng cứ khi xem xét các tài liệu cần kiểm tra lại toàn bộ các nội dung tài liệu, chứng cứ, biện pháp thu thập, tính hợp pháp của nó như thế nào. Xác định tội phạm và người phạm tội: Toàn bộ tài liệu chứng cứ đã thu thập được đã đủ để kết luận tội phạm hay chưa. Ai đã thực hiện hành vi phạm tội, trong nhóm tội xâm phạm nhân thân thì cụ thể là tội gì? Các tài liệu chứng cứ nhứng minh hành vi phạm tội của đối tượng đã đủ hay chưa. Vụ án có nhiều bị can phải xác định vai trò của từng bị can trong vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị can.
– Viết bản kết luận điều tra vụ án. Khi có đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội thì viết bản kết luận điều tra, đề truy tố bị can. Nếu không đủ cơ sở đề nghị truy tố thì viết kết luận điều tra và ra quyết định đình chỉ bị can, đình chỉ vụ án.
– Tổng kết rút kinh nghiệm: Tổng kết lại toàn bộ quá trình điều tra vụ án, rút ra những ưu điểm, những nhược điểm. Nếu cần có thể đúc rút ra thành kinh nghiệm để viết thành các tài liệu để phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ sau này. Những vấn đề tồn tại cần phải tiếp tục giải quyết biện pháp, lực lượng giải quyết.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Thời hiệu thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam

Trong giao lưu dân sự, để các quan hệ xã hội ngày càng phát triển và mang tính ổn định cao, pháp luật có quy định các vấn đề về thời hạn để các bên có thể lựa chọn những cách xử sự phù hợp với mục đích và lợi ích của mình cũng như của xã hội. Khi hết thời hạn theo quy định có thể phát sinh hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của chủ thể có liên quan. Pháp luật gọi đó là thời hiệu. Thời hiệu thừa kế cũng không phải là ngoại lệ, nó có thể làm phát sinh hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ đối với một hoặc nhiều chủ thể trong các quan hệ với người để lại di sản. Do đó, tìm hiểu về thời hiệu trong thừa kế trong pháp luật dân sự giúp cho các chủ thể có thể lựa chọn cách xử sự phù hợp nhằm bảo đảm lợi ích của mình và những chủ thể khác có liên quan.

1. Khái quát về thời hiệu

1.1. Khái niệm về thời hiệu

Để các quan hệ dân sự phát huy được tác dụng tích cực, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh thì phải tạo sự ổn định cho các quan hệ dân sự, từ đó tạo tâm lý yên tâm cho các chủ thể trong giao lưu dân sự. Do đó, pháp luật quy định các thời hạn để các bên có thể lựa chọn cách xử sự cho phù hợp vì mục đích và lợi ích của mình. Khi kết thúc thời hạn đó có thể làm phát sinh hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ của những chủ thể có liên quan, thời hạn đó được gọi là thời hiệu[1].

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015), thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định (khoản 1 Điều 149 BLDS 2015). Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu.

1.2. Các loại thời hiệu

Điều 150 BLDS 2015 quy định bốn loại thời hiệu sau đây:

a) Thời hiệu hưởng quyền dân sự:

Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự.

Thời hiệu hưởng quyền dân sự có tính liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, kể cả trong trường hợp việc hưởng quyền dân sự được chuyển giao hợp pháp cho người khác; nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời hiệu phải được tính lại từ đầu, sau khi sự kiện làm gián đoạn chấm dứt. Thời hiệu hưởng quyền dân sự bị gián đoạn khi có một trong các sự kiện sau đây:

– Có sự giải quyết bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với quyền dân sự đang được áp dụng thời hiệu;

– Quyền dân sự đang được áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp và đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

b) Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự:

Thời hiệu

miễn trừ nghĩa vụ dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ.

Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự có tính liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, kể cả trong trường hợp việc miễn trừ nghĩa vụ dân sự được chuyển giao hợp pháp cho người khác; nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời hiệu phải được tính lại từ đầu, sau khi sự kiện làm gián đoạn chấm dứt. Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự bị gián đoạn khi có một trong các sự kiện sau đây:

– Có sự giải quyết bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với nghĩa vụ đang được áp dụng thời hiệu;

– Nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp và đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

c) Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự:

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

d) Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Xác định thời hiệu về thừa kế

Điều 623 BLDS 2015 quy định về thời hiệu thừa kế như sau:

 

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

 

Khác với quy định của BLDS 2005, BLDS 2015 đã phân biệt rõ thời hiệu khởi kiện về thừa kế đối với di sản thừa kế là động sản và bất động sản (10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản). Quy định này phù hợp hơn với tính chất quan trọng của từng loại di sản thừa kế và tương thích với quy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật tại Điều 236 BLDS 2015: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.

Việc xác định thời hiệu thừa kế được BLDS 2015 quy định như sau:

* Thời hiệu yêu cầu chia di sản:

Thông thường, nếu các thừa kế thỏa thuận được với nhau về cách thức phân chia di sản thừa kế, không có tranh chấp thì việc phân chia đó được thực hiện theo thỏa thuận. Còn trong trường hợp các bên có tranh chấp, không thỏa thuận được cách thức phân chia di sản thì có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án phân chia. Sau thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế, một trong các bên mới yêu cầu phân chia di sản thừa kế thì Tòa án có quyền từ chối giải quyết, nếu có đương sự yêu cầu xem xét vấn đề thời hiệu khởi kiện.

* Thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế 

Theo quy định của pháp luật về thừa kế, chỉ có những người thuộc diện thừa kế mới có quyền thừa kế. Đó là những người thuộc các hàng thừa kế, người được thừa kế thế vị, giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế quy định tại các điều 651, 652, 653 và 654 BLDS 2015. Do đó, nếu một người không có các căn cứ nêu trên một cách rõ ràng, không được các đồng thừa kế khác công nhận quyền thừa kế thì trong thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, người đó có đơn yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình sẽ được Tòa án giải quyết. Ngoài thời hạn trên mà người đó mới có đơn, nếu một trong các thừa kế yêu cầu xem xét vấn đề thời hiệu khởi kiện thì Tòa án có quyền từ chối giải quyết yêu cầu xác nhận quyền thừa kế.

Thời hiệu yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế 

Trường hợp các thừa kế đều có các căn cứ rõ ràng về quyền thừa kế của mình thì các thừa kế có quyền thỏa thuận phân chia di sản. Tuy nhiên, trường hợp một trong các thừa kế có nghi ngờ về “thân phận” hưởng thừa kế của một trong các thừa kế khác thì cũng có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án bác quyền thừa kế của người đó. Đơn yêu cầu đó cũng phải được nộp trong thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Nếu quá thời hạn trên nhưng không có đương sự nào yêu cầu xem xét vấn đề về thời hiệu thì Tòa án vẫn giải quyết theo thủ tục chung.

Thời hiệu yêu cầu liên quan đến di sản thừa kế

Trường hợp một người khi còn sống có các nghĩa vụ về tài sản theo hợp đồng cũng như nghĩa vụ tài sản ngoài hợp đồng chưa thanh toán thì khi người đó chết, nghĩa vụ tài sản đó không đương nhiên chấm dứt. Các chủ nợ, người bị thiệt hại có quyền khởi kiện trong thời hạn 03 năm kể từ thời điểm mở thừa kế để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Theo quy định của BLDS 2015, những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản đó trong phạm vi di sản của người chết để lại.

Lưu ý: Khi xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế cần lưu ý một số vấn đề sau đây:

(i) Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Việc xác định khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện sẽ dẫn đến thời hạn từ thời điểm mở thừa kế đến thời điểm hết thời hạn khởi kiện có thể dài hơn 10 năm (đối với di sản là động sản), dài hơn 30 năm (đối với di sản là bất động sản). Điều 156 BLDS 2015 quy định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

– Có sự kiện bất khả kháng làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu. Theo quy định của BLDS 2015, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Như vậy, để được coi là sự kiện bất khả kháng phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

+ Là sự kiện xảy ra một cách khách quan;

+ Không thể lường trước được;

+ Không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

– Có trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu. Theo quy định của BLDS 2015, trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.

Như vậy, để được coi là có trở ngại khách quan phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

+ Trở ngại phải là khách quan đối với chủ thể bị tác động bởi trở ngại đó;

+ Không thể biết được quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự.

– Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

– Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:

+ Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;

+ Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.

Ngoài các trường hợp kéo dài thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 156 BLDS 2015, pháp luật còn quy định về vấn đề này như sau:

+ Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 tại Điều 36 quy định:

1. Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác.

2. Trong thời hạn ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.

3. Trong trường hợp do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được quyền khởi kiện trong thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì thời gian bị trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện.

4. Đối với các việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh này thì thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tính từ ngày công bố Pháp lệnh này.

Đây là quy định đầu tiên về thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác trong thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế không phân biệt di sản thừa kế là động sản hay bất động sản. Đối với các việc thừa kế đã mở trước khi ban hành Pháp lệnh Thừa kế thì thời hiệu được tính từ ngày công bố Pháp lệnh (tức là ngày 10/9/1990). Nghĩa là, có những vụ việc thừa kế đã mở trước ngày 10/9/1990 nhưng thời hiệu khởi kiện 10 năm không được tính từ thời điểm mở thừa kế mà tính từ ngày 10/9/1990.

+ BLDS 1995 tại Điều 648 cũng có quy định về thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, tại Nghị quyết ngày 28/10/1995 của Quốc hội về việc thi hành BLDS 1995 có quy định: “Đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991, thì sẽ được thực hiện theo quy định của Quốc hội”.

Từ quy định này, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 để giải quyết các giao dịch dân sự về nhà ở (trong đó có quan hệ thừa kế) được xác lập trước ngày 01/7/1991. Theo quy định tại khoản 2 Điều 17 của Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 nói trên thì: “Thời gian từ ngày 01 tháng 7 năm 1996 đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực không tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991” (Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1999). Tuy nhiên, riêng giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia thì tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 quy định: “Nghị quyết này không áp dụng đối với giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia”.

Trên cơ sở quy định tại Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành BLDS 1995, Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 hướng dẫn giải quyết các trường hợp giao dịch về nhà ở (trong đó có quan hệ thừa kế) được xác lập trước ngày 01/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia. Khoản 2 Điều 39 Nghị quyết này quy định: “Thời gian từ ngày 01 tháng 7 năm 1996 đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực không tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia” (Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 có hiệu lực kể từ ngày 01/9/2006).

Như vậy, đối với giao dịch dân sự về nhà ở nói chung, thừa kế nói riêng được xác lập trước ngày 01/7/1991 mà không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia thì thời hạn trong thời hiệu khởi kiện phải cộng thêm 02 năm 06 tháng (từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999); còn nếu có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia thì thời hạn trong thời hiệu khởi kiện phải cộng thêm 10 năm 02 tháng (từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/9/2006).

(ii) Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện thừa kế

Điều 157 BLDS 2015 quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự cụ thể trong trường hợp sau đây:

– Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;

– Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;

– Các bên đã tự hòa giải với nhau.

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện nêu trên.

(iii) Áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo sự lựa chọn của đương sự

Theo quy định tại khoản 2 Điều 149 BLDS 2015, khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015 thì:

Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.

Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”.

Như vậy, theo quy định trên, vụ án thừa kế sẽ không tính thời hiệu theo quy định tại Điều 623 BLDS 2015 nếu không có bên đương sự nào đưa ra yêu cầu áp dụng trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án đó. Vì vậy, Tòa án không được căn cứ vào việc thời hiệu khởi kiện vụ án thừa kế đã hết để đình chỉ giải quyết vụ án mà phải tiến hành giải quyết tranh chấp bình thường. Nếu có đương sự đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu về thừa kế trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc thì Tòa án phải xem xét giải quyết yêu cầu này. Nếu đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án thừa kế đã hết thời hiệu thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015[2].

(iv) Cách tính thời hiệu về thừa kế

BLDS 2015 đã định nghĩa thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định (khoản 1 Điều 149). Do vậy, để tính được thời hiệu về thừa kế thì cần thiết phải xác định các “thời hạn do luật quy định”, tức là xác định về khoảng thời gian trong thời hạn, thời điểm để tính bắt đầu, kết thúc thời hạn.

Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác, có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra. BLDS 2015 cũng quy định rõ thời hạn được tính theo dương lịch, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

* Thời hạn, thời điểm tính thời hạn:[3]

– Trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn là một năm, nửa năm, một tháng, nửa tháng, một tuần, một ngày, một giờ, một phút mà khoảng thời gian diễn ra không liền nhau thì thời hạn đó được tính như sau:

+ Một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày;

+ Nửa năm là sáu tháng;

+ Một tháng là ba mươi ngày;

+ Nửa tháng là mười lăm ngày;

+ Một tuần là bảy ngày;

+ Một ngày là hai mươi tư giờ;

+ Một giờ là sáu mươi phút;

+ Một phút là sáu mươi giây.

– Trường hợp các bên thỏa thuận về thời điểm đầu tháng, giữa tháng, cuối tháng thì thời điểm đó được quy định như sau:

+ Đầu tháng là ngày đầu tiên của tháng;

+ Giữa tháng là ngày thứ mười lăm của tháng;

+ Cuối tháng là ngày cuối cùng của tháng.

– Trường hợp các bên thỏa thuận về thời điểm đầu năm, giữa năm, cuối năm thì thời điểm đó được quy định như sau:

+ Đầu năm là ngày đầu tiên của tháng một;

+ Giữa năm là ngày cuối cùng của tháng sáu;

+ Cuối năm là ngày cuối cùng của tháng mười hai.

* Thời điểm bắt đầu thời hạn:[4]

– Khi thời hạn được xác định bằng phút, giờ thì thời hạn được bắt đầu từ thời điểm đã xác định.

– Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định.

– Khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xảy ra sự kiện đó.

* Kết thúc thời hạn:[5]

– Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn.

– Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn.

– Khi thời hạn tính bằng tháng thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tháng cuối cùng của thời hạn; nếu tháng kết thúc thời hạn không có ngày tương ứng thì thời hạn kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng đó.

– Khi thời hạn tính bằng năm thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày, tháng tương ứng của năm cuối cùng của thời hạn.

– Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.

– Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó.

3. Giải quyết di sản thừa kế hết thời hiệu khởi kiện

Trước đây, khi xác định các vụ án phân chia di sản thừa kế hết thời hiệu khởi kiện là Tòa án thường đình chỉ giải quyết dẫn đến tình trạng di sản thừa kế không biết thuộc về ai. Khắc phục thiếu sót này, ngoài việc quy định chi tiết về thời hiệu thừa kế, BLDS 2015 cũng đã giải quyết khá triệt để vấn đề di sản thừa kế hết thời hiệu khởi kiện. Khi quá thời hạn 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế mà không có yêu cầu chia di sản, hoặc có yêu cầu chia di sản nhưng Tòa án xác định đã hết thời hiệu phân chia di sản theo yêu cầu của một hoặc các bên thì di sản được giải quyết như sau:

– Di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó (trường hợp người quản lý di sản là một trong những người thừa kế).

– Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc quyền sở hữu của người được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (Điều 236 BLDS 2015). Việc chiếm hữu của người này phải là ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn hưởng quyền.

+ Yếu tố ngay tình đòi hỏi người chiếm hữu này không biết và không buộc phải biết mình là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

+ Yếu tố liên tục đòi hỏi người chiếm hữu không bị gián đoạn về thời gian; nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời hiệu xác lập quyền đó được tính lại từ đầu ngay sau khi sự kiện làm gián đoạn chấm dứt. Khoản 2 Điều 153 BLDS 2015 quy định về thời hiệu hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự bị gián đoạn khi có một trong các sự kiện sau đây:

(i) Có sự giải quyết bằng một quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu;

(ii) Quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp và đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Thời hiệu cũng được tính liên tục trong trường hợp việc hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự được chuyển giao hợp pháp cho người khác.

+ Yếu tố công khai đòi hỏi việc chiếm hữu phải được thực hiện một cách minh bạch, không che giấu, sử dụng, bảo quản tài sản đúng với tính năng, công dụng vốn có của nó.

– Khi không có người thừa kế đang quản lý di sản hết thời hiệu, không có người được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật theo các trường hợp nêu trên thì di sản hết thời hiệu thuộc về Nhà nước.

4. Vấn đề chuyển hóa từ di sản thành tài sản chung

Trong thực tế, nhiều Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế khi đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Chủ thể có quyền hưởng di sản không thể tự mình xác lập quyền sở hữu vì chủ thể đang chiếm hữu di sản thừa kế không công nhận quyền tài sản cho họ. Tuy nhiên, nhiều trường hợp dù đã hết thời hiệu khởi kiện nhưng các chủ thể có quyền đối với di sản vẫn thừa nhận các quyền của mỗi thành viên và cùng nhau thỏa thuận, thống nhất là tài sản chung của các thừa kế. Kể từ thời điểm các bên thống nhất là tài sản chung thì di sản đó sẽ chuyển hóa từ di sản thừa kế thành tài sản chung của những người thừa kế theo căn cứ về xác lập quyền sở hữu chung theo quy định tại Điều 208 BLDS 2015.

Nếu các bên tự nguyện thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận thì pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt đó. Trường hợp không tự phân chia, khởi kiện ra Tòa án thì Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung khi có đủ căn cứ mà không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.

Căn cứ pháp lý của việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được quy định tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình. Theo đó, tại tiểu mục 2.4 Mục I của Nghị quyết nêu trên quy định:

2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1) Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2) Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3) Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo ủy quyền… thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Như vậy, căn cứ để chuyển hóa từ di sản thành tài sản chung (dù còn thời hiệu thừa kế hay không) là:

– Thứ nhất, các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia;

– Thứ hai, sự thỏa thuận của các đồng thừa kế phải thể hiện bằng văn bản, có xác nhận của các đồng thừa kế.

Như vậy, khi có đủ các điều kiện và căn cứ nêu trên, theo yêu cầu của đương sự, Tòa án không tiến hành phân chia di sản thừa kế mà tiến hành phân chia tài sản chung.

 

ThS. Nguyễn Văn Huy / Cổng thông tin điển tự Bộ tư pháp

 
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ – PGS.TS. Trần Thị Huệ (đồng chủ biên, 2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
2. PGS.TS. Trần Thị Huệ (2012), Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Sách chuyên khảo), Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
3. ThS. Nguyễn Văn Huy (2017), Thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
4. Tưởng Duy Lượng (2017), Thời hiệu, thừa kế và thực tiễn xét xử, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
5. PGS.TS. Phùng Trung Tập (2016), Chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề triển khai thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
6. PGS.TS. Phùng Trung Tập (2016), Luật Dân sự Việt Nam – Bình giải và áp dụng: Luật Thừa kế (sách chuyên khảo), Nxb. Hà Nội, Hà Nội.
7. TS. Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên, 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
8. TS. Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên, 2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
9. PGS.TS. Phạm Văn Tuyết (chủ biên, 2017), Hướng dẫn môn học Luật Dân sự – Tập 1, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
10. PGS.TS. Phạm Văn Tuyết (chủ biên, 2017), Hướng dẫn môn học Luật Dân sự – Tập 2, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
11. PGS.TS. Phạm Văn Tuyết – TS. Lê Kim Giang (2017), Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

 


 

[1] Tưởng Duy Lượng (2017), Thời hiệu, thừa kế và thực tiễn xét xử, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 460.

[2] Điều 217. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;

[3] Điều 146 BLDS 2015.

[4] Điều 147 BLDS 2015.

[5] Điều 148 BLDS 2015.

Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự – một số vấn đề cần trao đổi

Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo vệ trong thực tế.

Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt, nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự. Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường…, nhưng có thể nói quyền con người trong tố tụng hình sự lại là quyền dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân. Nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự phải giải quyểt rất nhiều vấn đề. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ đề cập trực tiếp tới vấn đề này dưới góc độ tố tụng hình sự bằng việc làm rõ một số vấn đề cơ bản đó là: Quyền con người cần được quy định trong lĩnh vực tố tụng hình sự là những quyền nào; Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự là bảo vệ những ai; Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự ở Việt Nam phải tiếp tục giải quyết vấn đề gì trên cả 3 phương diện: lý luận, lập pháp và thực tiễn.

1. Quyền con người trong tố tụng hình sự – từ Luật quốc tế đến Luật Việt Nam

Phát hiện, xử lý tội phạm là công việc của bất kỳ nhà nước nào nhằm bảo vệ lợi ich của nhà nước, của xã hội, của cá nhân trong xã hội đó. Tuy nhiên, con người khi sinh ra ai cũng có quyền sống trong môi trường an toàn trong đó có sự an toàn về pháp lý. Sẽ là một xã hội bất công và quyền con người bị xâm phạm nếu dân chúng luôn cảm thấy bất an bởi cảm giác có thể bị đưa vào vòng quay của tố tụng hình sự với tư cách là người bị tình nghi, bị can, bị cáo bất cứ lúc nào. Vừa đảm bảo việc phát hiện xử lý tội phạm, vừa phải đảm bảo không xâm phạm quyền con người là một mâu thuẫn, để giải quyết hài hòa mâu thuẫn này đó chính là biểu hiện của một kiểu tố tụng hình sự trong một nhà nước văn minh. Công việc đầu tiên ở đâu cũng đòi hỏi và nhà nước nào cũng có nhiệm vụ phải làm là: Ghi nhận cụ thể những quyền con người nào trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự của mình. Việc ghi nhận này không phải là sự ban phát từ phía nhà nước mà bắt nguồn từ nhiều yếu tố trong đó có việc thừa nhận những giá trị cao quý nhân loại đã thừa nhận chung. Những giá trị đó là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, không ngừng nghỉ của loài người mới đạt được. Từ chỗ quyền con người trong đó có tính mạng, sức khỏe, phẩm giá của con người bị chà đạp trong các phiên tòa man rợ, phi nhân tính thời trung cổ, phong kiến, phiên tòa “giàn thiêu” giáo hội…cho đến kiểu tố tụng văn minh, nhân đạo trong nhà nước pháp quyền chứng minh thuyết phục cho giá trị của quyền con người trong tố tụng hình sự. Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn kiện quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự như: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR); Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1985…

Nghiên cứu các văn bản này đưa đến một khẳng định quyền con người trong tố tụng hình sự chẳng qua là sự cụ thể quyền được sống, quyền được tự do trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Đây được coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong tố tụng hình sự. Theo đó, quyền con người trong tố tụng hình sự bao gồm những quyền sau “Điều 10, 11 UHDR và Điều 14, 15 ICCPR”: Quyền được xét xử công bẳng bởi một thủ tục tố tụng hình sự; Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và quyền tự do cá nhân khác. Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự phải trên cơ sở luật định; Quyền được suy đoán vô tội; Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ; Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt; Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan, quyền không bị kết tội hai lần về cùng một hành vi…; Các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét xử…

Những quyền trên là những quyền của người bị buộc tội – đối tượng quan trọng nhất cần bảo vệ trong trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tham gia vào quá trình tố tụng hình sự không chỉ có những người bị buộc tội mà còn có nhiều người khác mà lâu nay khi nghiên cứu về quyền con người trong tố tụng hình sự, chúng ta hay ít chú ý đó là quyền của nạn nhân của tội phạm (người bị hại), quyền của người làm chứng và những người liên quan khác, quyền con người của những người tiến hành tố tụng như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Những người này họ cũng có quyền con người của họ như quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm, quyền được bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế của mình bằng con đường tố tụng hình sự.

Cho đến nay, Việt Nam chúng ta đã tham gia phần lớn và cam kết thực hiện ở cả hai phương diện lập pháp và cam kết thực hiện thực tiễn các văn kiện về quyền con người, điều đó được thể hiện trong Luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở mức độ khác nhau. Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành có các nguyên tắc như: Thừa nhận Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự; Nguyên tắc bảo vệ quyền cơ bản của công dân; Bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, suy đoán vô tội, quyền bào chữa, quyền kháng cáo, quyền minh oan…

Nghiên cứu quyền con người trong tố tụng hình sự không thể không đưa ra định nghĩa về nó. Hiện nay, có một số khái niệm về quyền con người trong tố tụng hình sự đã được đưa ra nhưng chủ yếu là nhấn mạnh đến quyền con người bị buộc tội mà chưa chú ý đến quyền của những người khác tham gia tố tụng hình sự: Quyền con người trong tố tụng hình sự là những quyền thiêng liêng chỉ dànhcho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện trên thực tế.

2. Cần phải bảo vệ quyền con người của những ai trong tố tụng hình sự?

Tố tụng hình sự xét cho cùng là quá trình giải quyết trên cơ sở pháp luật các xung đột giữa một bên là nhà nước với một bên được cho là người bị cho là thực hiện một hành vi tội phạm. Ở Mỹ người ta thường nói: Vụ án bang NewYork kiện Quarle, vụ bang Kolorado kiện Spring…Trong quá trình này luôn cần đến một vị trọng tài đó là Tòa án. Trong đó quyền con người của bên bị buộc tội luôn phải được quan tâm đầu tiên.

2.1. Bảo vệ quyền con người của bên bị buộc tội

Người bị buộc tội là khái niệm đang tranh luận trong khoa học Luật Tố tụng hình sự. Người viết đồng ý với quan điểm cho rằng người bị buộc tội bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Xuất phát từ quan điểm thi hành án không phải là một khâu trong chuỗi các hoạt động tố tụng hình sự mà cần phải tách ra thành một hệ thống pháp luật, ngành khoa học nghiên cứu riêng nên vấn đề quyền con người của người bị kết án, tù nhân, người mãn hạn tù…thì ở đây người viết không đưa ra để trao đổi.

2.1.1. Bảo vệ bằng việc quy định các quyền của người bị buộc tội

Theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành, quyền con người của người bị buộc tội được thể hiện thông qua hệ thống các nguyên tắc đồ sộ của mình và được cụ thể hóa trong các chế định chứng minh, chứng cứ, các biện pháp ngăn chặn, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng; trong các quy định về xét xử của Tòa án và vấn đề minh oan cho người bị oan…

Về quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Bộ luật tố tụng hình sự nước ta quy định khá đầy đủ các quyền của người bị buộc tội như: quyền được biết mình bị buộc tội về tội gì; Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình; Quyền được chứng minh sự vô tội của mình bằng việc đưa ra tài liệu, đồ vật, yều cầu; Quyền được khiếu nại các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; Quyền được tham gia phiên tòa và tranh luận tại phiên tòa; Quyền không bị xét xử một cách quá chậm trễ thể hiện các quy định về thời hạn tạm giữ để khởi tố vụ án, thời hạn điểu tra, thời hạn truy tố, thời hạn xét xử…ví dụ như: hết thời hạn tạm giữ nếu cơ quan điều tra không có căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người bị tạm giữ; nếu hết thời hạn điều ta không chứng minh được tội phạm thì phải đình chỉ điều tra, hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, trả lại cho họ trạng thái bình thường của người vô tội và xin lỗi công khai, bồi thường nhà nước…

Khi một người bị buộc tội thì họ phải được xét xử tại tòa án độc lập, công khai và công bằng. Cụ thể hóa nguyên tắc này, Hiến pháp cũng như Luật tố tụng hình sự nước ta có những quy định chặt chẽ về thủ tục xét xử vụ án hình sự tại Tòa án trong đó ghi nhận vai trò của Tòa án trong việc xét xử, đồng thời quy định các quyền của bị cáo tại giai đoạn xét xử. Đó là việc quy định cụ thể thời hạn xét xử cho từng loại tội cụ thể. Quy định quyền của bị cáo trước tòa như: tự mình bào chữa, nhờ người bào chữa, tranh tụng bình đẳng với bên buộc tội …Quy định quyền kháng cáo và nguyên tắc hai cấp xét xử. Những quy định này nhằm đảm bảo quyền được xét xử công bằng và có một bản án công bằng của người bị buộc tội.

2.1.2. Bảo vệ bằng việc quy định nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng

Khi công tố quyền được phát động, để tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng phát hiện, xử lý tội phạm, pháp luật cho phép họ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó hạn chế một số quyền tự do của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Tuy nhiện, sự hạn chế tự do của người bị buộc tội phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế, tránh sự làm quyền. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định khá chặt chẽ các căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú…cũng như các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự khác như khám người, khám chỗ ở…Tất cả các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự trên đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng không được áp dụng tùy tiện, lạm dụng mà chỉ được thực hiện khi có căn cứ và theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Xu hướng chung của tố tụng hình sự văn minh là hạn chế ở mức thấp nhất việc áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, đồng thời mở rộng các biện pháp khác “mềm hơn” như bảo lãnh…Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế tố tụng hình sư đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng vừa đảm bảo nhiệm vụ phát hiện, xử lý tội phạm, vừa không xâm phạm đến quyền con người của người bị buộc tội. Điều quan trọng là cần có chế tài nghiêm khắc xử lý những hành vi bắt tạm giữ, tạm giam quá mức cần thiết hoặc tái pháp luật của những người tiến hành tố tụng.

Nguyên tắc suy đoán vô tội chỉ rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội. Điều đó cũng có nghĩa bên buộc tội nếu không chứng minh được một người nào đó phạm tội thì phải tha bổng và tuyên bố người đó vô tội. Tuy nhiện, không phải khi đã tuyên bố trách nhiệm chứng minh thuộc về bên buộc tội thì bên này có thể dùng mọi biện pháp để thu thập chứng cứ, mọi biện pháp điều tra để phục vụ cho việc chứng minh của mình, kể cả những biện pháp xâm phạm đến quyền con người kiểu như: bắt nhầm hơn bỏ sót. Hoạt động chứng minh nói riêng và thu thập chứng cứ nói chung cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tức là phải đảm bảo pháp chế.

Khi bàn đến quyền con người trong tố tụng hình sự không thể bỏ qua đối tượng đặc biệt và cũng là đối tượng cần có cơ chế bảo vệ đặc biệt đó là người bị buộc tội là người chưa thành niên. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trước tòa và bảo đảm quyền xét xử công bằng, là nguyên tắc của tố tụng hình sự. Tuy nhiên, công bằng có thể hiểu theo chiều ngang và chiều dọc. Theo chiều ngang là đối xử như nhau với những người có hoàn cảnh và điều kiện như nhau. Theo chiều dọc là đối xử khác nhau với những người có hoàn cảnh khác nhau. Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành đã giành cho người chưa thành niên bị buộc tội một thủ tục tố tụng hình sự riêng. Đó là những quy định hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, tạm giữ, tạm giam. Quy định việc có mặt của người đại diện trong quá trình tố tụng hình sự, quy định thành phần Hội đồng xét xử phải có Hội thẩm nhân dân là cán bộ Đoàn, giáo viên…

2.2. Bảo vệ quyền con người của người bị hại và người làm chứng trong tố tụng hình sự

Trong tố tụng hình sự, nạn nhân của tội phạm tham gia tố tụng với tư cách người bị hại không chỉ là quyền mà là nghĩ vụ. Ở phương diện quyền con người nói chung, người bị hại đã bị tội phạm xâm phạm bằng cách gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản cũng như các quyền lợi ích hợp pháp khác. Trong tố tụng hình sự, quyền của người bị hại biểu hiện ở quyền được yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền con người của mình. Những quyền này được ghi nhận trước hết là quyền tố tụng của họ. Đó là: Quyền được đưa ra các yêu cầu đối với cơ quan tiến hành tố tụng. Được đưa ra các tài liệu, đồ vật bảo vệ quyền, lợi ich hợp pháp của mình; Được tham gia, giám sát các hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng; Được khiếu nại, kháng cáo các quyết định, bản án của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Đặc biệt người bị hại có quyền được bảo vệ an toàn trong quá trình tiến hành tố tụng. Được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, thông tin cá nhân, bí mật đời tư…chẳng hạn như trong các tội xâm phạm tình dục
(Tội hiếp dâm, Tội Hiếp dâm trẻ em) … Bộ luật tố tụng hình sự quy định xử kín.

Trong Bộ luật tố tụng hình sự của bất cứ quốc gia nào, người làm chứng trong vụ án hình sự đều được đánh giá cao trong việc phát hiện tội phạm. Thậm chí có lúc, có nơi người ta coi lời khai của người làm chứng như một loại chứng cứ “vua”. Tại Anh, trong các năm 2002 – 2003 có 2845 vụ án ở Tòa án Hoàng gia và 13.328 vụ án ở Tòa án sơ thẩm đã bị hoãn vì nhân chứng vắng mặt chiếm 22% và 26% vụ án bị hoãn. Cơ quan kiểm toán quốc gia Anh ước tính mỗi năm các phiên tòa bị hoãn đã gây thiệt hại 41triệu bảng (hơn 1.000tỷ VNĐ), ngoài thiệt hại về kinh tế thì thiệt hại về công lý có lẽ to lớn hơn nhiều. Chính vì vậy, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và các quyền lợi khác của người làm chứng để họ thực hiện tốt vai trò làm chứng của mình là việc cần quan tâm. Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những bước tiến dài trong việc bảo vệ người làm chứng như: quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình; quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của ngưởi tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điểu 55). Thực tế cho thấy, làm chứng trong vụ án hình sự là nghĩa vụ hết sức nặng nề đối với người làm chứng. Bên cạnh việc phải khai trung thực các tình tiết của vụ án, người làm chứng và gia đình họ phải đối mặt với những đe dọa nguy hiểm từ phía tội phạm và những người liên quan đến tội phạm. Những năm 80, 90 của thế kỷ trước ở Hoa Kỳ rất phổ biến hiện tượng “băng nhóm tội phạm đường phố” với thiên hướng bạo lực. Theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoa Kỳ J. Keeney lúc đó trước Hạ viện đã thừa nhận “sự sợ hãi của những người có thể trở thành NLC trong vụ án lớn đến mức nó đã hạn chế đáng kể khả năng của các cơ quan bảo vệ pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự những kẻ tội phạm bạo lực. Biết về sự sợ hãi này cũng như biết về sự bất lực của cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc bảo đảm an toàn cho NLC đã làm cho những kẻ tội phạm càng thêm tin tưởng về khả năng không bị pháp luật trừng phạt và càng lộng hành hơn đến nỗi chúng thẳng tay trả thù với cả những NLC gián tiếp. Chính vì vậy, bảo vệ quyền con người của người làm chứng là nghĩa vụ của nhà nước và các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo cho quá trình phát hiện, xử lý tội phạm được chính xác và toàn diện.

3. Một số giải pháp nhằm bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự ở Việt Nam

Để bảo vệ tốt hơn quyền con người trong tố tụng hình sự, người viết xin đưa ra một số giải pháp sau:

3.1. Về mặt lý luận

Tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền con người trong đó có quyền con người trong tố tụng hình sự để đưa đến nhận thức đúng đắn về vấn đề quyền con người như một giá trị của nhân loại. Khả năng, điều kiện tiếp thu các giá trị đó vào hoàn cảnh Việt Nam trên các phương diện lập pháp và thực tiễn. Tức là cần luận giải tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người nói chung và quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng. Yêu cầu đối với nghiên cứu lý luận về quyền con người trong tố tụng hình sự là phải đảm bảo được chiều sâu, tính đa dạng, khách quan của lý luận về quyền con người, phản ánh được thực tiễn sinh động của quá trình tố tụng hình sự và đảm bảo tính khả thi của các giải pháp.

3.2. Về phương diện lập pháp

Quyền con người trong tố tụng hình sự chi được đặt ra khi nhà nước tiến hành hoạt động tố tụng hình sự (điều tra, truy tố, xét xử). Chính vì vậy, bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự trước hết đòi hỏi hệ thống pháp luật không chỉ giúp nhà nước phát hiện xử lý tội phạm mà con không làm oan người vô tội. Dưới góc độ bảo vệ quyền con người Luật tố tụng hình sự Việt Nam cần điều chỉnh theo hướng sau:

– Ghi nhận đầy đủ các quyền con người trong tố tụng hình sự trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự. Trong luật thực định của chúng ta cho thấy còn một số quyền con người của người bị buộc tội chưa được ghi nhận: quyền được im lặng, quyền không buộc phải đưa ra chứng cứ chống lại chính mình, quyền thu thập đưa ra chứng cứ chống lại chính mình, quyền thu thập đưa ra chứng cứ, quyền bào chữa…vẫn chưa được quy định cụ thể.

Bên cạnh việc ghi nhận những quyền của người bị buộc tội, điểm yếu nhất của tố tụng hình sự nước ta đó chính là cơ chế để bảo vệ quyền con người. Quyền bào chữa, quyền thu thập đưa ra chứng cứ của người bào chữa, người bị buộc tội…được ghi nhận nhưng cơ chế nào để những người này thực hiện thì hiện chưa được khai thông.

Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự cũng có nghĩa là nếu người nào có những hành vi xâm phạm đến quyền con người trong tố tụng hình sự thì có chế tài nghiêm khắc để xỷ lý. Tức là trả lời cho câu hỏi: nếu không thực hiện thì có làm sao không? Hiện vẫn còn để ngỏ. Một vụ án bị chậm trễ đưa ra xét xử, một quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn không hợp lý và hợp pháp…đều chưa có chế tài cụ thể. Bên cạnh đó, việc bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng trong vụ án hình sự chưa được quan tâm đúng mức nên vẫn có những trường hợp họ bị trù dập, bị trả thù, bị đe dọa. Khi người ngay vẫn còn sợ kẻ gian thì không thể nói quyền con người đã được bảo đảm và kéo theo đó chính là chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự không cao.

3.3. Về phương diện thực tiễn

Cần nâng cao nhận thức về quyền con người, hay nói cách khác là tăng cường giáo dục quyền con người cho những người tiến hành tố tụng là các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, bởi một điều mà người ta lo ngại nhất khi nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự đó chính là sự xâm phạm quyền con người từ phía công quyền, sự xâm phạm này không chỉ thể hiện ở việc pháp luật còn khoảng trống mà phần nhiều nằm ở chính hoạt động cụ thể của người tiến hành tố tụng.

Đối với người bị buộc tội: cần nâng cao khả năng tự bảo vệ quyền con người của họ bằng việc tạo điều kiện tốt nhất để họ có thể tiếp cận các dịch vụ pháp lý thực hiện quyền bào chữa của mình trong quá trình tố tụng như thuê người bào chữa, chi phí thu thập chứng cứ, đơn giản hóa các thủ tục tố tụng…Chỉ khi nào thế và lực của hai bên buộc tội và gỡ tội đạt được thế quân bình ở mức tương đối thì quyền con người trong tố tụng hình sự mới được đảm bảo trên thực tiễn.

Đoàn Thị Ngọc Hải / Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp

Danh mục tài liệu tham khảo

  1. Xem: Phạm Hồng Hải –Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân – 2004;
  2. Xem: Nguyễn Thái Phúc –Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng hình sự, Tạp chí khoa học pháp lý, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, số 3/2007;
  3. Xem: P.Reichel – Tư pháp hình sự so sánh, Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 1999, trang 79;
  4. Xem: Báo cáo nhân quyền của Việt Nam, http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009

Thủ tục thay đổi người đại diện theo pháp luật

Thực hiện thủ tục thay đổi Người đại diện theo pháp luật là việc thay đổi người lãnh đạo, được doanh nghiệp ủy quyền, thay mặt doanh nghiệp thực hiện các giao dịch vì lợi ích của công ty, với đối tác, khách hàng, cơ quan nhà nước và đồng thời là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của Công ty. Dưới dây Văn phòng luật sư Hoàng Hưng xin giới thiệu quy trình tiến hành thay đổi người đại diện theo phát luật như sau:
 

1. Quy định của pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty.

Người đại diện theo pháp luật của công ty là người đứng đầu công ty, được công ty ủy quyền, thay mặt công ty thực hiện các giao dịch vì lợi ích của công ty, với đối tác, khách hàng và cơ quan Nhà nước. Quyền và chức năng của người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định trong Điều lệ doanh nghiệp, các giấy tờ giao dịch phải ghi rõ điều đó.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty là Chủ tịch Hội đồng quản trị (Chủ tịch Hội đồng thành viên) hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc được quy định tại Điều lệ công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải cư trú ở Việt Nam; trong trường hợp vắng mặt thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty.

2. Hồ sơ thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty

– Thông báo thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty;
– Quyết định bằng văn bản về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật;
– Bản sao biên bản họp về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật ;
– Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân còn hiệu lực của người thay thế làm đại diện theo pháp luật:
+ Cá nhân có quốc tịch Việt Nam: Chứng minh thư hoặc hộ chiếu;
+ Cá nhân có quốc tịch nước ngoài: Giấy đăng ký tạm trú do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Giấy phép lao động và Hộ chiếu;
– Bản gốc giấy phép đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký thuế;
– Mục lục hồ sơ (Ghi theo thứ tự trên);
– Bìa hồ sơ (bằng bìa giấy mỏng hoặc nylon cứng không có chữ sử dụng cho mục đích khác).

3. Trình tự, thủ tục thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty

a) Trình tự, thủ tục thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty
– Nộp hồ sơ: Doanh nghiệp tiến hành nộp hồ sơ và lệ phí đắng ký doanh nghiệp tại Bộ phận một cửa liên thông về Đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký con dấu tại Sở kế hoạch và Đầu tư.
– Tiếp nhận hồ sơ:
+ Cán bộ tại bộ phận một cửa liên thông kiểm tra đầu mục hồ sơ và một số nội dung cần thiết trong hồ sơ.
+ Nếu đủ điều kiện thì tiếp nhận hồ sơ và giao Giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.
– Trả kết quả:
+ Đối với hồ sơ hợp lệ: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;
+ Đối với hồ sơ chưa hợp lệ: Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ.
b) Cách thức thực hiện:
Nộp trực tiếp tại Bộ phận “một cửa” – Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch và Đầu tư.

4. Cơ quan giải quyết

– Cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định: Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch và Đầu tư;
– Cơ quan trực tiếp thực hiện thủ tục: Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch và Đầu tư.

5. Thời hạn giải quyết:

– 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ.

Thủ tục điều chỉnh nội dung dự án trong giấy chứng nhận đầu tư

Hướng dẫn thủ tục điều chỉnh nội dung dự án đầu tư trong giấy chứng nhận đăng ký dầu tư (Trường hợp dự án đầu tư nước ngoài không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư)
 
1. Khi có nhu cầu thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
2. Nhà đầu tư nộp hồ sơ đăng ký điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại Sở kế hoạch đầu tư tỉnh, thành phố nơi dự án đầu tư đặt trụ sở chính
3. Hồ sơ đăng ký điều chỉnh Nội dung dự án đầu tư trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (trường hợp dự án đầu tư không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư) gồm có:
a) Văn bản đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư;
b) Báo cáo tình hình triển khai dự án đầu tư đến thời điểm điều chỉnh;
c) Quyết định của nhà đầu tư về việc điều chỉnh dự án đầu tư (Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên/Đại hội đồng cổ đông/thành viên hợp danh/chủ sở hữu của Tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư về việc điều chỉnh dự án đầu tư hoặc văn bản hợp pháp khác theo quy định của pháp luật);
Xem thêm dịch vụ thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
d) Giải trình hoặc cung cấp giấy tờ liên quan đến việc điều chỉnh những nội dung sau (nếu có):

  • Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân; Giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý đối với nhà đầu tư là tổ chức;
  • Đề xuất dự án đầu tư gồm các nội dung: Nhà đầu tư thực hiện dự án, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án;
  • Bản sao một trong các tài liệu sau: Báo cáo tài chính 02 năm gần nhất của nhà đầu tư; cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ; cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính, bảo lãnh về năng lực tài chính của nhà đầu tư; tài liệu thuyết minh năng lực tài chính của nhà đầu tư;
  • Đề xuất nhu cầu sử dụng đất; trường hợp dự án không đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì nộp bản sao hợp lệ thỏa thuận thuê địa điểm hoặc tài liệu khác xác nhận nhà đầu tư có quyền sử dụng địa điểm để thực hiện dự án đầu tư.
  • Giải trình về sử dụng công nghệ đối với dự án có sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ, bao gồm các nội dung: tên công nghệ, xuất xứ công nghệ, sơ đồ quy trình công nghệ; thông số kỹ thuật chính, tình trạng sử dụng của máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ chính.

e) Bản sao các Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư/Giấy chứng nhận đầu tư/Giấy phép đầu tư/Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã cấp.
4. Thời hạn giải quyết: 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
5. Sau khi nhận được kết quả: Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư tiến hành thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh theo quy định

Trình tự giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền

Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thoả thuận hợp pháp khác. Việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể sẽ được tiến hành theo trình tự thủ tục theo quy định như sau:
 
1. Về thẩm quyền giải quyết
– Hoà giải viên lao động;
– Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện).
– Toà án nhân dân.
 
 2. Về trình tự thủ tục giải quyết
Tranh chấp lao động tập thể về quyền giải quyết bởi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện theo thủ tục sau:
– Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải tiến hành giải quyết tranh chấp lao động.
– Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động phải có đại diện của hai bên tranh chấp. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan tham dự phiên họp.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác để xem xét giải quyết tranh chấp lao động.
– Trong trường hợp các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
 
3. Về thời hiệu yêu cầu giải quyết
Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
 

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp

Thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.
2. Toà án nhân dân.

Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.
3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.
Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.
Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.
Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.
Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.
Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.
4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trongbiên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.
Thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp lao động tập thể.

 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền bao gồm:
a) Hoà giải viên lao động;
b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện).
c) Toà án nhân dân.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:
a) Hoà giải viên lao động;
b) Hội đồng trọng tài lao động.

Trình tự giải quyết tranh chấp lao động tập thể tại cơ sở

1. Trình tự hoà giải tranh chấp lao động tập thể được thực hiện theo quy định tại Điều 201 của Bộ luật này. Biên bản hòa giải phải nêu rõ loại tranh chấp lao động tập thể.
2. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì thực hiện theo quy định sau đây:
a) Đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền các bên có quyền yêu cầu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết;
b) Đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích các bên có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết.
3. Trong trường hợp hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì các bên có quyền gửiđơn yêu cầuChủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xác định loại tranh chấp về quyền hoặc lợi ích.
Trường hợp là tranh chấp lao động tập thể về quyền thì tiến hành giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và Điều 205 của Bộ luật này.
Trường hợp là tranh chấp lao động tập thể về lợi ích thì hướng dẫn ngay các bên yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.

 Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện

1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải tiến hành giải quyết tranh chấp lao động.
2. Tại phiên họp giải quyết tranh chấp lao động phải có đại diện của hai bên tranh chấp. Trường hợp cần thiết, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan tham dự phiên họp.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký và các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác để xem xét giải quyết tranh chấp lao động.
3. Trong trường hợp các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của Hội đồng trọng tài lao động

1. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết, Hội đồng trọng tài lao động phải kết thúc việc hòa giải.
2. Tại phiên họp của Hội đồng trọng tài lao động phải có đại diện của hai bên tranh chấp. Trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài lao động mời đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp.
Hội đồng trọng tài lao động có trách nhiệm hỗ trợ các bên tự thương lượng, trường hợp hai bên không thương lượng được thì Hội đồng trọng tài lao động đưa ra phương án để hai bên xem xét.
Trong trường hợp hai bên tự thỏa thuận được hoặc chấp nhận phương án hòa giải thì Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hoà giải thành đồng thời ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên.
Trường hợp hai bên không thỏa thuận được hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hoà giải không thành.
Biên bản có chữ ký của các bên có mặt, của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng trọng tài lao động.
Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.
3. Sau thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được thì tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công.
Trong trường hợp Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải không thành thì sau thời hạn 03 ngày, tập thể lao động có quyền tiến hành các thủ tục để đình công.

Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền

Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Cấm hành động đơn phương trong khi tranh chấp lao động tập thể đang được giải quyết

Khi vụ việc tranh chấp lao động tập thể đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn theo quy định của Bộ luật này thì không bên nào được hành động đơn phương chống lại bên kia.