Bàn về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên

Mặc dù không có quyền độc lập nhưng Kiểm tra viên thực hiện rất nhiều công việc giống Kiểm sát viên nhưng dưới sự giám sát của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, giới hạn về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên chỉ trong phạm vi trước khi xét xử cũng là một vấn đề chúng ta cần phải bàn luận.
 

Kiểm tra viên là một chức danh của ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 2005, nhưng chỉ khi Luật Tổ chức VKSND năm 2014 có hiệu lực (01/6/2015) thì Kiểm tra viên mới là chức danh tư pháp, được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để giúp Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự phân công của Viện trưởng VKSND.

 
Khoản 4,5 Điều 90 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định những nhiệm vụ, quyền hạn cũng như phải chịu trách nhiệm của Kiểm tra viên:

4. Kiểm tra viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ, việc và báo cáo kết quả với Kiểm sát viên;
b) Lập hồ sơ kiểm sát vụ, việc;
c) Giúp Kiểm sát viên thực hiện hoạt động khác khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp;
d) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự phân công của Viện trưởng.
5. Kiểm tra viên chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Kiểm sát viên và trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, nhiệm vụ của Kiểm tra viên chủ yếu là giúp việc cho Kiểm sát viên trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.Tất cả những việc họ được làm đều dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Kiểm sát viên hoặc chịu sự phân công từ Viện trưởng nên họ sẽ phải chịu trách nhiệm đầu tiên là trước các Kiểm sát viên và Viện trưởng. Điều này cho thấy thẩm quyền của họ chỉ bó gọn trong những phần việc được giao mà không được phép chủ động thực hiện bất kì một nhiệm vụ nào nếu chưa được sự đồng ý của những người mà họ giúp việc. Đây là những quy định chung nhất về thẩm quyền của Kiểm tra viên và trên cơ sở đó được quy định cụ thể trong các Bộ luật tố tụng như sau:
Điều 43 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm tra viên gồm có:

1. Kiểm tra viên thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo sự phân công của Kiểm sát viên:
a) Ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi cung và ghi các biên bản khác trong tố tụng hình sự;
b) Giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
c) Giúp Kiểm sát viên trong việc lập hồ sơ kiểm sát, hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm và tiến hành hoạt động tố tụng khác.
2. Kiểm tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên về hành vi của mình.

Tiếp theo, Điều 59 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên:

Khi được phân công tiến hành hoạt động tố tụng, Kiểm tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên;
2. Lập hồ sơ kiểm sát vụ việc dân sự theo phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát;
3. Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

Việc được tham gia ghi chép biên bản, chuyển giao các văn bản tố tụng cũng như lập hồ sơ kiểm sát, Kiểm tra viên đã tiếp xúc với hầu hết các công việc của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự. Trong lĩnh vực dân sự thì Kiểm tra viên được chủ động công việc trong việc nghiên cứu hồ sơ rồi báo cáo lại kết quả công việc, lập hồ sơ kiểm sát và giúp việc trong kiểm sát hoạt động tư pháp.
Có thể thấy mặc dù không có quyền độc lập nhưng Kiểm tra viên thực hiện rất nhiều công việc giống Kiểm sát viên nhưng dưới sự giám sát của Kiểm sát viên. Nhà làm luật đã tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi cho cả Kiểm sát viên và Kiểm tra viên để có thể phối hợp với nhau trong các hoạt động tố tụng và cũng là nền tảng để đào tạo Kiểm tra viên có thể trở thành Kiểm sát viên trong tương lai.
Tuy nhiên việc giới hạn phạm vi giúp việc của Kiểm tra viên chỉ đến trước xét xử cũng là một vấn đề chúng ta cần phải bàn luận.
Kiểm tra viên không thể giúp việc Kiểm sát viên tham gia phiên tòa hình sự, dân sự hay phiên họp dân sự. Việc giới hạn như vậy sẽ khiến Kiểm tra viên rất khó khăn trong việc tiếp cận môi trường xét xử là nơi mà Kiểm sát viên sẽ thể hiện rất nhiều kĩ năng, thao tác và cả bản lĩnh nghề nghiệp khi tham gia phiên tòa hoặc phiên họp.
Nếu được cùng Kiểm sát viên tham gia các phiên tòa, phiên họp sẽ giúp Kiểm tra viên học tập, rèn luyện đối với kĩ năng kiểm sát xét xử, tích lũy kinh nghiệm; đồng thời Kiểm tra viên có thể giúp Kiểm sát viên một số công việc như ghi ghép, tìm kiếm tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ,… để Kiểm sát viên có thể tập trung hơn vào các hoạt động tranh tụng hoặc đưa ra những ý kiến đánh giá chứng cứ xác đáng hơn.
Thiết nghĩ, việc mở rộng hơn nữa nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên trong giúp việc Kiểm sát viên cả giai đoạn xét xử là cần thiết, để Kiểm tra viên được tham gia vào các hoạt động tố tụng một cách đầy đủ hơn, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới.      
 

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Áp dụng án lệ trong giải quyết án dân sự, hành chính
Khi Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) và Luật tố tụng hành chính (LTTHC) năm 2015 có hiệu lực thi hành, lần đầu tiên Việt Nam chấp nhận và sử dụng án lệ trong xét xử nhằm đảm bảo công bằng, công lý mà không phải đợi việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật – điều mà không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách nhanh chóng và dễ dàng.
Nguyên tắc áp dụng án lệ được quy định tại Điều 191 LTTHC, Điều 45 BLTTDS và được cụ thể hóa trong hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2015 của HĐTP TAND TC. Về nguyên tắc áp dụng án lệ trong xét xử, tại Điều 8 Nghị quyết 03/2015/NQ – HĐTP quy định:“Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau; trường hợp không áp dụng án lệ thì phải phân tích, lập luận, nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Toà án. Trường hợp do có sự thay đổi của Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ mà án lệ không còn phù hợp thì Thẩm phán, Hội thẩm không áp dụng án lệ”.
Từ năm 2016 đến nay Việt Nam đã công bố được 16 án lệ. Tuy nhiên, việc áp dụng án lệ trong các quan hệ hành chính, dân sự, KDTM cụ thể hiện còn mới mẻ đối với những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng nên việc nghiên cứu nhằm nâng cao kỹ năng áp dụng án lệ là việc làm rất cần thiết hiện nay. Bởi lẽ, quá trình giải quyết các tranh chấp nhiều trường hợp thấy rằng việc hiểu nội dung án lệ còn mang tính chất chủ quan dẫn đến việc vận dụng pháp luật nội dung không thống nhất.

Về việc áp dụng án lệ trong xét xử, giải quyết vụ việc dân sự

Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 03/2015 ta có thể hiểu để áp dụng án lệ, thì có hai vấn đề phải xác định là các tình tiết khách quan và vấn đề pháp lý cần được giải quyết trong vụ việc dân sự mà Tòa án đã thụ lý có giống với các tình tiết khách quan và vấn đề pháp lý đã được giải quyết trong Án lệ hay không. Do đó, trong quá trình nghiên cứu, áp dụng án lệ, cần phải lưu ý một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, án lệ chỉ được áp dụng khi “các tình tiết khách quan cơ bản” của vụ việc dân sự đang được giải quyết được xác định là tương tự với “các tình tiết khách quan cơ bản” của vụ việc dân sự trong án lệ.
Nói cách khác, đây là những tình tiết quan trọng làm cơ sở cho yêu cầu của đương sự. Nếu các tình tiết khách quan cơ bản này chỉ giống nhau một phần hoặc phần lớn thì không được áp dụng án lệ.
Thứ hai, Khi giải quyết các tranh chấp, người tiến hành tố tụng phải xác định đối tượng khởi kiện, quan hệ pháp luật điều chỉnh đối tượng khởi kiện đó; trường hợp không có luật điều chỉnh mới áp dụng án lệ.
Thứ ba, thực tế áp dụng án lệ trong xét xử sẽ nảy sinh một số bất cập như:
Một, theo nội dụng Điều 8 Nghị quyết 03/2015 quy định thì việc áp dụng án lệ là có tính bắt buộc với các sự kiện đã được chọn làm án lệ. Tuy nhiên việc viện dẫn án lệ ở các Tòa án chưa đảm bảo nguyên tắc này.
Ví dụ án lệ số 08/2016 phần khái quát án lệ “Khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng, tổ chức tín dụng khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (nếu có), lãi nợ quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay.”
Thực tiễn giải quyết án tranh chấp HĐTD trước năm 2013 đa số đều có quan điểm giải thích tương tự TTLT 01/1997 đều xác định sau khi xét xử, HĐTD đã chấm dứt nên sau xét xử đều Điều 305 BLDS năm 2005 áp dụng lãi suất chậm trả với tất cả các khoản tiền theo lãi suất cơ bản. Tuy nhiên, cuối năm 2012 đầu năm 2013, trên cơ sở bản án GĐT, Tòa kinh tế TAND tối cao và tòa án một số tỉnh có văn bản hướng dẫn tạm thời áp dụng áp dụng lãi suất chậm thi hành án theo lãi suất đã thỏa thuận tại HĐTD (phù hợp với quy định của ngân hàng nhà nước). Do việc xét xử theo lối mòn đó từ năm 2013 đến nay, kể cả khi đã có Án lệ 08/2016, nhiều bản án vẫn xét xử như nội dung án lệ 08/2016 nhưng viện dẫn án lệ (qua kiểm sát các bản án sơ, phúc thẩm trên địa bàn Hà nội Phòng 10 Viện KSND thành phố Hà Nội đều có nhận xét với 70% số án này chưa viện dẫn án lệ, thậm chí có địa phương vẫn áp dụng lãi suât cơ bản, không đưa ra lập luật tại sao không áp dụng án lệ 08 nên bị Viện KSND thành phố Hà Nội kháng nghi theo trình tự phúc thẩm).
Hai, pháp luật quy định Tòa án tuân theo án lệ xuất phát từ hiệu lực pháp lý của án lệ sẽ dẫn đến nguy cơ Tòa án dụng án lệ một cách cứng nhắc.
Tại khoản 3 Điều 9 Nghị quyết 03/2015/ NQ – HĐTP quy định cho phép Tòa án không áp dụng án lệ: “Trường hợp Hội đồng xét xử không áp dụng án lệ và có phân tích, lập luận nêu rõ lý do trong bản án, quyết định thì ngay sau khi tuyên án phải gửi kiến nghị thay thế án lệ về Tòa án nhân dân tối cao”. Như vậy, nếu không áp dụng án lệ thì Tòa án phải gửi kiến nghị thay thế án lệ đến TANDTC.
Mặc dù có hướng dẫn của Nghị quyết tuy nhiên thực tế công tác thấy rằng nếu Tòa án có kiến nghị về việc thay thế án lệ đến TAND tối cao thì không thể xác định được kiến nghị này có được chấp nhận hay không nhưng nguy cơ bị Tòa án cấp trên hủy án là có thể.
VD: HĐXX cấp sơ thẩm không áp dụng án lệ và có kiến nghị thay thế án lệ; bản án sơ thẩm có kháng cáo thì chắc chắn thời gian xem xét kiến nghị thay thế của TANDTC sẽ lâu hơn thời gian thực hiện thủ tục tố tụng phúc thẩm. Nếu HĐXX cấp phúc thẩm không đồng ý với quan điểm HĐXX sơ thẩm mà vẫn áp dụng án lệ. Như vậy, bản án của tòa án sơ thẩm có thể bị hủy, hoặc sửa bởi Tòa án phúc thẩm.
Đứng trước sự chọn lựa giữa yêu cầu về tính hợp pháp (áp dụng án lệ) và tính hợp lý (kiến nghị thay thế án lệ) của phán quyết tư pháp thì các Tòa án chọn yêu cầu hợp pháp sẽ đơn giản và an toàn hơn. Điều này có nguy cơ dẫn hoạt động áp dụng án lệ của Tòa án Việt Nam chỉ có thể bảo đảm được về hình thức.
Ba, người tiến hành và người tham gia tố tụng chưa được trang bị kỹ càng kỹ năng xác định tình tiết cơ bản có tính chất tương tự trong hoạt động áp dụng án lệ. Điều này dẫn đến tình trạng cùng một tình tiết nhưng các tòa án áp dụng án lệ có quan điểm khác nhau. Tòa án này cho rằng đó là tình tiết cơ bản nhưng Tòa án khác lại không cho là tình tiết cơ bản.
VD (1): Trong một vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” do TAND TP Cần Thơ giải quyết. Nội dung vụ việc này có tình tiết cơ bản tương tự với Án lệ số 02/2016/AL là Người Việt kiều nhờ Người Việt Nam đứng tên mua tài sản. Tuy nhiên, tại Bản án phúc thẩm số 20/2017/DS – PT ngày 24/02/2017, Tòa đã không áp dụng Án lệ số 02 với lý do được thể hiện rõ trong phần lập luận của bản án này là có sự khác biệt về tình tiết, cụ thể Nội dung Án lệ số 02 có tình tiết là Người Việt kiều “trực tiếp” giao dịch với người bán tài sản (đất) còn vụ việc cụ thể Tòa này giải quyết có tình tiết Người Việt kiều “không trực tiếp” giao dịch mà đưa tiền cho người đứng tên dùm giao dịch.
Ngược lại, trong Bản án phúc thẩm số 208/2017/ DS – PT của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29 tháng 8 năm 2017, mặc dù cũng có tình tiết Người Việt kiều “không trực tiếp” giao dịch mà đưa tiền cho người đứng tên dùm giao dịch nhưng Tòa này vẫn áp dụng Án lệ số 02/2016 yêu cầu người đứng tên dùm phải trả nhà lại cho Người Việt kiều (1).

Kỹ năng áp dụng án lệ

Kỹ năng xác định tình tiết tương tự cần tập trung vào một số vấn đề sau:
– Phải cập nhật kịp thời các án lệ, hiểu được các tình tiết, nội dung cơ bản của án lệ.
– Xác định vụ việc đang giải quyết có tình tiết, nội dung tương tự án lệ không.
– Khi áp dụng án lệ thì thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 146/TANDTC-PC của TANDTC ngày 11 tháng 7 năm 2017 có hướng dẫn xác định yếu tố bắt buộc của án lệ ở phần “Khái quát nội dung của án lệ” như sau: “Trường hợp áp dụng án lệ thì số án lệ, số bản án, quyết định của Toà án có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ (nội dung khái quát của án lệ) phải được viện dẫn, phân tích trong phần Nhận định của Tòa án”.
Thực tế vận dụng án lệ vào vụ án cụ thể còn chưa có sự thống nhất khi áp dụng án lệ của án dân sự có áp dụng án hành chính, kinh tế, hôn nhân gia đình không và ngược lại. Đến nay những vẫn đề này chưa được hướng dẫn cụ thể nên theo quy định hiện hành Tòa án có quyền áp dụng các án lệ vào các quan hệ điều chỉnh có nội dung tương tự.
Trên thực tiễn thì TAND thành phố Hà Nội đã áp dụng án lệ vào các loại án khác nhau khi nội dung vụ việc có chứa tình tiết giống án lệ ở loại án khác. VD: tại Bản án hành chính sơ thẩm số 06/2018 ngày 23/1/2018 của TAND thành phố Hà Nội đã viện dẫn Án lệ số 03/2016/AL về án dân sự để lập luận trong vụ án Hành chính.
Nội dung: người khởi kiện (bà Vạn) yêu cầu hủy GCN QSDĐ mà trước đây chồng bà là ông Giảng đã làm thủ tục cho nhà đất cho con là ông Hải. Bản án đã lập luận khi cho con trai nhà đất, bà Vạn không có chữ ký nào trong hợp đồng, nhưng biết sự việc và từng sử dụng sổ đỏ cấp cho anh Hải để thế chấp ngân hàng, nên thuộc tình huống tương tự Án lệ số 03/2016 “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.” từ đó đã xử bác yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất của bà Vạn.
Tính đến thời điểm hiện tại TAND TC ban hành 16 án lệ; phần viện dẫn tìm kiếm án lệ tương tự tình tiết vụ án chúng ta trước hết tra cứu trong bảng tổng hợp nội dung khái quát các án lệ và bổ sung thêm cho đầy đủ khi có án lệ mới.
Trên đây là một số kỹ năng cần áp dụng khi sử dụng án lệ trong thực tiễn, chúng tôi mong rằng nội dung trên sẽ có ích cho các cán bộ làm công tác xét xử khi nghiên cứu hồ sơ có các tình tiết nội dung liên quan đến áp dụng án lệ.

 

Nguồn: Trang thông tin điện tử VKSND TP Hà Nội

Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ – so sánh với quy định của Bộ luật dân sự (BLDS).

Bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) có nhiều điểm khác biệt so với chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung. Trong đó, yêu cầu về sự tồn tại yếu tố lỗi trong SHTT mang những nét đặc thù riêng. Cụ thể, lỗi không phải là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại và cũng không phải là một cơ sở để xác định mức bồi thường trong lĩnh vực SHTT. Trong thực tiễn xét xử, nhiều quyết định của Tòa án lại theo hướng rất khác nhau. Bài viết phân tích các quy định pháp luật về yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền SHTT trong sự so sánh với các quy định tương ứng theo pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử nhằm đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung nghiên cứu hai vấn đề: Giá trị của yếu tố lỗi trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trong căn cứ xác định mức bồi thường.

1. Lỗi trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trong khoa học pháp lý, khái niệm ‘‘lỗi’’ đã được đặt ra từ rất lâu, nhưng cho đến nay, để đưa ra được định nghĩa chính xác vẫn còn là một điều khó khăn. Theo Luật La Mã, lỗi (Culpa) là sự không tuân thủ hành vi mà pháp luật yêu cầu. “Không có lỗi nếu như tuân thủ tất cả những gì được yêu cầu”.[1] Nếu Luật La Mã đề cập yếu tố lỗi như một dạng hành vi tuân thủ hay không quy định của pháp luật thì hiện nay định nghĩa lỗi dựa trên cơ sở thái độ tâm lý và nhận thức của chủ thể. Theo đó, lỗi là một yếu tố chủ quan nói lên thái độ tâm lý của con người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi ấy.[2]
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực SHTT hiện nay không đề cập đến yếu tố lỗi, hay nói cách khác, nghĩa vụ bồi thường không phụ thuộc vào việc bên vi phạm có lỗi hay không. Yếu tố lỗi chỉ được đề cập trong căn cứ xác định tính chất và mức độ hành vi xâm phạm quyền SHTT: Tính chất xâm phạm được xác định dựa trên hoàn cảnh, động cơ xâm phạm: xâm phạm do vô ý, xâm phạm cố ý, xâm phạm do bị khống chế hoặc bị lệ thuộc, xâm phạm lần đầu, tái phạm… (Điều 15 Nghị định 105/2006[3]). Như vậy, để phát sinh trách nhiệm bồi thường, có cần sự tồn tại của yếu tố lỗi hay không, nếu không có lỗi thì có phải bồi thường không, mức bồi thường có chịu sự chi phối của lỗi hay không? Khoản 2 Điều 198 Luật SHTT quy định “Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm”. Các yếu tố được đề cập trong quy định này bao gồm: hành vi xâm phạm, thiệt hại (và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại) chứ hoàn toàn không nhắc đến yếu tố lỗi. Một số tác giả đồng tình với hướng quy định này của Luật SHTT[4].
Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 cho rằng “lỗi” là một điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng[5], tuy nhiên, cả BLDS lẫn Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC ngày … tháng … năm… về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự đều không đưa ra định nghĩa “lỗi” là gì. Điều 308 BLDS 2005 quy định về Lỗi trong trách nhiệm dân sự nhưng cũng không giải thích cụ thể khái niệm này. Tương tự, Điều 364 BLDS 2015 cũng chỉ dừng lại ở việc xác định “Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý”. Cách quy định của cả hai Bộ luật còn cho thấy thêm một vấn đề, yếu tố lỗi được đề cập là “trong trách nhiệm dân sự” nói chung, chứ không khẳng định liệu rằng đây có thể là một căn cứ để phát sinh trách nhiệm (kể cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại).
Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, giữa BLDS 2005 và BLDS 2015 đã có sự quy định khác biệt. BLDS 2005 quy định nếu bên vi phạm nghĩa vụ có lỗi mới phải chịu trách nhiệm dân sự[6] thì đến BLDS 2015, bên vi phạm nghĩa vụ có lỗi hay không có lỗi đều phải chịu trách nhiệm dân sự trừ trường hợp có quy định khác như quy định tại Điều 460[7] và Điều 461[8] BLDS 2015. Nói cách khác, về nguyên tắc, lỗi không còn là điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm dân sự trong BLDS 2015[9]. Có tác giả đã cho rằng căn cứ lỗi với tư cách là một cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường là không thuyết phục khi đối chiếu với Luật Thương mại. Tương tự, trong Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng chỉ yêu cầu: thiệt hại phát sinh từ việc không thực hiện đúng hợp đồng nếu người có nghĩa vụ không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm (Điều 9:501) mà không cần có lỗi. Trách nhiệm bồi thường phát sinh khi hội đủ ba điều kiện (nếu không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm): có việc không thực hiện đúng hợp đồng, có thiệt hại và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và việc không thực hiện đúng hợp đồng[10].
Trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu như trong BLDS 2005, yếu tố lỗi được sử dụng như là căn cứ để xác định trách nhiệm thì trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đầu tiên lại là hành vi xâm phạm. Theo đó, người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. BLDS 2015 đã thay đổi quy định theo hướng bên bị thiệt hại không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại mà chỉ cần xác định hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại là có thể yêu cầu bồi thường. Trách nhiệm chứng minh lỗi thuộc về người gây thiệt hại trong trường hợp muốn được miễn trách nhiệm (khoản 2 Điều 585 BLDS 2015) hoặc được giảm mức bồi thường thiệt hại (khoản 2, 4 Điều 586 BLDS 2015). Sự thay đổi này, theo một số tác giả là hợp lý hơn và đã giảm bớt được gánh nặng chứng minh cho người bị thiệt hại[11]. Quy định mới của BLDS 2015 đã theo hướng của Luật SHTT, yếu tố lỗi không phải là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường.
Về việc áp dụng pháp luật, Mục IV.1 Thông tư liên tịch số 02/2008[12] quy định “Đối với trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về sở hữu trí tuệ của Luật SHTT với quy định của luật khác, thì áp dụng quy định của Luật SHTT; Trường hợp có những vấn đề dân sự liên quan đến sở hữu trí tuệ không được quy định trong Luật SHTT, thì áp dụng quy định của BLDS”. Hiện nay, ngay cả khi BLDS 2005 vẫn đang có hiệu lực, vấn đề bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền SHTT đã được giải quyết bằng những quy định đặc thù trong Luật SHTT, do đó cần áp dụng quy định của Luật SHTT để xác định trách nhiệm bồi thường mà không cần thiết xem xét yếu tố lỗi của bên thực hiện hành vi xâm phạm.
Cụ thể, Tòa án đã giải quyết một số tranh chấp liên quan đến hành vi xâm phạm quyền SHTT theo hướng trên. Trong vụ việc thứ nhất[13], Công ty Trần Thành Đạt đã có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ của Công ty Hưng Phú Thành và gây thiệt hại cho công ty Hưng Phú Thành bao gồm chi phí tư vấn thiết lập hồ sơ; phí dịch vụ cho Natusi trong việc đại diện xử lý vi phạm bằng giải pháp hữu ích số 774; chi phí đi lại, khảo sát thị trường hàng nhái của Công ty Trần Thành Đạt… Tòa án nhân dân TP. HCM đã ra quyết định yêu cầu bị đơn là Công ty Trần Thành Đạt phải bồi thường cho Công ty Hưng Phú Thành chỉ dựa trên hành vi xâm phạm và thiệt hại mà hoàn toàn không nhắc đến việc bị đơn có lỗi hay không. Vụ việc thứ hai giữa nguyên đơn là Công ty Xuân Lan và bị đơn là Công ty Thành Đạt[14], Tòa án đã chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty Xuân Lan, buộc Công ty Thành Đạt phải bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cho Công ty Xuân Lan là 100.000.000 đồng. Cơ sở cho quyết định này cũng chỉ dựa trên hành vi xâm phạm của công ty Thành Đạt đối với nhãn hiệu hàng hóa của Xuân Lan đã được bảo hộ và các thiệt hại đã xảy ra như chi phí giám định xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, phí thuê đại diện giải quyết xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ… mà không xem xét đến yếu tố lỗi của bị đơn. Cách giải quyết của Tòa trong những trường hợp trên là khá phù hợp với quy định của Luật SHTT, mặc dù theo BLDS 2005 thì yếu tố lỗi vẫn là một căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là hầu như trong các phán quyết về tranh chấp quyền SHTT hiện nay Tòa án rất ít (và hầu như không) nói gì về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại xảy ra, do đó trong nhiều trường hợp việc xác định thiệt hại cũng như mức thiệt hại được ấn định mà không có cơ sở rõ ràng làm cho bản án thiếu sức thuyết phục.

2. Lỗi trong căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại

Tương tự như căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nêu trên, Luật SHTT 2005 không đề cập đến yếu tố lỗi để tính mức bồi thường. Khi hành vi xâm phạm quyền SHTT xảy ra, dù bên thực hiện hành vi xâm phạm có lỗi hay không thì vẫn phải bồi thường và mức bồi thường là không khác nhau giữa các trường hợp có lỗi cố ý, vô ý hay thậm chí là không có lỗi. Dựa trên căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại tại Điều 205 Luật SHTT, nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi thường theo thiệt hại vật chất hay giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHTT[15]. Tương tự, cách tính bồi thường thiệt hại tinh thần (nếu có) cũng chỉ dựa trên thiệt hại mà không đề cập gì đến yếu tố lỗi[16].
Trong việc xác định mức bồi thường, BLDS quy định nguyên tắc cho phép người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường trong những trường hợp nhất định và lỗi là một căn cứ để giảm mức bồi thường. Khoản 2 Điều 605 BLDS 2005 quy định người gây thiệt hại phải đáp ứng đủ hai điều kiện thì được giảm nhẹ trách nhiệm bồi thường: (1) do lỗi vô ý mà gây thiệt hại; và (2) thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại. BLDS 2015 đã sửa đổi theo hướng người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình[17]. Như vậy, trong BLDS 2015, lỗi được xem là một trong những căn cứ để xác định mức bồi thường và ngay cả khi không có lỗi, bên có trách nhiệm vẫn phải bồi thường (đây chỉ là căn cứ để giảm mức bồi thường chứ không miễn trách nhiệm). Trong khi đó, Luật SHTT không quy định điều này. Liệu rằng chúng ta có thể áp dụng quy định của pháp luật dân sự để điều chỉnh vấn đề này hay không ?
Thực tế, Tòa án đã vận dụng pháp luật dân sự mà cụ thể là dựa vào yếu tố lỗi để làm căn cứ quyết định mức bồi thường. Trong một tranh chấp phát sinh do hành vi xâm phạm quyền tác giả[18], Tòa án xác định có hành vi xâm phạm của bị đơn và xem xét các yêu cầu của nguyên đơn trong đó có yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần là 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, Tòa án lập luận rằng do hành vi của bị đơn ‘‘chưa đến mức nghiêm trọng và không phải lỗi cố ý’’ do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mức bồi thường là 5.000.000 đồng. Trong một vụ việc khác[19], công ty Nhã Quán đã lỗi có cố ý sản xuất hàng hóa có kiểu dáng đã được bảo hộ của công ty Ý Thiên tiêu thụ trên địa bàn nhiều tỉnh liên tục nên Tòa án căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 205 Luật SHTT để ấn định mức bồi thường là 400.000.000 đồng (mức tối đa được quy định tại khoản này là 500.000.000 đồng). Tòa án xác định lỗi dựa trên căn cứ công ty Nhã Quán mặc dù có nhận được các thông báo từ phía công ty Ý Thiên nhưng vẫn không chấm dứt hành vi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm vi phạm kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ.
Hướng giải quyết của Tòa án trong hai vụ việc trên khá gần với quy định của BLDS 2015 và có thể nói là đi xa hơn so với quy định của Luật SHTT. Nếu như trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, Tòa án chủ yếu dựa trên Luật SHTT (không căn cứ vào yếu tố lỗi) chứ không dựa trên quy định BLDS 2005, thì trong việc quyết định mức bồi thường, Tòa án lại theo hướng của BLDS. Theo tác giả, giải quyết như vậy chưa thực sự hợp lý. Chủ thể quyền SHTT bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra. Nếu bên vi phạm được giảm mức bồi thường do không có lỗi hoặc lỗi vô ý như ở trường hợp nêu trên thì khoản chênh lệch trong mức bồi thường sẽ phải do chủ thể quyền gánh chịu. Hướng này có vẻ không công bằng và cũng tạo ra tâm lý “không yên tâm” cho những chủ thể mà đáng lẽ luật phải đề cao bảo vệ.

3. Kiến nghị

Về giá trị của yếu tố lỗi trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực SHTT, pháp luật nhiều quốc gia đã khẳng định hành vi xâm phạm không cần có lỗi vẫn phải bồi thường. Điều L615-1 Bộ luật Thương mại Pháp[20] quy định “Tất cả sự xâm phạm quyền sở hữu từ văn bằng bảo hộ tạo thành hành vi vi phạm quyền SHTT”. Trong trách nhiệm dân sự, lỗi của người vi phạm là lỗi mặc định (còn gọi là lỗi suy đoán), người vi phạm nghĩa vụ luôn bị coi là có lỗi nếu họ không chứng minh được rằng họ không có lỗi.[21] Khi một người thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT và gây ra thiệt hại cho chủ thể quyền, mặc dù trong nhận thực của họ có thể là vô ý hoặc không có lỗi đối với thiệt hại đó, pháp luật xem như anh đã có lỗi suy đoán do không làm đúng với điều mà Luật yêu cầu.
Bên cạnh đó, cần phải xét đến đặc trưng của các đối tượng quyền SHTT. Tài sản trí tuệ vốn đặc biệt hơn so với tài sản khác ở tính chất vô hình và dễ bị xâm phạm của nó. Một hành vi xâm phạm quyền SHTT có thể gây ra những thiệt hại to lớn. Nếu ghi nhận yếu tố lỗi là một căn cứ để phát sinh trách nhiệm bồi thường (như quan điểm của BLDS 2005) thì sẽ có rất nhiều trường hợp chủ thể quyền SHTT không được bồi thường vì thiếu đi yếu tố lỗi. Như vậy, chính chủ thể quyền phải gánh chịu thiệt hại (mặc dù đã tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về đăng ký bảo hộ quyền SHTT). Rất có thể cách giải quyết này sẽ làm giảm đi hiệu quả của vấn đề bảo hộ quyền SHTT hiện nay. Theo quan điểm tác giả, quy định như Luật SHTT cũng như BLDS 2015 không coi yếu tố lỗi là bắt buộc để xác định có hay không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là hợp lý. Thực tiễn xét xử cũng theo hướng này.
Khác với quy định trong Luật SHTT Việt Nam, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới đã phân hóa yếu tố lỗi để từ đó làm căn cứ xác định mức bồi thường. Sự phân hóa ở đây tùy thuộc vào quan điểm từng quốc gia. Nhóm thứ nhất theo hướng trong trường hợp hành vi xâm phạm xuất phát từ lỗi cố ý thì việc áp dụng bồi thường mang tính chất trừng phạt, nếu bên vi phạm có lỗi vô ý thì có khả năng được giảm nhẹ mức bồi thường. Cụ thể, để đảm bảo quyền của bên bị vi phạm, nhiều quốc gia cho phép họ được đòi bồi thường nhiều hơn khoản thiệt hại nếu lỗi của bên gây thiệt hại là vô ý nặng hoặc cố ý (Điều 38 Luật về sở hữu nhãn hiệu Nhật Bản[22]). Điều 43(a) Luật Lanham Hoa Kỳ[23] cho phép Tòa án được tăng khoản thiệt hại của nguyên đơn hoặc lợi nhuận của bị đơn lên gấp ba lần trong trường hợp có lỗi cố ý đối với hành vi sử dụng nhãn hiệu giả mạo. Ở những quốc gia này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ được quan niệm như là một biện pháp dân sự nhằm khôi phục tình trạng thiệt hại mà còn được coi là một biện pháp trừng phạt hợp lý.[24]
Trong nhóm quan điểm thứ hai, pháp luật một số quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu, Pháp đều thừa nhận nguyên tắc “bồi thường toàn bộ” trên quan điểm coi trách nhiệm bồi thường thiệt hại là biện pháp nhằm khôi phục lại các quan hệ xã hội bị phá vỡ chứ không nhằm mục đích trừng phạt đối với người thực hiện hành vi xâm phạm, theo đó “sự bồi thường thiệt hại phải toàn bộ trong tất cả các trường hợp và không được vượt quá tổng số thiệt hại.”[25]
Một số quốc gia lại theo hướng ngược lại với quan điểm thứ nhất, tức là, không “tăng nặng” cho những trường hợp cố ý như trên mà theo hướng “giảm nhẹ” cho những trường hợp gây thiệt hại nhưng không có lỗi hoặc lỗi vô ý. Theo Điều 1064 BLDS Liên bang Nga[26], bên gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đầy đủ. Trong trường hợp không có lỗi, bên gây thiệt hại có thể thoát khỏi trách nhiệm bồi thường.
Pháp luật dân sự Việt Nam mà cụ thể là trong BLDS 2015 dựa trên nguyên tắc bồi thường thiệt hại là bồi thường toàn bộ kết hợp với trường hợp giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình (như là một ngoại lệ của nguyên tắc chung). Thực tiễn xét xử ở nước ta trong các tranh chấp liên quan đến quyền SHTT cũng theo hướng này, tuy nhiên, như thế có thực sự hợp lý chưa, vì như đã trình bày, nếu giảm mức bồi thường cho bên gây thiệt hại thì chủ thể quyền SHTT chính là những người phải chịu thiệt hại này. Luật SHTT năm 2005 không nói rõ vấn đề này. Theo quan điểm tác giả, áp dụng như hiện nay có thể nói là thuyết phục về quy định pháp luật (nguyên tắc bồi thường chỉ là bù đắp lại những gì bị thiệt hại chứ không phải là một hình thức phạt) nhưng lại chưa bảo vệ được chủ thể quyền SHTT. Quyền sở hữu tài sản trí tuệ được xác lập không đơn giản như các tài sản thông thường, mà cần đáp ứng các điều kiện bảo hộ nhất định, thêm vào đó là thủ tục đăng ký với các bước thẩm định về hình thức và nội dung tương đối phức tạp và tốn kém. Tác giả/chủ sở hữu quyền SHTT đã bỏ ra công sức lao động, sáng tạo và thực hiện đăng ký đúng thủ tục thì Nhà nước nên bảo hộ tuyệt đối quyền của những chủ thể này, cũng là một trong những động lực để họ tiếp tục nghiên cứu tạo ra những sản phẩm sáng tạo mới. Do đó, chúng tôi thấy rằng, cần bổ sung thêm vào phương thức bồi thường thiệt hại hiện nay một quy định mang tính chất “phạt” cho những trường hợp xâm phạm quyền SHTT do lỗi cố ý nhằm tăng tính răn đe. Với quan điểm như hiện nay trong pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại, mức bồi thường chỉ dựa trên thiệt hại thực tế mà không thể thêm vào một mức phạt nhất định thì việc quy định như một số quốc gia (theo nhóm thứ nhất) như trên có lẽ sẽ gặp nhiều khó khăn. Liệu rằng có nên bổ sung thêm hẳn một quy định trong Luật SHTT về hình thức “phạt” trong trường hợp xâm phạm do lỗi vô ý nặng hay cố ý. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu và theo tác giả là phù hợp trong xu thế hiện nay.
Việc đưa một mức bồi thường thiệt hại cụ thể khi quyền SHTT bị xâm phạm trong một số trường hợp là thách thức lớn lao mà các nước gặp phải, bởi vì, đối với các vụ việc về SHTT không có một khuôn mẫu cụ thể nào.[27] Đặc biệt, trong nhiều tranh chấp tài sản quyền SHTT có giá trị rất lớn, hành vi xâm phạm kéo dài có thể gây ra những thiệt hại đáng kể cho chủ thể quyền SHTT. Đề cao bảo vệ quyền của chủ thể quyền SHTT là cần thiết và đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hành vi xâm phạm quyền SHTT diễn ra khá phổ biến ở Việt Nam hiện nay.
 

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn)

 
[1] Phạm Kim Anh (2003), “Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý (số 3).
[2] Trường Đại học Luật Tp. HCM (2013), Giáo trình Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức, tr. 458.
[3] Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT, được sửa đổi theo Nghị định số 119/2010 ngày 30/12/2010 (Nghị định 105/2006).
[4] Đỗ Văn Đại (2014), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Tập 2, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, tr. 464. Trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, tác giả cũng đề xuất bỏ yếu tố lỗi trong căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Điều này là phù hợp với xu hướng pháp luật nước ngoài (Pháp, Bộ nguyên tắc châu Âu về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) và thực tiễn tại Việt Nam (Đỗ Văn Đại (2014), Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Tập 1, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, tr. 136-144).
[5] Mục I.1 Nghị quyết số 03/2006 ngày 8/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: (1) Phải có thiệt hại xảy ra; (2) Phải có hành vi trái pháp luật; (3) Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật; (4) Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại.
[6] Khoản 1 Điều 308 BLDS 2005, “người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
[7] “Trường hợp bên tặng cho cố ý tặng cho tài sản không thuộc sở hữu của mình mà bên được tặng cho không biết hoặc không thể biết về việc đó thì bên tặng cho phải thanh toán chi phí để làm tăng giá trị của tài sản cho bên được tặng cho khi chủ sở hữu lấy lại tài sản”.
[8] “Trường hợp bên tặng cho biết tài sản có khuyết tật mà không thông báo thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra cho người được tặng cho; nếu bên tặng cho không biết về khuyết tật của tài sản tặng cho thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”.
[9] Nguyễn Trương Tín (2016), « Những điểm mới về trách nhiệm dân sự trong Bộ luật Dân sự 2015 », Kỷ yếu Hội thảo Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015, Khoa Luật Dân sự trường ĐH Luật Tp. HCM, tr. 142.
[10] Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 89-90.
[11] Lê Thị Thúy Hương và Nguyễn Tấn Hoàng Hải, « Một số điểm mới cơ bản của quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo BLDS 2015 », Kỷ yếu Hội thảo Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015, Khoa Luật Dân sự trường ĐH Luật Tp. HCM, tr. 146.
[12] Thông tư số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/4//2008 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Toà án nhân dân.
[13] Bản án số 1892/2011/KDTM-ST ngày 24/10/2011 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh.
[14] Bản án số 1369/2012/KDTM-ST ngày 09/11/2012 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh.
[15] Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây: (a) Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất; (b) Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện; (c) Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Toà án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá năm trăm triệu đồng.
[16] Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại (khoản 2 Điều 205 Luật SHTT).
[17] Khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015.
[18] Bản án số 1549/2010/DS- KDTM-ST ngày 27/9/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền SHTT.
[19] Bản án số 03/2008/KDTM- ST ngày 11/6/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
[20] Legifrance – Le service public de la diffusion du droit/ Code de commerce/ Luật số 2013-504 ngày 14/6/2013https://www.legifrance.gouv.fr/affichCode.do?cidTexte=LEGITEXT000005634379&dateTexte=20130701 truy cập ngày 05/4/2016.
[21] Dương Anh Sơn – Nguyễn Ngọc Sơn (2007), « Tác động của các hình thức lỗi đến việc xác định trách nhiệm hợp đồng nhìn từ góc độ nguyên tắc trung thực và thiện chí », Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1.
[22] The Trademark Law of Japan, Luật số 127 ngày 13 tháng 4 năm 1959, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 55/2006.
http://www.wipo.int/wipolex/en/text.jsp?file_id=188401 truy cập ngày 10/3/2016.
[23] Đạo luật Lanham số 15 U.S.C §§ 1051 được Quốc hội ban hành năm 1946 cung cấp một hệ thống quốc gia về đăng ký nhãn hiệu hàng hoá và đảm bảo cho chủ thể quyền chống lại việc sử dụng nhãn hiệu tương tự nếu việc sử dụng có khả năng dẫn đến sự nhầm lẫn của người tiêu dùng.
https://www.law.cornell.edu/wex/lanham_act truy cập ngày 10/3/2016.
[24] Đinh Thị Mai Phương (2008), “Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp luật về sở hữu công nghiệp Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1, tr. 26-30.
[25] Trương Hồng Quang, “Một số vấn đề về chế định bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực SHTT”, Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Nghiên cứu – trao đổi Bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực SHTT.
[26] BLDS Liên bang Nga, sửa đổi, bổ sung ngày 8/12/2011
http://www.wipo.int/wipolex/en/details.jsp?id=12785, truy cập ngày 05/4/2016.
[27] Holyoak và Torremans (2013), Intellectual Property Law (Seventh Edition), Nxb. Oxford University, tr. 689.

Quyền im lặng của người bị buộc tội và các đảm bảo pháp lý trong tố tụng hình sự

Ở Việt Nam, quyền im lặng lần đầu tiên được quy định trực tiếp trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS 2015). Có thể nói, việc quy định quyền im lặng là một bước tiến lớn trong việc bảo vệ quyền con người và thực hiện trình tự xét xử công bằng trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, quy định về quyền im lặng và các đảm bảo pháp lý hiện nay vẫn còn nhiều thiếu sót, từ đó khó đảm bảo mục tiêu xây dựng nền tư pháp vững mạnh. Bài viết trình bày quy định hiện hành của quyền im lặng và các đảm bảo pháp lý của quyền này; từ cơ sở đó, phân tích các mặt hạn chế và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện.
 
Các nội dung liên quan:

 
Từ khóa: quyền im lặng; lời khai.
Abstract: In Viet Nam, the right to silence is first laid down directly in the Penal Procedure Code of 2015. It can be said that the right to silence is a big step forward in the protection of human rights and the implementation of criminal justice proceedings. However, there are still shortcomings under this provision of right to right to silence and legal guarantees, which makes it difficult to secure a strong judicial mandate. This article provides presentation of the current provisions of right to silence and the legal guarantees of this right; It also provides analysis of the relevant constraints and recommendations for further improvements.
Keywords: right to silence; testimony/statements
 

1. Quy định về quyền im lặng và các đảm bảo pháp lý trong tố tụng hình sự Việt Nam

Bộ luật TTHS 2015 ghi nhận quyền im lặng dành cho người bị buộc tội, gồm bốn chủ thể pháp lý khác nhau, bao gồm: (1) người bị bắt; (2) người bị tạm giữ; (3) bị can; (4) bị cáo[1]. Theo đó, trong quá trình tham gia tố tụng, tất cả các đối tượng trên đều có quyền “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”[2].
Việc quy định quyền không đưa ra lời khai chống lại chính mình có thể được hiểu là người bị buộc tội có quyền không khai những điều chứa đựng thông tin bất lợi cho bản thân mình. Quy định này có thể hiểu tương đương với quyền im lặng.
Tuy nhiên, căn cứ theo nội dung điều luật, người bị buộc tội chỉ có thể từ chối đưa ra lời khai nếu sự thẩm vấn yêu cầu lời khai có chứa đựng thông tin chống lại họ hoặc buộc họ phải nhận mình có tội. Còn đối với những câu hỏi khác trong quá trình thẩm vấn, người bị buộc tội không có quyền giữ im lặng. Mặt khác, một trong các nghĩa vụ của người bị buộc tội là phải có mặt theo sự triệu tập hoặc chấp hành yêu cầu của của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền, điều này có nghĩa là họ không thể từ chối tham gia cuộc hỏi cung, lấy lời khai hoặc tại phiên tòa[3]. Suy ra, người bị buộc tội phải có mặt trong các cuộc thẩm vấn và không thể giữ im lặng trong suốt thời gian này.
Có thể thấy, khi so sánh với luật pháp các nước và luật quốc tế, quy định về quyền im lặng của Việt Nam có nội dung và phạm vi tương đối hẹp[4]. Lý giải cho điều này, có thể xét rằng đây là loại quyền mới đối với Việt Nam, một quyền im lặng tuyệt đối dành cho người bị buộc tội có thể gây ra nhiều rào cản cho các cơ quan TTHS trong việc giải quyết vụ án. Hơn nữa, so sánh với các nước khác, lực lượng điều tra của Việt Nam không được sở hữu những công cụ điều tra hiệu quả như thỏa thuận nhận tội (plea bargain), hoạt động ngầm (undercover) hoặc gài bẫy (sting operation) mà chỉ có thể sử dụng các biện pháp như nghe lén, ghi âm ghi hình bí mật một cách hạn chế[5]. Sự quy định quyền im lặng ở mức độ tương đối, hay còn gọi là quyền không tự buộc tội chính mình, là sự cân bằng giữa quyền cá nhân và lợi ích xã hội.
Để đảm bảo rằng quyền im lặng có thể được sử dụng và có hiệu quả trên thực tế, pháp luật TTHS quy định ba biện pháp đảm bảo pháp lý, đó là quyền được thông báo quyền của người bị buộc tội (1), ghi âm, ghi hình trong khi thẩm vấn (2) và tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của lời khai (3).
Thứ nhất, đối với quyền được thông báo về quyền của người bị buộc tội. Đây là sự kế thừa từ Bộ luật TTHS 2003 và tiếp tục được duy trì ở Bộ luật TTHS 2015[6]. Chức năng này nhằm đảm bảo người bị buộc tội biết và hiểu rõ quyền của mình, bao gồm quyền im lặng, và từ đó có thể quyết định đưa ra sự lựa chọn sử dụng quyền im lặng hay không. Có ý kiến cho rằng, quyền im lặng còn được gọi là quyền Midranda, có xuất xứ từ vụ án Midranda vs. Arizona và vụ án này được giải quyết bởi Tòa án tối cao liên bang Hoa Kỳ. Theo phán quyết cuối cùng của tòa án thì: “Trước khi bị thẩm vấn, người bị tạm giam phải được thông báo rõ ràng rằng anh ta có quyền im lặng và những gì anh ta nói đều sẽ được sử dụng làm bằng chứng chống lại anh ta trước tòa. Anh ta phải được thông báo rõ ràng rằng anh ta có quyền tham vấn luật sư và quyền được luật sư ở bên cạnh trong suốt quá trình thẩm vấn”[7] (phán quyết này còn được gọi là cảnh báo Midranda hay quyền được thông báo quyền). Từ vụ án này, thuật ngữ quyền im lặng không chỉ được hiểu là quyền không khai báo mà còn là những đảm bảo cho bị can, trong tình trạng yếu thế, được quyền tư vấn pháp lý để tránh những lời khai bất lợi cho mình[8]. Như vậy, quan điểm nói trên đã đồng nhất quyền im lặng và cảnh báo Miranda (quyền được thông báo quyền). Tuy nhiên, đây là nhận thức có phần chưa chuẩn xác. Xét về mặt lịch sử, các quy định sơ khai về quyền im lặng đã xuất hiện trong truyền thống thông luật (common law) vào cuối thế kỷ 17 để chống lại tình trạng bức cung, nhục hình khá phổ biến vào thời điểm đó[9], còn cảnh báo Miranda chỉ xuất hiện từ năm 1966. Xét về mặt nội dung, sự vi phạm về cảnh báo Miranda chắc chắn dẫn đến tính bất hợp pháp của lời khai, nhưng ngược lại, sự tuân thủ cảnh báo Miranda không đồng nghĩa với mọi lời khai được đưa ra sau cảnh báo đều được thừa nhận mà còn phải trải qua thủ tục xem xét tính tự nguyện (due process voluntariness test)[10]. Như vậy, cần phân biệt quyền được thông báo quyền và quyền im lặng có phạm vi nội hàm khác nhau, dù tác động pháp lý của hai quyền này có phần ảnh hưởng đến nhau.
Thứ hai, về đảm bảo pháp lý ghi âm, ghi hình bắt buộc. Khoản 6 Điều 183 Bộ luật TTHS 2015 quy định mọi cuộc hỏi cung diễn ra trong cơ sở tạm giữ hoặc tại trụ sở của Cơ quan điều tra đều phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Việc ghi âm, ghi hình này không chỉ nhằm bảo vệ quyền của bị can, mà còn bảo vệ phía cơ quan điều tra trước các khiếu nại, tố cáo. Trong trường hợp có bất kỳ sự cáo buộc nào về việc vi phạm quyền im lặng, quyền được thông báo quyền hoặc sự sử dụng nhục hình trong hoạt động lấy lời khai, thẩm phán có thể dựa vào các tệp hình ảnh, âm thanh này để đánh giá tính hợp pháp của lời khai.
Thứ ba, đảm bảo pháp lý về căn cứ đánh giá tính hợp pháp của lời khai. Theo quy định mới, mọi chứng cứ, bao gồm lời khai, nếu không được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định đều không được xem là chứng cứ[11]. Nói cách khác, tính hợp pháp phải được đảm bảo bằng sự tuân thủ trình tự, thủ tục theo luật định, đồng nghĩa với việc lấy lời khai phải tuân thủ thủ tục thông báo về quyền, ghi âm, ghi hình và các thủ tục khác. So sánh với Bộ luật TTHS 2003, đây là quy định mới hết sức tiến bộ, bởi Bộ luật TTDS 2003 chỉ yêu cầu chứng cứ phải đảm bảo tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án, nhưng lại không có một quy định ràng buộc sự tuân thủ trình tự, thủ tục khi thu thập, dẫn đến trường hợp có những chứng cứ thu thập không đúng thủ tục vẫn được Tòa án chấp thuận.
Tóm lại, Bộ luật TTHS 2015 quy định quyền im lặng của người bị buộc tội một cách hạn chế về phạm vi và nội dung áp dụng, đồng thời, đưa ra những biện pháp nhằm bảo đảm tính khả thi của quyền im lặng trên thực tế.

2. Những hạn chế của chế định quyền im lặng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

2.1 Thiếu cơ chế bảo vệ người bị bắt, người bị tạm giữ

Thứ nhất, đối với đảm bảo pháp lý về quyền được thông báo quyền im lặng.
Điều 58 và Điều 59 của Bộ luật TTHS 2015 quy định, người bị bắt và người bị tạm giữ có quyền được giải thích về quyền của họ, trong đó có quyền im lặng. Tuy nhiên, Bộ luật TTHS lại không đề cập đến thời điểm thực hiện sự giải thích, thông báo quyền. Trong sự so sánh với hai chủ thể khác là bị can và bị cáo, luật quy định rõ là bị can được thông báo quyền trước lần hỏi cung đầu tiên và bị cáo được thông báo quyền trong thủ tục bắt đầu phiên tòa[12]. Mặc dù trong mẫu biên bản bắt người của Bộ Công an có mục quy định về việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị bắt vào thời điểm bắt[13]. Tuy nhiên, theo quy định 2 Điều 87 Bộ luật TTHS 2015, “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”, vì vậy, mẫu biên bản bắt người của Bộ Công an không thể xem là căn cứ để hủy đi giá trị pháp lý của lời khai của người bị buộc tội.
Thứ hai, theo quy định của Điều 95 Bộ luật TTHS 2015, một trong các nguồn chứng cứ là lời khai của người bị bắt và người bị tạm giữ. Tuy nhiên, Bộ luật TTHS 2015 lại không quy định về thể thức, trình tự, thủ tục của việc lấy lời khai này. Như vậy, liệu việc lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ có cần phải thực hiện các đảm bảo pháp lý như phổ biến quyền cho họ hay thực hiện thủ tục ghi âm, ghi hình hay không vẫn là những câu hỏi chưa được trả lời.
Những hạn chế trên gây ảnh hưởng tới quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ trong giai đoạn đầu của tố tụng trước khi được chuyển sang tư cách tố tụng là bị can, bị cáo với đầy đủ sự đảm bảo pháp lý.

2.2 Cơ sở đánh giá tính pháp lý của lời khai

Như đã đề cập ở trên, Bộ luật TTHS 2015 đã có một quy định rất tiến bộ khi xác định rõ ràng trường hợp chứng cứ, bao gồm lời khai, sẽ không có giá trị pháp lý nếu không được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật này. Quy định này có thể được hiểu là bất kỳ chứng cứ nào được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do luật định thì đương nhiên sẽ đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ. Điều này dẫn đến một số điểm hạn chế và mâu thuẫn với quyền im lặng của người bị buộc tội. Cụ thể như sau: Bộ luật TTHS 2015 quy định, người bị buộc tội có quyền “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Như vậy, yếu tố không bị ép buộc, hay còn gọi là tính tự nguyện là yếu tố cơ bản nhất của quyền im lặng. Tuy nhiên, Bộ luật TTHS 2015 hoàn toàn không có điều khoản nào đề cập đến tính tự nguyện và mức độ chất lượng của sự tự nguyện trong đánh giá lời khai của người bị buộc tội.
Từ phân tích trên cho thấy, bên cạnh việc nhấn mạnh đến tính hợp pháp của chứng cứ, quy định của pháp luật TTHS hiện hành còn thiếu quy định về các tiêu chuẩn pháp lý riêng dành cho lời khai nhằm phù hợp với điểm đặc thù của loại chứng cứ này.
Một vấn đề khác cần phải đề cập đến, chính là giá trị pháp lý của các chứng cứ được thu thập dựa trên thông tin có từ lời khai được đánh giá là bất hợp pháp sẽ được nhìn nhận như thế nào. Có thể thấy rằng, trong một vài trường hợp, cán bộ điều tra có thể chấp nhận không tuân theo trình tự, thủ tục của Bộ luật TTHS nhằm lấy được những lời khai mang giá trị thông tin, từ đó dẫn dắt họ đến các loại chứng cứ khác có giá trị trong vụ án. Như vậy, nếu căn cứ theo quy định pháp luật, thì chỉ lời khai ban đầu là không có giá trị pháp lý vì đã không tuân thủ trình tự thủ tục, còn các loại chứng cứ khác được thu thập theo đúng trình tự thủ tục dựa trên lời khai đó vẫn được xem xét như chứng cứ. Việc quy định như vậy dễ dẫn đến tình trạng chấp nhận đánh đổi lời khai vô giá trị lấy các chứng cứ khác của cán bộ điều tra, và từ đó xâm phạm đến quyền im lặng của người bị buộc tội.

3. Kiến nghị hoàn thiện

Một là, bổ sung quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 về thời điểm thông báo quyền cho người bị bắt, người bị tạm giữ. Theo đó, đối với người bị bắt thì việc thông báo này phải được thực hiện ngay tại thời điểm bắt, việc này được thực hiện và xác nhận qua biên bản bắt người; đối với người bị tạm giữ, việc thông báo quyền này phải thực hiện ngay khi giao quyết định tạm giữ cho người đó, đồng thời, việc này cũng phải được thực hiện và xác nhận thông qua biên bản giao quyết định tạm giữ.
Hai là, bổ sung quy định của Bộ luật TTHS 2015 về trình tự, thủ tục lấy lời khai đối với người bị bắt và người bị tạm giữ. Theo chúng tôi, trình tự, thủ tục này nên thực hiện tương tự trình tự hỏi cung bị can theo quy định tại Điều 183, bởi lẽ, dù với tư cách pháp lý nào thì lời khai của người bị buộc tội đều có giá trị chứng cứ và đều có thể được sử dụng để tiến hành truy tố, xét xử và kết tội. Do đó, nếu giá trị của các lời khai đó là như nhau thì trình tự, thủ tục thu thập cũng phải tương tự nhau.
Ba là, bổ sung quy định của Bộ luật TTHS 2015 về các chứng cứ được thu thập dựa trên lời khai bất hợp pháp là đương nhiên vô hiệu, trừ khi chứng minh được việc thu thập lời khai bất hợp pháp không phải do lỗi cố ý của cán bộ điều tra. Lý giải cho điều này, có thể thấy trong nhiều trường hợp, cán bộ điều tra không cố ý dùng các phương pháp bất hợp pháp để lấy lời khai rồi từ đó truy tìm ra chứng cứ, mà đôi khi chỉ do sơ suất nghiệp vụ hoặc do tâm lý của người được lấy lời khai có vấn đề trong quá trình lấy lời khai, dẫn đến lời khai bị vô hiệu. Do đó, nếu xác định toàn bộ các chứng cứ được thu thập dựa trên thông tin từ lời khai bất hợp pháp là vô giá trị, thì sẽ gây ra rất nhiều khó khăn trong việc xử lý tội phạm. Ngược lại, tại sao không nên quy định rằng, mọi chứng cứ đó đương nhiên có giá trị, trừ trường hợp chứng minh được sự vi phạm trong việc lấy lời khai là cố ý (bởi vì trong quá trình tố tụng, người bị buộc tội luôn ở thế yếu hơn các cơ quan tố tụng). Do đó, cần quy định theo hướng chủ thể phải có nghĩa vụ chứng minh là các cơ quan tố tụng.
Bốn là, bổ sung Bộ luật TTHS năm 2015 quy định về lời khai nếu được thu thập, sử dụng trong vụ án thì không được dùng làm chứng cứ trong vụ án khác và, nếu các chứng cứ được thu thập là dựa trên lời khai đó cũng sẽ bị vô hiệu về mặt pháp lý. Quy định này nhằm đảm bảo những người tham gia tố tụng sẽ đưa ra lời khai trong một vụ án mà không phải đối mặt với nguy cơ bị chính các lời khai đó chống lại chính mình trong một vụ án khác, từ đó đảm bảo quyền im lặng của họ; đồng thời, nhằm làm giảm thiểu các rào cản từ việc điều tra vụ án, tránh trường hợp những người tham gia tố tụng dựa vào lý do các lời khai đó có thể bất lợi cho họ mà từ chối khai báo, gây khó khăn cho việc điều tra./.
 
[1] Điểm đ, khoản 1, Điều 4 Bộ luật TTHS 2015
[2] Điểm d, khoản 1, Điều 58; điểm c, khoản 2, Điều 59; điểm d, khoản 2, Điều 60; điểm h, khoản 2, Điều 61 Bộ luật TTHS 2015
[3] Khoản 2, Điều 58; khoản 3, Điều 59; khoản 3, Điều 60; khoản 3, Điều 61 Bộ luật TTHS 2015
[4] Tại Hoa Kỳ, năm 1966 vụ án Miranda v. Arizona đã khẳng định phạm vi của quyền im lặng là tuyệt đối chứ không chỉ các nội dung chống lại mình.
Tại Nhật Bản, theo Bộ luật TTHS năm 1948, Điều 198 (1) ghi nhận quyền từ chối tham gia thẩm vấn của người bị buộc tội, trừ trường hợp anh ta đang bị tạm giữ hoặc tạm giam; Điều 311 (1), Điều 316-9 (3) ghi nhận bị can, bị cáo có quyền im lặng tuyệt đối suốt thời gian thẩm vấn hoặc thời gian diễn ra phiên tòa, hoặc có quyền từ chối trả lời một số câu hỏi xác định.
[5] Điều 223, 224 Bộ luật TTHS 2015 chỉ cho phép áp dụng các biện pháp điều tra đặc biệt, bao gồm: ghi âm, ghi hình bí mật, nghe điện thoại bí mật và thu thập dữ liệu điện tử bí mật. Các biện pháp đó chỉ được áp dụng đối với tội phạm liên quan đến an ninh quốc gia, ma túy, khủng bố, rửa tiền, tham nhũng hoặc các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có tổ chức.
[6] Điểm c, khoản 1, Điều 58; điểm b, khoản 2, Điều 59; điểm b, khoản 2, Điều 60; điểm c, khoản 2, Điều 61 Bộ luật TTHS 2015.
[7] Đào Trung Hiếu, “Nhập khẩu” quyền im lặng và những hệ lụy”, Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 31/10/2015, http://cstc.cand.com.vn/Phong-su-Tieu-diem/Nhap-khau-quyen-im-lang-va-nhung-he-luy-370894/, truy cập ngày 31/3/2017.
[8] Đào Trung Hiếu, “Nhập khẩu” quyền im lặng và những hệ lụy”,tlđd.
[9] Alan M. Dershowitz, Is there a right to remain silent? Coercive interrogation and the Fifth Amendment After 9/11, Oxford: Oxford University Press, 2008, p.61
[10] Welsh S. White, Miranda’s waning protections: police interrogation practices after Dickerson. Ann Arbor: University of Michigan Press, 2001, p.39
[11] Khoản 2, Điều 87 Bộ luật TTHS 2015
[12] Khoản 2, Điều 183; khoản 3, Điều 301 Bộ luật TTHS 2015.
[13] Quyết định số 1351/2004/QĐ-BCA(C11) ngày 18/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Công an.
 

Võ Minh Kỳ – Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ

 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Quyền hạn của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

Quyền hạn của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong tố tụng hành chính; theo đó, Tòa án đưa ra phán quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Bài viết tập trung phân tích, luận giải, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về quyền hạn của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện việc thực hiện quyền hạn của Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở nước ta hiện nay.
Quyền hạn của Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm vụ án hành chính có thể được hiểu là quyền hạn của Tòa án trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo nghĩa hẹp – “quyền mà pháp luật trao cho Tòa án khi xét xử sơ thẩm các vụ án hành chính, thể hiện trong nội dung của các phán quyết mà hội đồng xét xử đưa ra”[1]. Theo cách hiểu này, quyền hạn của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính là nội dung trọng tâm của thẩm quyền xét xử vụ án hành chính nói chung của Tòa án; thể hiện năng lực pháp lý của Tòa án trong việc đánh giá, phán quyết về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện theo trình tự tố tụng hành chính sơ thẩm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Quy định hợp lý quyền hạn của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính không chỉ là cơ sở để giải quyết nhanh chóng, dứt điểm vụ án hành chính ở cấp xét xử đầu tiên, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án hành chính ở các cấp xét xử tiếp theo. Do đó, việc đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện việc thực hiện quyền hạn của  HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hành chính của Tòa án.

1. Quyền hạn của HĐXX sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành

Trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định tại Điều 163 của Luật Tố tụng hành chính (LTTHC) năm 2010, LTTHC năm 2015 đã quy định đầy đủ hơn và có một số điểm mới về quyền hạn của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính tại Điều 193. Bên cạnh đó, LTTHC năm 2015 còn bổ sung thêm quyền hạn của Tòa án nói chung và của Hội HĐXX nói riêng đối với việc xem xét, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan trong sơ thẩm vụ án hành chính. Theo đó, Tòa án có quyền xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại văn bản hành chính, hành vi hành chính đó và trả lời kết quả cho Tòa án theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Tòa án có quyền kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật, nếu phát hiện văn bản đó có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án.[2]
Để thực hiện những quyền hạn mới nêu trên, HĐXX sơ thẩm có vai trò được quy định cụ thể tại khoản 3 và khoản 4 Điều 193 LTTHC năm 2015; cụ thể: Trường hợp cần phải yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật này, thì Hội đồng xét xử báo cáo Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án đó có văn bản yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản hành chính đó. Trường hợp này, Hội đồng xét xử có quyền tạm ngừng phiên tòa để chờ kết quả giải quyết của cơ quan, người có thẩm quyền. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án thì cơ quan, người có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản về kết quả xử lý cho Tòa án biết để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án. Quá thời hạn này mà không nhận được văn bản trả lời của cơ quan, người có thẩm quyền thì Hội đồng xét xử có quyền áp dụng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên để quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính mà có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa theo quy định tại Điều 112 của Luật này.
Đây được coi là một điểm mới đáng ghi nhận trong việc hoàn thiện chế định thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án. Tuy vậy, chúng ta vẫn cần bàn thêm về tính hợp lý của quy định này. Tại Điều 111 và Điều 112 của LTTHC năm 2015 đã khẳng định, Chánh án Tòa án các cấp có thẩm quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nếu phát hiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án hành chính có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Thế nhưng, theo các quy định tại khoản 4 Điều 193 và Điều 194 của LTTHC năm 2015 thì rõ ràng việc trực tiếp xử lý văn bản quy phạm pháp luật nêu trên không thuộc quyền hạn của HĐXX sơ thẩm và cũng không được thể hiện trong bản án hành chính sơ thẩm. Do đó, quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản sai trái được Tòa án thực hiện bằng văn bản kiến nghị thông thường, không được bảo đảm thực hiện bằng phương thức thi hành án hành chính. Điều này dẫn đến tính hình thức, thiếu tính khả thi và kéo dài việc xét xử vụ án hành chính, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người dân. Mặc dù, nhằm đảm bảo tính chấp hành kiến nghị của Chánh án, LTTHC năm 2015 đã quy định trách nhiệm giải quyết của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tại Điều 113 và Điều 114. Tuy nhiên, với cách giải quyết này thì, khi phát hiện ra văn bản quy phạm pháp luật sai trái, HĐXX không có quyền đóng góp ý kiến mà chỉ “tạm ngừng phiên tòa” chuyển về cho Chánh án Tòa án thực hiện việc kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ và việc giải quyết vụ án hành chính sẽ bị gián đoạn; cá nhân, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính tiếp tục phải chờ đợi việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Trong trường hợp này, việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật “hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan nhà nước trên cơ sở đề nghị kiến nghị hoặc kiến nghị của Chánh án Tòa án về việc sửa đổi, thay thế hoặc bãi bỏ theo quy định của pháp luật. Kết quả của kiến nghị của Chánh án có thể xẩy ra một trong hai trường hợp sau:

  • Nếu không có văn bản trả lời của cơ quan nhà nước được Chánh án kiến nghị thì Tòa án có quyền áp dụng văn bản pháp lí cao hơn để giải quyết vụ án.
  • Trường hợp có văn bản trả lời chấp nhận kiến nghị của Tòa án thì giải quyết theo thủ tục chung”[3].

Nhưng thủ tục chung ở đây được hiểu là HĐXX sơ thẩm sử dụng văn bản mới (sửa đổi, bãi bỏ, thay thế) hay văn bản quy phạm pháp luật ban đầu để giải quyết vụ án hành chính thì lại không được LTTHC năm 2015 quy định rõ ràng. Như vậy, HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính vẫn chưa có quyền hạn thực sự và triệt để trong việc xử lý trực tiếp đối với các văn bản quy phạm pháp luật sai trái.
Ở nước ta chỉ ghi nhận quyền phán quyết của Tòa án về tính hợp pháp của quyết định hành chính và hành vi hành chính, chứ Tòa án không được phán quyết về tính hợp lý của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện, phù hợp với quan điểm quyền tư pháp không được can thiệp sâu vào quyền hành pháp, nhưng cũng cần có cơ chế phù hợp, hiệu quả để bản án của Tòa án được thi hành một cách triệt để. Tuy vậy, điểm c khoản 2 Điều 193 LTTHC năm 2015 quy định: “Hội đồng xét xử có quyền kiến nghị cách thức xử lý đối với quyết định hành chính trái pháp luật đã bị kiện”. Để thực hiện quy định này, đòi hỏi HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính phải am hiểu về nghiệp vụ quản lý hành chính nhà nước. Do đó, quyền hạn nêu trên của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính rất khó thực hiện trên thực tế.
Tuy HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính có quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính và hành vi hành chính bị khởi kiện, nhưng chưa có một văn bản pháp luật nào quy định một cách tập trung, thống nhất, cụ thể và đầy đủ về các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của một quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính khi xét xử. Điều này dẫn đến tình trạng, cùng một vụ việc, loại quyết định, nhưng các cấp Tòa án lại có những quan điểm đánh giá khác nhau về tính hợp pháp của quyết định hành chính và hành vi hành chính. Cá biệt có trường hợp “Cùng một Tòa án thụ lý 02 vụ án giống nhau cả về đối tượng xét xử, thủ tục tố tụng và nội dung vụ án, nhưng khi xét xử thì có vụ án Tòa án bác yêu cầu khởi kiện, vụ án khác lại chấp nhận yêu cầu khởi kiện và hủy quyết định hành chính[4] . Có nhiều Tòa án, khi xét xử vụ án hành chính đã không căn cứ vào quy định của pháp luật chuyên ngành, đánh giá tính hợp pháp quyết định hành chính không phù hợp quy định của pháp luật. Thực trạng này đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả giải quyết vụ án hành chính của Tòa án.

2. Một vài kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về quyền hạn của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất: Để đảm bảo việc ra phán quyết của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính một cách thống nhất và chính xác, pháp luật tố tụng hành chính cần quy định rõ ràng, hợp lý và cụ thể hơn về các thuật ngữ “quyết định hành chính, hành vi hành chính; quyết định, hành vi mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức”. Tuy các khái niệm này đã được quy định trong luật, nhưng ở nhiều Tòa án địa phương vẫn có trường hợp áp dụng sai. Vì vậy, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cần sớm ban hành nghị quyết để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật đối với vấn đề này. Bên cạnh đó, cũng cần có sự hướng dẫn chi tiết liên quan đến việc các tiêu chí cụ thể để xác định quyết định hành chính cá biệt. Vì trong thực tiễn xét xử, một số trường hợp vẫn nhầm lẫn trong việc xác định quyết định hành chính có phải là quyết định cá biệt hay không.
Thứ hai: Vận dụng kinh nghiệm các nước, Việt Nam nên quy định rõ ràng, minh bạch quyền hạn cho HĐXX sơ thẩm đối với việc xem xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính quy phạm có liên quan đến một vụ kiện hành chính cụ thể, được phát hiện trong quá trình giải quyết vụ việc. Ví dụ, khi có một quyết định hành chính bị khiếu kiện, thì Tòa án phải xem xét quyết định đó căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật nào để ban hành. Nếu văn bản quy phạm pháp luật này trái pháp luật thì HĐXX tuyên hủy quyết định hành chính cá biệt, đồng thời, ra phán quyết với văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính có liên quan, yêu cầu cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm đó hoặc cơ quan cấp trên sửa đổi hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm. Những nội dung này cần phải được thể hiện cụ thể trong bản án hành chính và có tính bắt buộc phải thi hành. Các quy định này không chỉ bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật vụ án hành chính, mà còn đề cao vai trò của HĐXX sơ thẩm trong tố tụng hành chính và góp phần bảo vệ kịp thời các quyền con người, quyền công dân, lợi ích trực tiếp của người khởi kiện vụ án hành chính.
Thứ baCần ban hành quy định khung thống nhất làm chuẩn mực về cơ sở pháp lý cho việc ra phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính để HĐXX đánh giá và đưa ra cách xử lý phù hợp nhất; đồng thời, người khởi kiện cũng có thể dựa vào đó để làm căn cứ cho việc khiếu kiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính phải : Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện; Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính; Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính; Mối liên hệ giữa quyết định hành chính, hành vi hành chính với quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có liên quan; Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản hành chính có liên quan (nếu có).
Thứ tưCần triển khai áp dụng các yếu tố hợp lý của học thuyết án lệ. Việc công bố những tập sách đầu tiên về “Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao” là tín hiệu khả quan cho việc áp dụng những yếu tố phù hợp của học thuyết án lệ theo hướng “hệ thống án lệ có tính chất tham khảo’’[5]. Bên cạnh đó, TANDTC cũng đã ban hành và công bố án lệ hành chính đầu tiên và duy nhất hiện nay ở Việt Nam (Án lệ số 10/2016/AL về quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính). Mặc dù đây không phải là án lệ hành chính sơ thẩm, nhưng cũng đã xác lập nhiều căn cứ quan trọng để HĐXX sơ thẩm nghiên cứu, áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính. Tuy nhiên, xuất phát từ tầm quan trọng và đặc thù của xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, thì việc nghiên cứu, lựa chọn và công bố án lệ hành chính sơ thẩm là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam hiện nay.
Thứ  năm: Để bảo đảm việc chấp hành các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính, cần quy định việc thực hiện các quyền hạn của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính (được nêu ở mục 1 của bài viết này) phải được thể hiện rõ ràng, đầy đủ, chính xác trong bản án hành chính. Bên cạnh đó, cũng cần phải có biện pháp hữu hiệu để buộc cơ quan hành chính và các cá nhân, tổ chức có liên quan nghiêm chỉnh chấp hành phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của HĐXX sơ thẩm vụ án hành chính nói riêng và của Tòa án nói chung. Vấn đề này có thể vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc, Nhật Bản như áp dụng một khoản tiền phạt nhất định tương ứng với mỗi ngày mà các chủ thể không thi hành bản án hành chính đúng thời hạn quy định.
LTTHC cần sửa đổi theo hướng, tăng cường hơn nữa trách nhiệm của Tòa án trong việc thi hành án hành chính. Ngoài ra, cũng cần tăng cường hơn nữa trách nhiệm của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước nói chung và của thủ trưởng cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp của người bị kiện nói riêng trong thi hành án hành chính. Trong đó, cần quy định một số trường hợp cần thiết mà thủ trưởng cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp có trách nhiệm ban hành quyết định thi hành án hành chính buộc cấp dưới phải thi hành.
Thứ sáu: Tòa án các cấp cần định kỳ tiến hành tổ chức tập huấn, trau dồi kiến thức sâu về quản lý hành chính, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm đối với những vụ án có sai sót; chủ động báo cáo và đề nghị Tòa án cấp trên hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về những vướng mắc trong quá trình xét xử các vụ án hành chính./.
 

ThS.NCS NGUYỄN THỊ HÀ (Khoa Luật – Trường Đại học Vinh)

(Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử sáng ngày 9/8/2018)

 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Thanh Bình (2003), Thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, luận án tiến sỹ luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội.
ThS. Nguyễn Mạnh Hùng, “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính – Sự kế thừa, phát triển và những nội dung cần tiếp tục được hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, (9/2011), tr. 33 – 39.
Phạm Hồng Quang (2010), “Kinh nghiệm từ mô hình và thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 2010
ThS. Nguyễn Văn Quang (2000), “Quyền hạn của Toà án nhân dân trong xét xử sơ thẩm các vụ án hành chính”, Tạp chí Luật học, (6), tr. 35 – 40.
Quốc hội “Luật Tố tụng hành chính”, số: 93/2015/QH13), ngày 25/11/2015
ThS. Đồng Thị Kim Thoa (2005), “Về quyền hạn của Toà án trong việc ra phán quyết khi giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm”, Tạp chí Luật học, (4), tr. 38 – 43.
[1] Xem ThS. Nguyễn Văn Quang (2000), “Quyền hạn của Toà án nhân dân trong xét xử sơ thẩm các vụ án hành chính”, Tạp chí Luật học, (6), tr. 35 – 40
[2] Xem Điều 6 Luật Tố tụng hành chính 2015
[3] Xem TS Nguyễn Thị Thủy, “Pháp luật tố tụng với việc xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết”, Hội thảo khoa học cấp khoa, Đại học Luật Hà Nội, 2015
[4] Tòa án nhân dân tối cao, “ Báo cáo công tổng kết công tác năm 2012 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2013 của Ngành Tòa án nhân dân”, ngày 18/1/2013
[5] Để xuất bản các quyết định giám đốc thẩm này, Tòa án nhân dân tối cao nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật của USAID. Nhận Bản cũng là quốc gia hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực này, xem Supreme People’s Court [Toa An Nhan Dan Toi Cao], Vietnam-Japan joint research on the development of judicial precedent in Vietnam (sách in bằng tiếng Anh, tiếng Nhật và tiếng Việt) (2008). Hiện nay, các quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao cũng đã được đăng tải trên trang mạng http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/545500/3377352.

Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

1. Những điểm mới về Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức tại Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015

Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
 

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

 
Điều luật này đã coi trọng bản chất, tôn trọng ý chí các bên, một biểu hiện trong việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản nói chung, nguyên tắc cơ bản thứ hai ghi tại khoản 2 Điều 3 của BLDS nói riêng. Như vậy, việc tôn trọng ý chí các bên không chỉ thể hiện trong thực thi mà ngày càng tiến dần đến sự nhất quán trong xây dựng các quy định cụ thể của Bộ luật. Sự sửa đổi, bổ sung này ít nhiều đã giảm sự can thiệp của Nhà nước vào quan hệ dân sự, nó không chỉ hợp lý (xét dưới góc độ lý thuyết) mà còn giàu tính thực tiễn, tăng sức sống cho các giao dịch, tăng tính ổn định trong quan hệ dân sự, bảo đảm sự công bằng.
Chúng tôi không phủ nhận vai trò của hình thức, nhưng cũng cần phải thấy nó luôn luôn chỉ là hình thức biểu hiện của sự vật nói chung, chứ không tạo nên sự vật đó. Ngày nay, với sự phát triển đột phá của khoa học công nghệ, càng không nên sử dụng quy định về hình thức giao dịch làm công cụ quản lý, kiểm soát của Nhà nước mà phải sử dụng ngay chính công nghệ. Với bản chất quan hệ dân sự thì càng không nên coi hình thức có vai trò ngang bằng hay cao hơn ý chí của hai bên, bởi ý chí của hai bên mới tạo nên quan hệ dân sự, tạo nên đời sống dân sự, chứ không phải hình thức. Có vô vàn ví dụ có thể dẫn ra khi giá nhà, đất tăng giảm đột biến thì các quan hệ mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có vi phạm điều kiện về hình thức đã bị vô hiệu, dù hai bên đã thực hiện cơ bản, thậm chí xong nghĩa vụ về tài sản, chỉ còn điều kiện về hình thức là chưa hoàn thành.
Với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 129, nếu việc giải thích không bị khuôn theo câu chữ của Điều 129 mà theo tiêu chí nghĩa vụ đã được thực hiện thì điều này sẽ giúp làm giảm rất nhiều những giọt nước mắt đau xót, uất nghẹn của những người hiền lành, thiện chí nhưng không hiểu hết hậu quả của việc không hoàn thiện quy định về hình thức của giao dịch trong các quan hệ mua bán nói chung, đặc biệt là mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi xảy ra đột biến về giá cả trên thị trường, như đã từng diễn ra những năm cuối thế kỷ XX, thập niên đầu thế kỷ XXI. Vì vậy, chúng tôi đánh giá cao quy định tại Điều 129 của Bộ luật, khi giải thích theo hướng nhằm giảm thiểu các giao dịch dân sự bị vô hiệu về hình thức.
Trên diễn đàn khoa học, có ý kiến cho rằng, khoản 1 Điều 129 quy định: “giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì…” mới được áp dụng khoản 1 Điều 129; trường hợp “giao dịch dân sự đã được xác lập” “bằng văn bản nhưng…” văn bản không theo thể thức nào, nói nôm na “không theo kiểu gì”, thì dù “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch” cũng không áp dụng khoản 1 Điều 129. Cơ sở để không áp dụng là do khoản 1 Điều 129 quy định rất cụ thể, rõ ràng: “giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật”.
Nghiên cứu lời văn tại khoản 1, khoản 2 Điều 129 cho thấy, quy định tại khoản 1 chỉ áp dụng cho những trường hợp các bên có lập văn bản, nhưng văn bản không hoàn toàn đúng theo mẫu, chưa chuẩn theo hình thức luật quy định, nhưng văn bản đó vẫn phải tương thích với hình thức mà pháp luật quy định cho loại giao dịch đó. Điều đó cũng có nghĩa là, nếu một văn bản đã vi phạm nghiêm trọng, sai biệt nghiêm trọng so với hình thức pháp luật quy định (ví dụ, nếu theo quy định văn bản dưới hình thức hợp đồng nhưng văn bản mà hai bên xác lập không theo dạng hợp đồng hoặc văn bản sai biệt quá nghiêm trọng so với mẫu, nội dung trong văn bản đơn giản, sơ lược, không thể hiện được các thuộc tính hình thức của loại giao dịch nào, hoặc theo loại mẫu nào) thì không được áp dụng Điều 129.
Cùng quan điểm này, có ý kiến cho rằng, “giao dịch dân sự được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trường hợp này, pháp luật quy định giao dịch bằng văn bản theo mẫu quy định (ví dụ, giao dịch chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai theo Luật Nhà ở thì hình thức giao dịch theo mẫu quy định của Nhà nước) nhưng các bên tự lập văn bản của giao dịch và giao dịch đã thực hiện 2/3 giá trị của giao dịch thì Tòa án có quyền công nhận hiệu lực của giao dịch”[1].
Có phải “các bên tự lập văn bản của giao dịch” có nghĩa hình thức văn bản vẫn phải thể hiện rõ, tương đối đầy đủ về hình thức của hợp đồng nhưng tự viết, không theo mẫu thì mới được chấp nhận?
Khoản 2 Điều 129 Bộ luật đã quy định “giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”. Những ý kiến theo quan điểm trên cũng cho rằng, quy định này chỉ áp dụng cho các loại giao dịch mà luật bắt buộc phải công chứng, chứng thực, không áp dụng cho trường hợp khác về điều kiện có hiệu lực hình thức của giao dịch (không được quy định trong điều 129 như đăng ký), thì dù hai bên có thực hiện 2/3 nghĩa vụ, thậm chí thực hiện xong nghĩa vụ trong giao dịch cũng không được công nhận hợp đồng. Ví dụ, dù các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng sẽ không được áp dụng quy định này. Vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013 phải được đăng ký (Điều 188 Luật Đất đai) mới được coi là thỏa mãn điều kiện có hiệu lực về hình thức của giao dịch.
Điều 129 của BLDS không đề cập đến loại giao dịch mà thủ tục “đăng ký” là điều kiện có hiệu lực của giao dịch đó. Điều đó có nghĩa, Điều 129 Bộ luật đã loại trừ, không áp dụng cho trường hợp hình thức giao dịch phải có thủ tục đăng ký mà hai bên không thực hiện việc đăng ký, nên không được áp dụng. Sở dĩ Bộ luật không “châm chước” về hình thức cho loại giao dịch này là vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước quản lý chặt chẽ, do đó việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc phải tuân thủ đúng quy định của Luật Đất đai mới được công nhận hợp đồng.
Từ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 129 cho thấy, việc công nhận giao dịch vi phạm điều kiện về hình thức cũng mở có giới hạn, chỉ áp dụng cho những giao dịch thuộc trường hợp quy định tại Điều 129 và thỏa mãn điều kiện về thực hiện nghĩa vụ.
Chúng tôi cho rằng, theo câu chữ của điều luật, cách hiểu và giải thích nói trên không phải không có lý, rất sát với câu chữ của Bộ luật. Hơn nữa, nếu không phải nhà làm luật chỉ “mở” có giới hạn như giải thích của quan điểm nói trên thì tại sao lại phải thiết kế thành 2 khoản với hai trường hợp ngoại lệ đó, cách thể hiện lại khuôn vấn đề rất giới hạn với các câu chữ như “theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật” v.v..?
Với những phân tích như trên, chúng tôi cho rằng, cần giải thích, hướng dẫn áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 129 theo hướng có vi phạm điều kiện về hình thức, nhưng một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trường hợp luật quy định giao dịch phải được lập thành văn bản mà các bên không lập văn bản; trường hợp luật quy định phải công chứng, chứng thực nhưng các bên không công chứng, chứng thực; trường hợp phải công chứng, chứng thực, đăng ký song các bên không thực hiện việc đăng ký, thậm chí không công chứng, chứng thực nhưng “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”.
Giải thích theo hướng này sẽ bảo đảm tính ổn định của giao dịch, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có vi phạm điều kiện về hình thức (chưa đăng ký) là được áp dụng Điều 129 của Bộ luật, hạn chế rất nhiều giao dịch vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền cho rằng, quy định tại Điều 129 phải giải thích theo câu chữ của luật như quan điểm nêu trên, thì chúng tôi cho rằng, cần giải thích từ “văn bản” theo nghĩa chung nhất của từ này, chứ không nên giải thích từ “văn bản” cứng nhắc như quan điểm nói trên.
Thực tiễn cho thấy, sau xét xử, một trong hai bên khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm về hình thức giao dịch chủ yếu cũng là loại tranh chấp về đất đai. Do đó, chúng tôi cho rằng, không nên giải thích Điều 129 theo hướng loại đối tượng giao dịch là quyền sử dụng đất ra khỏi đối tượng áp dụng điều luật này. Trường hợp loại ra, sẽ xảy ra một nghịch lý: nếu giao dịch là nhà đất thì dù nhà nằm trên đất nhưng giao dịch lại được áp dụng Điều 129. Khi đó, để được áp dụng Điều 129, người dân sẽ đối phó bằng những sáng kiến theo cách như dựng một túp lều, trồng một số cây lưu niên trên đất trước khi chuyển nhượng, v.v.. và hợp đồng sẽ ghi là bán nhà, bán vườn cây gắn liền với đất nhằm phòng ngừa lật lọng, không hợp tác hoàn thiện về hình thức giao dịch.
Tuy nhiên, để bảo đảm phù hợp câu chữ của Điều 129, việc giải thích theo hướng tách nhà ra khỏi đất, chỉ phần giá trị nhà được áp dụng theo Điều 129 thì lại càng không hợp lý. Do đó, chúng tôi cho rằng, cơ quan có thẩm quyền cần cân nhắc kỹ lưỡng khi hướng dẫn áp dụng  Điều 129.

2. Xác định mức độ thực hiện nghĩa vụ trong giao dịch

Theo quy định của Điều 129, giao dịch vi phạm điều kiện về hình thức nhưng “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.”
Thực tiễn giao dịch dân sự cho thấy, có rất nhiều dạng nghĩa vụ như: nghĩa vụ tài sản, nghĩa vụ phi tài sản v.v.. Vì vậy, cần phải làm rõ việc xác định nghĩa vụ chỉ là nghĩa vụ tài sản hay phải bao gồm tất cả các nghĩa vụ mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng?  Khi trong giao dịch vừa có nghĩa vụ tài sản vừa có nghĩa vụ phi tài sản; một bên phải thực hiện nghĩa vụ tài sản vừa phải thực hiện nghĩa vụ phi tài sản (như thực hiện thủ tục sang tên…), hoặc các bên đều chỉ có nghĩa vụ phi tài sản thì dựa vào tiêu chí gì để được coi là đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ?
Về những vấn đề đặt ra trên đây, chúng tôi cho rằng, trên thực tế có những giao dịch dân sự vừa có nghĩa vụ tài sản vừa có nghĩa vụ phi tài sản; cũng có giao dịch mà nghĩa vụ là việc thực hiện những hành vi, công việc nhất định sau đó người thực hiện được trả công, thù lao… hoặc cả hai bên đều phải thực hiện những công việc nhất định theo thỏa thuận. Trong khi đó, quy định tại Điều 129 không phân biệt giao dịch có nghĩa vụ tài sản và nghĩa vụ phi tài sản mà chỉ quy định chung là “đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch” thì phải giải thích theo hướng không phân biệt việc áp dụng cho loại giao dịch có nghĩa vụ tài sản hay nghĩa vụ phi tài sản (việc sử dụng cụm từ “nghĩa vụ phi tài sản” chỉ mang tính tương đối). Bất kỳ loại giao dịch dân sự nào mà hai bên cùng có nghĩa vụ đều được áp dụng.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng, phải xác định cả nghĩa vụ tài sản và nghĩa vụ phi tài sản, nhưng không biết lấy tiêu chí gì để xác định thực hiện nghĩa vụ đến mức nào thì được coi là đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ. Đây là vấn đề phức tạp, cơ quan chức năng phải có hướng dẫn.
Trong thời gian chờ hướng dẫn, chúng tôi đề nghị cần phân biệt các trường hợp sau:
– Đối với những giao dịch các bên đều có nghĩa vụ tài sản, còn nghĩa vụ phi tài sản chỉ là những công việc để hoàn thiện hình thức của giao dịch, thì chỉ căn cứ vào nghĩa vụ tài sản để xác định. Điều đó có nghĩa là khi một bên hay cả hai bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ tài sản thì cơ quan tài phán công nhận giao dịch, không cân đong đo đếm nghĩa vụ phi tài sản (là thực hiện thủ tục hình thức giao dịch) trong trường hợp này, dù trong giao dịch hai bên có thỏa thuận việc một bên hay cả hai bên cùng nhau thực hiện nghĩa vụ hoàn thiện về hình thức của giao dịch. Việc không tính đến nghĩa vụ này dựa trên cơ sở: đây chính là nguyên nhân dẫn đến hình thức của giao dịch không được thực hiện do lỗi của một bên hay cả hai bên, nên BLDS mới đưa ra quy định này. Quy định của BLDS tự nó đã loại nghĩa vụ này ra khỏi bàn cân xác định mức thực hiện nghĩa vụ.
– Đối với giao dịch một bên có nghĩa vụ tài sản, một bên thực hiện những hành vi, công việc nhất định, nếu bên có nghĩa vụ tài sản đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ thì đủ điều kiện theo luật định để công nhận hợp đồng. Trong trường hợp chỉ có bên thực hiện nghĩa vụ phi tài sản đã thực hiện nghĩa vụ này thì dựa trên khối lượng công việc đã thực hiện (đối với loại việc được xác định theo khối lượng) hoặc thời gian đã bỏ ra thực hiện công việc (đối với giao dịch được thực hiện theo thời gian)… để xác định đã thực hiện nghĩa vụ ở mức nào.
– Riêng đối với trường hợp cả hai bên đều có nghĩa vụ phi tài sản thì vấn đề rất phức tạp do không có tiêu chí cụ thể. Vì vậy, trước hết phải dựa trên thỏa thuận của hai bên trong giao dịch về số lượng, loại việc… mà mỗi bên phải thực hiện, từ đó yêu cầu mỗi bên chứng minh về số lượng, khối lượng, thời gian, công sức đã bỏ ra… khi thực hiện nghĩa vụ, chứng minh đã hoàn thành nghĩa vụ đến mức nào. Trên cơ sở đó, cơ quan tài phán đánh giá, kết luận đã thực hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ hay chưa.

3. Xác định thiệt hại trong trường hợp công nhận hợp đồng

Đối với những trường hợp một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch và đã được cơ quan tài phán công nhận hợp đồng, thì việc xử lý phần nghĩa vụ chưa thực hiện như thế nào cũng là vấn đề gây tranh cãi. Quy định của Điều 129  được áp dụng cho những trường hợp có tranh chấp mà giao dịch vi phạm điều kiện có hiệu lực về hình thức. Trên thực tế, thời gian từ khi có sự vi phạm thỏa thuận đến khi bản án, quyết định được thi hành thường rất dài, nên có nhiều biến động, làm cho bên nào đó bị thiệt hại. Bên có quyền lợi đã không nhận được đầy đủ quyền lợi của mình đúng như thời hạn đã thỏa thuận trong giao dịch. Vì vậy, không thể xử lý như trường hợp bình thường là chỉ thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng, mà phải buộc bên có nghĩa vụ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với phần nghĩa vụ chậm thực hiện. Tùy theo tính chất của quan hệ dân sự và thiệt hại xảy ra để xác định, có thể thiệt hại chỉ là những lợi ích bị mất tương ứng với việc chậm thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp này, nên căn cứ Điều 357 để giải quyết, nếu là hợp đồng mua bán thì thiệt hại có thể là chênh lệch giá v.v.., trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hợp pháp thì căn cứ thỏa thuận để xác định.

4. Những kiến nghị về áp dụng Điều 129 BLDS

Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng, khi áp dụng Điều 129 BLDS cần lưu ý những vấn đề sau đây:
Một là, Điều 129 chỉ áp dụng cho giao dịch mà pháp luật quy định hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, nhưng các bên không tuân thủ quy định về hình thức, song một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì công nhận giao dịch đó theo yêu cầu của một bên hoặc các bên;
Hai là, chỉ công nhận giao dịch khi không vi phạm các điều kiện có hiệu lực khác và việc khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu về hình thức trong thời hạn 2 năm kể từ ngày xác lập giao dịch;
Ba là, sau 2 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập mới khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu về hình thức (không vi phạm các điều kiện có hiệu lực khác), dù bên có nghĩa vụ đã thực hiện hoặc chưa thực hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ vẫn công nhận giao dịch, nhưng không phải là áp dụng Điều 129 mà áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 132 và các điều tương ứng với quan hệ pháp luật đang giải quyết;
Bốn là, việc xác định 2/3 nghĩa vụ không phải với nghĩa tổng số nghĩa vụ trong giao dịch mà chỉ cần một bên đã thực hiện được ít nhất 2/3 nghĩa vụ của họ trong giao dịch là đủ điều kiện áp dụng Điều 129.
Năm là, chỉ các giao dịch có đền bù thì mới áp dụng điều kiện về hình thức theo quy định của Điều 129; các quan hệ dân sự không có đền bù không áp dụng khoản 2,3 Điều 129./.
[1] Xem, Bình luận khoa học BLDS của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2015, Nxb. Tư pháp, H. 2016, tr. 201.
 

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ và một số nội dung Việt Nam có thể tiếp thu

Pháp điển hóa có ý nghĩa quan trọng trong hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia. Hoa Kỳ là một quốc gia có lịch sử pháp điển hóa từ lâu đời, đã xây dựng được mô hình pháp điển hóa tương đối hoàn thiện và đạt hiệu quả cao. Chính bởi vậy, việc phân tích một cách sâu sắc về mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ nhằm rút ra một số kinh nghiệm pháp điển hóa mà Việt Nam có thể tiếp thu là thực sự cần thiết.

1. Quan niệm về pháp điển hóa và mô hình pháp điển hóa

Thuật ngữ pháp điển hoá đã được sử dụng khá phổ biến trong cả lý luận và thực tiễn pháp lý quốc tế. “Pháp điển” là một từ Việt cũ, một danh từ dùng để chỉ một bộ luật[1], tương tự như chữ “Code” trong tiếng Anh. Bộ luật khác với các văn bản pháp luật khác về quy mô, tính toàn diện, tính hệ thống, tính ổn định và giá trị pháp lý cao của nó. Vì vậy, việc có được những bộ pháp điển lớn, hoàn chỉnh để có thể sử dụng lâu dài, ổn định là mong muốn của nhiều người, nhiều quốc gia. Thực tế lịch sử nhà nước và pháp luật đã cho thấy, ngay từ thời cổ đại, một số quốc gia trên thế giới đã xây dựng thành công những bộ luật lớn mà cho đến ngày nay vẫn được coi là di sản của văn hoá pháp lý thế giới. Ví dụ như: Bộ luật Hamurabi được xây dựng cách đây gần 4.000 năm là một minh chứng điển hình[2]. Xu hướng xây dựng các pháp điển tiếp tục phát triển khá mạnh mẽ trong những giai đoạn tiếp theo và cho đến nay nhiều nước vẫn tiếp tục quá trình đó[3]. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Như vậy, “pháp điển” cần được hiểu là bộ luật, hàm chứa trong đó hệ thống các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ cụ thể. Từ cách hiểu về “pháp điển”, thuật ngữ “pháp điển hoá” trong tiếng Việt[4], “Codification” trong tiếng Anh được dùng để thể hiện một khái niệm về một loại hình hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật có những đặc thù riêng về phương pháp, nguyên tắc, trình tự, thủ tục và kỹ thuật pháp lý.
Khái niệm “mô hình” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “modus”, có nghĩa là đại lượng, hình ảnh, phương pháp. Ở nghĩa hẹp, mô hình là mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng loạt. Cũng ở nghĩa hẹp này, mô hình còn được hiểu là thiết bị, cơ cấu tái hiện hay bắt chước cấu tạo và hoạt động của cơ cấu khác (của nguyên mẫu hay cái được mô hình hóa) vì mục đích khoa học và sản xuất. Ở nghĩa rộng, mô hình được hiểu là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả…) ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc hiện tượng)[5].
Trong nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tế, thuật ngữ mô hình được sử dụng rộng rãi không chỉ trong khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên mà cả trong các khoa học xã hội và nhân văn như triết học, kinh tế học, ngôn ngữ học, luật học và các khoa học chính trị.
Mô hình hóa là sự tái hiện những đặc trưng của một khách thể nào đó dựa trên khách thể khác tương tự được xây dựng lên để phục vụ cho việc nghiên cứu nó. Khách thể khác ấy được gọi là mô hình. Mô hình có thể thực hiện được vai trò đó khi nào mức độ tương ứng của nó với khách thể được xác định một cách tương đối chặt chẽ[6].
Như vậy, nhu cầu về mô hình hóa phát sinh khi việc nghiên cứu bản thân khách thể một cách trực tiếp gặp khó khăn, tốn kém, cần nhiều thời gian hoặc không thể tiến hành được vì khách thể quá lớn, quá bé hoặc quá phức tạp. Cơ sở của mô hình hóa là sự tương tự nhất định giữa mô hình và khách thể được nghiên cứu. Đây có thể là sự tương tự về đặc trưng vật lý, về chức năng và sự tương tự này cho phép chuyển từ mô hình sang chính khách thể, cho phép sử dụng các kết quả thu nhận được nhờ mô hình lên khách thể.
Lịch sử thế giới cho thấy, các phương pháp mô hình hóa bắt đầu được áp dụng rộng rãi trong thế kỷ XX, bắt đầu từ các khoa học tự nhiên như vật lý học, hóa học, sinh vật học,… Bởi vì, các khoa học đó chủ yếu dựa vào các hoạt động thực nghiệm thông qua sử dụng các mô hình. Về sau, khoa học xã hội cũng đã dần dần học tập cách sử dụng mô hình và phương pháp mô hình hóa để nghiên cứu, chẳng hạn như mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mô hình bảo hiến, mô hình văn hóa, mô hình quản lý,… trong đó có thuật ngữ mô hình pháp điển hóa.
Mô hình pháp điển hóa là các cách thức mang tính khuôn mẫu, chuẩn mực pháp điển hóa được đúc kết từ thực tiễn pháp lý của các quốc gia; có sự chi phối lớn đến các hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật; chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố mang tính đặc thù của mỗi quốc gia, dân tộc. Mỗi mô hình pháp điển hóa đều mang những đặc thù chung có tính nguyên tắc mà một hệ thống pháp luật cũng như từng lĩnh vực pháp luật cụ thể đều phải tuân thủ.

2. Mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia được tổ chức dưới hình thức Liên bang. Bên cạnh pháp luật Liên bang, từng bang có hệ thống pháp luật riêng về những vấn đề, lĩnh vực mà mình được phân quyền. Do vậy, hệ thống hóa, pháp điển hóa pháp luật ở quốc gia này hết sức phức tạp. Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng có nhiều điểm thuận lợi mà nhiều quốc gia khác không có, chẳng hạn đó là sự phân định khá rạch ròi về thẩm quyền giữa chính quyền Liên bang và các chính quyền bang, giữa hệ thống cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp, tư pháp. Chính vì vậy, bên cạnh hệ thống án lệ đã được hình thành và duy trì từ lâu, hệ thống pháp luật thành văn tại đây cũng được tổ chức và quản lý một cách tương đối chặt chẽ.
Có thể thấy, ý tưởng pháp điển hóa đã có từ rất sớm ở Hoa Kỳ. Pháp điển hóa ở Hoa Kỳ có một quá trình lịch sử và hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Hiện nay, ở phạm vi Liên bang đang tồn tại hai bộ pháp điển chính thức, đó là 1) Bộ pháp điển pháp luật Liên bang (United States Codes – USC), tập hợp phần lớn các luật đang có hiệu lực do Nghị viện Liên bang Hoa Kỳ ban hành về từng lĩnh vực; 2) Bộ pháp điển pháp quy Liên bang (Code of Federal Regulations – CFR), tập hợp tất cả những quy định do Chính phủ Liên bang và các cơ quan thuộc bộ máy hành pháp Liên bang ban hành.
Nghiên cứu mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ, có thể thấy một số điểm đặc thù sau:

2.1 Cơ sở pháp lý, chủ thể và phạm vi pháp điển hóa

Cơ sở pháp lý pháp điển hóa
Cơ sở pháp lý pháp điển hóa của Hoa Kỳ được quy định trong Luật sửa đổi Luật Đăng ký liên bang được phê duyệt ngày 19/6/1937. Theo quy định tại Luật này thì “…vào ngày 01/7/1938, và vào cùng ngày này sau mỗi giai đoạn 5 năm, mỗi cơ quan Chính phủ sẽ gửi tới Văn phòng Hành chính một bộ văn bản đã được pháp điển hoàn chỉnh của tất cả các văn bản do cơ quan đó ban hành, có giá trị áp dụng chung, giá trị pháp lý và có hiệu lực vào thời điểm ngày 01/6/1938. Trong vòng 90 ngày, Ủy ban sẽ báo cáo về vấn đề này lên Tổng thống và Tổng thống có thể ủy quyền hoặc chỉ đạo việc xuất bản bộ pháp điển đó trong các số đặc biệt hoặc phụ lục của tờ Công báo”[7]. Cũng theo quy định của Luật này, Ủy ban Pháp điển sẽ được thành lập để giám sát và phối hợp xử lý các vấn đề liên quan đến hình thức, thể loại, cách sắp xếp và việc chú dẫn cho các bản pháp điển hóa của các cơ quan tiến hành pháp điển.
Chủ thể pháp điển hóa
Hoa Kỳ thừa nhận sự tồn tại của hai loại chủ thể, đó là chủ thể tiến hành với tư cách là các cơ quan nhà nước và chủ thể tham gia pháp điển hóa trong một số trường hợp.
Cơ quan thực hiện pháp điển chính là Ủy ban Pháp điển. Tuy nhiên, do Hoa Kỳ tiến hành pháp điển ở những cấp độ với các sản phẩm khác nhau nên mỗi cấp độ sản phẩm sẽ có những cơ quan phụ trách chính.
Chẳng hạn như đối với Bộ USC (Bộ pháp điển pháp luật liên bang), trách nhiệm chính thực hiện pháp điển thuộc Hội đồng Rà soát luật của Hạ viện; Đối với Bộ CFR (Bộ pháp điển hành pháp liên bang) thì trách nhiệm thực hiện pháp điển thuộc về các bộ, ngành (mỗi bộ, ngành đều có cán bộ đầu mối liên lạc với Cơ quan Đăng ký/Công báo Liên bang, cán bộ này có trách nhiệm thường xuyên liên lạc với Cơ quan Đăng ký/Công báo Liên bang về việc thực hiện pháp điển các quy phạm pháp luật của bộ, ngành mình).
Phạm vi pháp điển hóa
Tại Hoa Kỳ, cho đến thời điểm hiện nay, về cơ bản mới tiến hành pháp điển hóa ở cấp liên bang. Pháp điển hóa đối với các văn bản do Nghị viện liên bang ban hành và pháp điển hóa đối với các văn bản do Chính phủ liên bang ban hành. Ở cấp bang, công tác pháp điển hóa chưa được coi trọng.

2.2 Quy trình, cấu trúc, kết quả và giá trị pháp lý, việc cập nhật và duy trì sản phẩm pháp điển hóa

Một điểm đáng lưu ý là mặc dù hai bộ pháp điển chính thức cùng bắt đầu hình thành và duy trì, nhưng nguyên tắc cũng như quy trình xây dựng, bổ sung, quản lý và cập nhật của hai bộ pháp điển này có nhiều điểm khác biệt cơ bản. Đây chính là nét rất đặc thù trong mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ so với các quốc gia khác.
Một là: Bộ pháp điển pháp luật liên bang (USC)
Thực hiện chức năng lập pháp, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành một khối lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL). Từ rất sớm, người dân Hoa Kỳ đã nhận ra rằng nếu không tập hợp các văn bản QPPL lại theo một trật tự nào đó thì việc tìm kiếm các văn bản QPPL sẽ trở nên rất khó khăn. Vì vậy, vào cuối mỗi kỳ họp Quốc hội Hoa Kỳ, tất cả các luật đơn hành (slip law) sẽ được xuất bản, đánh số thứ tự và đưa vào Bộ Tổng tập các đạo luật của Hoa Kỳ. Tất cả các luật được ban hành từ năm 1789 đều nằm trong Bộ Tổng tập này.
Tuy nhiên, do số lượng văn bản được Quốc hội Hoa Kỳ ban hành hàng năm rất lớn, trong khi các đạo luật trong Bộ Tổng tập được sắp xếp theo thứ tự thời gian chứ không phải theo các chủ đề nên việc tìm kiếm văn bản không phải là điều dễ dàng. Theo một số liệu thống kê, riêng trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa 104 (từ 1995 – 1997) và 105 (từ 1997 – 1999), số lượng trung bình các đạo luật được Quốc hội Hoa Kỳ ban hành hàng năm là 182 đạo luật[8].
Xuất phát từ thực tế trên, để tạo thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận các quy định của pháp luật, Quốc hội Hoa Kỳ đã tiến hành pháp điển hóa các văn bản của mình. Quy trình này thực chất là việc sắp xếp các quy phạm đang có hiệu lực theo ba tiêu chí: 1) Tập hợp các luật gốc với các quy định sửa đổi, bổ sung được thông qua, trên cơ sở xem xét loại bỏ hoặc thêm vào các từ ngữ được thay đổi từ sự sửa đổi, bổ sung đó; 2) Xếp lại với nhau tất cả các luật về cùng một chủ đề; 3) Loại bỏ các quy định đã hết hiệu lực, bị bãi bỏ, thay thế[9].
Bộ pháp điển đầu tiên chính thức được Quốc hội ban hành là Bộ Pháp điển các đạo luật được sửa đổi của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Revised Statutes of the United States) thông qua năm 1873. Bộ pháp điển này gồm toàn bộ các QPPL đang có hiệu lực được sắp xếp lại theo chủ đề và được ban hành để thay thế toàn bộ các văn bản đang có hiệu lực lúc đó. Tuy nhiên, sau khi được ban hành, Bộ pháp điển nêu trên bị phát hiện ra có quá nhiều lỗi kỹ thuật. Vì vậy, nó đã không được cập nhật thường xuyên mà tiếp tục được đưa vào Bộ Tổng tập các đạo luật của Hoa Kỳ như các văn bản đơn hành khác. Như vậy, tình trạng khó tìm kiếm văn bản do Quốc hội ban hành lại tiếp diễn.
Năm 1919, việc pháp điển hóa được khởi động lại bằng việc Ủy ban sửa đổi luật của Hạ nghị viện đã chỉ định một số chuyên gia tiến hành tập hợp các quy phạm và tiến hành pháp điển hóa. Năm 1920, Bộ pháp điển này được Hạ nghị viện nhất trí thông qua, nhưng bị Thượng nghị viện bác bỏ. Một năm sau đó, Bộ pháp điển sau khi được chỉnh sửa các lỗi kỹ thuật một lần nữa được Hạ viện thông qua, nhưng Thượng viện bác bỏ. Năm 1924, sau khi chỉnh lý và bổ sung thêm các QPPL được thông qua từ năm 1921, Bộ pháp điển lại được trình ra Nghị viện. Bộ pháp điển này bao gồm tất cả các QPPL đang có hiệu lực và được phân thành 50 chủ đề, bao gồm các lĩnh vực được các đạo luật điều chỉnh[10]. Tuy nhiên, Ủy ban sửa đổi pháp luật của Thượng viện đã đề nghị không đưa Bộ luật này ra xem xét “mặc dù đã được thực hiện một cách rất cẩn thận và không có sự nghi ngờ nào về năng lực của các nhà pháp điển hóa, nhưng Ủy ban của Thượng viện cũng đã phát hiện ra 600 lỗi kỹ thuật trong Bộ pháp điển”[11]. Giải pháp được Ủy ban sửa đổi pháp luật của hai Viện đưa ra là kiểm soát chặt chẽ nội dung Bộ pháp điển bằng cách mời hai nhà xuất bản tư nhân là “West” và “Edward Thomson”, vốn nổi tiếng với việc phát hành các bộ pháp điển không chính thức, tham gia chỉnh lý bộ pháp điển. Sau khi chỉnh lý xong, nội dung của Bộ pháp điển sẽ được các chuyên gia từ các cơ quan nhà nước và các giáo sư đại học kiểm tra.
Như vậy, mục tiêu ban đầu của các nhà làm luật Hoa Kỳ là rà soát, đơn giản hóa, sắp xếp và hợp nhất tất cả các đạo luật của Hoa Kỳ; hợp nhất theo chủ đề và tiến hành sửa đổi khi cần thiết để loại bỏ các mâu thuẫn và những điểm không hoàn thiện của văn bản ban đầu. Có thể thấy, trải qua ba lần tập hợp, rà soát và hệ thống hóa pháp luật từ năm 1866 đến năm 1924, các nhà làm luật của Hoa Kỳ nhận thấy sự hỗn độn của hệ thống pháp luật không thể khắc phục được, vì khoảng cách giữa các lần tổng rà soát này là quá xa. Do vậy, một nỗ lực nhằm xây dựng các Bộ pháp điển và duy trì kết quả này một cách thường xuyên được tiến hành và kết quả là, đến năm 1926, Bộ pháp điển pháp luật bản đầu tiên của Hoa Kỳ (USC) đã được công bố. Đây là tập hợp chính thức các luật do Quốc hội Liên bang ban hành và đang có hiệu lực, được sắp xếp theo chủ đề.
Bộ pháp điển USC được ban hành năm 1926 và tiếp tục được duy trì cập nhật cho đến ngày nay được chia thành 50 “title” (tạm gọi là quyển) gồm 50 chủ đề khác nhau, được xác định một cách logic theo lĩnh vực lập pháp như: Nghị viện, Tổng thống, nông nghiệp, thuế quan, hải quan, giao thông,… Mỗi “title” thường được xuất bản thành một cuốn hay tập (phụ thuộc vào độ dày của mỗi quyển). Tương tự, không có cỡ riêng hoặc độ dài cho các phần phân chia; có mục có thể in vài trang giấy, có mục chỉ có một hoặc hai câu. Khi các mục bị bãi bỏ, phần nội dung văn bản của nó bị xóa hoặc thay thế bằng phần ghi tóm tắt những gì đã từng có ở phần đó.
Trong quá trình chuẩn hóa và cập nhật Bộ pháp điển USC, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua dần các đề mục tương đối ổn định của Bộ pháp điển. Lần đầu tiên là vào năm 1947 với các đề mục: 1) Các quy định chung; 4) Quốc kỳ và Quốc huy; 9) Trọng tài và 17) Bản quyền. Cho đến thời điểm năm 2006, đã có 24 đề mục của Bộ pháp điển USC được thông qua một cách chính thức và trở thành các đạo luật của Hoa Kỳ, còn lại 31 đề mục khác đang tiếp tục được xây dựng[12]. Có thể thấy, những đề mục được Nghị viện thông qua có giá trị áp dụng trên thực tế, được xem như một luật và chỉ có thể bị thay đổi bằng một đạo luật khác do chính Nghị viện ban hành. Trong khi những đề mục chưa được thông qua chỉ có giá trị chứng cứ ban đầu của luật, nghĩa là nếu có sự mâu thuẫn giữa quy định của Bộ pháp điển USC với các quy định của đạo luật gốc trong Bộ Tổng tập luật Hoa Kỳ thì các quy định trong Bộ Tổng tập luật được áp dụng.
Công việc biên soạn và duy trì Bộ pháp điển USC được giao cho một cơ quan thuộc bộ máy của Hạ viện Hoa Kỳ là Văn phòng Cố vấn sửa đổi pháp luật thực hiện. Văn phòng này được thành lập năm 1975, hiện tại có gần 20 luật sư và nhân viên được Nhà nước trả lương[13], thực hiện hai nhiệm vụ chính là chuẩn bị, công bố Bộ pháp điển USC và soạn thảo các văn bản pháp luật, trình Nghị viện thông qua các đề mục của Bộ pháp điển USC thành luật thực định. Đây là cơ quan duy nhất chính thức thực hiện rà soát, sửa đổi và hệ thống hóa pháp luật thông qua hoạt động pháp điển hóa.
Thực tế do tồn tại song song các đề mục đã được thông qua và chưa được thông qua nên việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các quy phạm pháp luật của Nghị viện Hoa Kỳ cũng có những thay đổi tương ứng. Theo đó, khi Nghị viện Hoa Kỳ tiến hành sửa đổi một QPPL nào đó không thuộc đề mục được thông qua thành luật thực định thì quy định sửa đổi đó phải được viện dẫn đến đạo luật gốc. Ngược lại, nếu quy định đó thuộc đề mục đã được thông qua thì việc sửa đổi phải được viện dẫn đến Bộ pháp điển USC. Trường hợp, Nghị viện ban hành một quy định mới thì cơ quan chịu trách nhiệm pháp điển xem xét, đưa quy định đó vào một đề mục phù hợp. Tuy nhiên, chỉ có các luật có giá trị lâu dài, có tính áp dụng chung thì mới được đưa vào Bộ pháp điển USC; các quy định tạm thời hoặc những văn bản cá biệt thì không được pháp điển.
Từ năm 1934, sáu năm một lần có một bản in chính thức Bộ pháp điển USC được xuất bản và trong thời gian đó cứ mỗi năm, lại có một bản tổng hợp các nội dung để cập nhật vào Bộ pháp điển USC. Bộ pháp điển cũng được duy trì dưới dạng dữ liệu điện tử được xây dựng từ năm 1976, được đăng tải trên trang web của Văn phòng Cố vấn sửa đổi pháp luật, được sử dụng phục vụ nhu cầu của người dân.
Hai là: Bộ pháp điển pháp quy Liên bang (CFR)
Vào cuối thập niên 30 của thế kỷ XX, để giải quyết tình trạng ban hành văn bản QPPL quá nhiều và không xác định được hiệu lực của các văn bản đó, Bộ pháp điển pháp quy Liên bang – CFR đã được xây dựng.
Cụ thể, vào năm 1935, Nghị viện Hoa Kỳ ban hành Luật Công báo Liên bang, theo đó các cơ quan chính quyền Liên bang phải công bố các văn bản pháp luật trên “Công báo Liên bang” trước khi các văn bản đó có hiệu lực và được đưa vào thi hành; trình lên Công báo Liên bang một “tập hợp” các văn bản pháp luật đang có giá trị áp dụng. Tuy nhiên, do khối lượng văn bản quá lớn nên việc tập hợp này bị thất bại. Khắc phục tình trạng này, tháng 6/1937, Nghị viện Hoa Kỳ đã sửa đổi Luật Công báo Liên bang, chấm dứt việc tập hợp đơn thuần theo cách thức trên và chuyển sang hình thức pháp điển hóa theo đề mục. Đến năm 1939, Bộ pháp điển CFR được hoàn thành và công bố gồm 15 tập, bố cục theo 50 đề mục chính[14].
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn (khoảng hơn một năm), hoạt động pháp điển hóa các quy phạm do các cơ quan hành pháp Liên bang đã hoàn thành, Bộ pháp điển CFR đầu tiên được ban hành và bao gồm toàn bộ các quy định do các cơ quan hành chính Liên bang ban hành đang có hiệu lực.
Thành công lớn nhất mà Bộ pháp điển CFR mang lại là việc người dân không còn phải tìm kiếm văn bản khắp mọi nơi mà chỉ cần đọc Bộ pháp điển CFR để tìm mọi quy định pháp luật Liên bang hiện hành. Sau ngày Bộ pháp điển CFR có hiệu lực, mọi quy định mới do một cơ quan Chính phủ ban hành đều phải được thực hiện dưới hình thức sửa đổi Bộ pháp điển pháp quy liên bang CFR bằng cách chỉ rõ các điểm sửa đổi, bãi bỏ hoặc bổ sung các quy định của Bộ pháp điển CFR. Chính việc này bảo đảm cho Bộ pháp điển CFR luôn luôn chỉ chứa đựng các quy định hiện hành có giá trị áp dụng của các cơ quan chính phủ.
Bộ pháp điển CFR đầu tiên được công bố năm 1939 gồm 15 tập, chia thành 50 đề mục chính. Tên các đề mục của Bộ pháp điển CFR hoàn toàn không phụ thuộc vào tên các đề mục trong Bộ pháp điển USC. Ngày nay, Bộ pháp điển CFR vẫn duy trì số lượng 50 đề mục như ban đầu, mặc dù một số đề mục đã được sửa đổi để phù hợp với hoàn cảnh mới và số lượng tập đã tăng từ 15 tập lên trên 200 tập[15]. Mỗi đề mục của Bộ pháp điển CFR lại được chia thành các chương, mục, điều, khoản… cụ thể. Việc bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung hay ban hành mới các QPPL trong từng cấu trúc nhỏ hơn của Bộ pháp điển CFR thuộc thẩm quyền của từng cơ quan tương ứng thuộc bộ máy của Chính phủ Liên bang. Cơ quan Công báo Liên bang là đầu mối quản lý, cập nhật, bảo đảm tính chính xác, thống nhất của các quy định được thể hiện trong Bộ pháp điển CFR.
Công việc duy trì Bộ pháp điển CFR được giao cho Cơ quan Công báo Liên bang trực thuộc Cục Lưu trữ Liên bang thực hiện. Quy trình cập nhật, duy trì Bộ pháp điển CFR được thực hiện như sau: 1) Sau khi cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản, văn bản đó được chuyển đến Cơ quan Công báo Liên bang để đăng tải trên bản in của Công báo hàng ngày; thông thường, ba mươi ngày sau khi được đăng tải trên Công báo, văn bản sẽ có hiệu lực thi hành; 2) Hai ngày sau khi có hiệu lực, nội dung của văn bản sẽ được đưa vào Bộ pháp điển CFR điện tử theo đúng vị trí đã được xác định[16].
Bản điện tử của Bộ pháp điển CFR được đăng tải tại trang web http://www.gpoaccess.gov/cfr/ với chức năng tìm kiếm nhanh, giúp người sử dụng có thể dễ dàng tra cứu. Trong trường hợp cần viện dẫn một cách chính thức, bản in của Bộ pháp điển CFR và bản Công báo hàng ngày sẽ được sử dụng. Bản in của Bộ pháp điển CFR được cập nhật và in lại mỗi năm một lần theo cách cuốn chiếu, cụ thể là từ đề mục 17 đến 27 được in lại vào ngày 01/4, từ đề mục 28 đến 41 được in lại vào ngày 01/7 và từ đề mục 28 đến 41 được in lại vào ngày 01/10 hàng năm. Nếu trong một năm mà một đề mục nào đó không có quy định mới thì Cơ quan đăng ký Liên bang chỉ in lại bìa để người dân có thể biết về việc không có sự thay đổi về nội dung[17].
Ba là: Một số sản phẩm mang tính pháp điển khác
Ngoài hai Bộ pháp điển nổi tiếng nêu trên, khi nói đến pháp luật của Hoa Kỳ, nhiều người còn nhắc đến Bộ luật Thương mại mẫu (Uniform Commerical Code – UCC). Trên thực tế, UCC không phải là một văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành và do đó không có hiệu lực cưỡng chế thi hành. Tuy nhiên, do Hoa Kỳ là một Nhà nước Liên bang, mỗi bang đều có quyền ban hành pháp luật. Hơn nữa, căn cứ tại mục (3) khoản 8 Điều 1 của Hiến pháp Hoa Kỳ thì cơ quan lập pháp Liên bang chỉ ban hành các văn bản điều chỉnh quan hệ thương mại của Hoa Kỳ với nước ngoài, quan hệ thương mại giữa các bang và với các bộ tộc người da đỏ; các văn bản điều chỉnh mọi lĩnh vực còn lại thuộc thẩm quyền ban hành của cơ quan lập pháp bang. Trong rất nhiều trường hợp, pháp luật của các bang quy định về từng lĩnh vực cụ thể lại không giống nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng thống nhất. Do vậy, kể từ những năm đầu của thế kỷ XX, ở Hoa Kỳ xuất hiện trào lưu ban hành các văn bản mẫu để các bang dựa vào đó mà ban hành các đạo luật tương ứng. Mục đích là nhằm tạo ra pháp luật thống nhất trên toàn Liên bang. Hầu như tất cả các đạo luật mẫu của Liên bang đều là các văn bản trong lĩnh vực thương mại. Trong xu thế đó, năm 1942, Viện Luật Hoa Kỳ (the American Law Institute) và Hội đồng Quốc gia các ủy viên vì pháp luật bang thống nhất (National Conference of Commissioners on Uniform State Laws) đã cùng khởi thảo Bộ luật Thương mại mẫu – UCC. Phiên bản đầu tiên được giới thiệu vào năm 1952 và sau đó liên tục được cập nhật, bổ sung và duy trì đến ngày nay.
Ngoài ra, tại Hoa Kỳ còn tồn tại những bộ tổng tập pháp luật khác do các Nhà xuất bản tư nhân ấn hành như “LexisNexis”, “WestLaw”, Bộ Tổng tập luật Hoa Kỳ có chủ giải (US Code Annotated) do Trung ương Hội Luật gia Hoa Kỳ ban hành. Hiện nay, cơ sở dữ liệu điện tử các văn bản pháp luật của Hoa Kỳ (bao gồm cả pháp luật của Liên bang và pháp luật của bang) đã được đưa lên mạng Internet để truy cập tự do.

3. Những kinh nghiệm Việt Nam có thể tiếp thu

Thứ nhất, nghiên cứu mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ cho thấy, mục tiêu cuối cùng của pháp điển hóa là tạo thuận tiện, dễ dàng cho việc tìm kiếm, tra cứu pháp luật của người dân. Việc loại bỏ các quy định mâu thuẫn, trái ngược cũng là một mục tiêu của công tác pháp điển hóa nhưng không phải là mục tiêu quan trọng nhất.
Thứ hai, kinh nghiệm của mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ cho thấy, để pháp điển hóa tiến hành thành công cần thiết phải có một thiết chế riêng chịu trách nhiệm về công tác này. Trên thực tế, việc pháp điển hóa trong lĩnh vực nào, phạm vi ngành gì thì có thể giao cho ngành đó tiến hành vì không ai hiểu thực trạng pháp luật của một ngành bằng chính các chuyên gia pháp luật của ngành đó. Tuy nhiên, để đảm bảo tính thống nhất và khoa học trong công tác pháp điển hóa, Việt Nam cần phải nghiên cứu để giao cho một cơ quan có vai trò là đầu mối nghiên cứu xây dựng các quy định và hướng dẫn kỹ thuật pháp điển hóa cho các bộ, ngành, địa phương.
Thứ ba, cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, đầy đủ về pháp điển hóa để hiểu được và hiểu đúng các vấn đề về nội dung, hình thức, phương pháp cũng như vị trí, vai trò của pháp điển hóa trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Việc hiểu đúng, hiểu đủ sẽ tránh được sự đơn giản, hời hợt thậm chí thương mại hóa trong công tác pháp điển hóa. Thực tế, nhiều cơ quan nhà nước dưới hình thức hệ thống hóa nhưng chỉ dừng ở việc sưu tập văn bản, sắp xếp qua loa rồi đem xuất bản và bán ra thị trường mà không chú ý đến tính khoa học và giá trị thực tế của chúng[18].
Do vậy, việc pháp điển hóa cần phải được thực hiện theo từng cấp độ với đúng nghĩa của nó. Theo đó, đối với hình thức pháp điển hóa ở cấp độ thấp, nên nhấn mạnh phương pháp hệ thống hóa theo từng vấn đề, từng chế định pháp luật, vì chỉ có như vậy mới có tác dụng thiết thực nhất đối với người sử dụng.
Cuối cùng, việc áp dụng kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin là hoạt động mang lại hiệu quả cao trong công tác pháp điển hóa. Bên cạnh đó, có thể đa dạng hóa các chủ thể tham gia vào quá trình pháp điển. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ cho thấy, việc các nhà xuất bản tư nhân tham gia vào quá trình pháp điển hóa cũng mang lại hiệu quả cao (mặc dù pháp điển hóa do các nhà xuất bản tư nhân tiến hành chỉ đơn giản là hệ thống hóa); hoặc sự tham gia của các giáo sư, luật sư, nhà nghiên cứu vào quá trình hình thành Bộ pháp điển USC tại Hoa Kỳ cũng góp phần nâng cao hiệu quả của công tác pháp điển hóa. Hơn nữa, việc áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình pháp điển hóa là rất tốt, đặc biệt trong việc cập nhật và duy trì Bộ pháp điển trong một thời gian dài như tại Hoa Kỳ hiện nay./.
 
[1] Xem Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội – Đà Nẵng, 1996, tr. 741.
[2] Xem: Lê Minh Tâm (2006), Mấy vấn đề lý luận về pháp điển hóa, Tạp chí Luật học số 7/2006, tr.49
[3] Xem: Lê Minh Tâm (2006), tlđd, tr.49
[4] Trong tiếng Việt, chữ “hoá” có nhiều nghĩa và được sử dụng tuỳ hoàn cảnh, trong đó đáng lưu ý: 1) Hoá là thay đổi thành cái khác do kết quả của một quá trình phát triển; 2) Hoá là yếu tố ghép sau để cấu tạo động từ, có nghĩa là “trở thành hoặc làm cho trở thành, trở nên hoặc làm cho trở nên có một tính chất nào đó” (Xem Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội – Đà Nẵng 1996, tr. 431).
[5] Xem: Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb. Từ điển Bách khoa, Tập 2, Hà Nội, 2002, tr. 932.[6] Xem: Đào Trí Úc (chủ biên), Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2007, tr. 16.
[7] Xem Trần Văn Lợi, Một số kinh nghiệm pháp điển của Hoa Kỳ, trên http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=1476.
[8] Xem Roger H. Davison và Walter J. Oleszek, Quốc hội và các thành viên (bản dịch của Trần Xuân Danh, Trần Hương Giang, Minh Long), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 367
[9] Xem Đặng Văn Chiến (chủ biên), Pháp điển hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 242
[10] Xem Đặng Văn Chiến, tlđd, tr. 243
[11] Xem Mary Whisner, The United States Code, Prima Facie Evidence, and Positive Law, Law Library Journal, Vol.1014, 2009.
[12] Xem Đặng Văn Chiến Tlđd, tr. 251
[13] Xem: Đặng Văn Chiến, Tlđd, tr. 253.
[14] Xem: Đặng Văn Chiến, Tlđd, tr. 257.
[15] Xem: Đặng Văn Chiến , Tlđd,  , tr. 257.
[16] Xem. Nguyễn Thị Hạnh, Lịch sử và quy trình pháp điển hóa ở Hoa Kỳ, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 91 năm 2007.
[17] Xem Đặng Văn Chiến, Tlđd, tr. 261.
[18] Xem Lê Hồng Sơn và Hoàng Văn Ánh, Pháp điển hóa – một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, bài viết Hội thảo Kinh nghiệm pháp điển hóa, Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2011, tr. 10.
 

TS. Phí Thị Thanh Tuyền – Trường Đại học Luật Hà Nội.

 

Nguồn: Chuyên trang Học Luật trực tuyến (hocluat.vn)

Hiểu thế nào cho đúng về khoán tiền tự túc phương tiện đi công tác?

Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính quy định về chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị đã quy định về vấn đề này, nhưng thực tế vẫn có những quan điểm khác nhau.

Chế độ công tác phí là một quy định nhằm đảm bảo quyền lợi của cán bộ, công chức về công tác phí khi thực thi nhiệm vụ. Quy định về công tác phí trước đây được thông tư số Thông tư số 97/2010/TT-BTC ngày 06/7/2010 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập và hiện tại  được quy định tại Thông tư số  40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính quy định về chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị. Việc hiểu và vận dụng đúng những quy định này có tác động trực tiếp đến đối tượng được thụ hưởng là cán bộ, công chức vì vậy cần phải được hiểu chính xác và thực hiện theo đúng quy định:
Theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 5 chương II thông tư số 40 quy định đối với trường hợp khoán tiền tự túc phương tiện như sau:
 

2. Thanh toán khoán kinh phí sử dụng ô tô khi đi công tác, khoán tiền tự túc phương tiện đi công tác:
b) Đối với cán bộ, công chức, viên chức không có tiêu chuẩn được bố trí xe ô tô khi đi công tác, nhưng nếu đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 10 km trở lên (đối với các xã thuộc địa bàn kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) và từ 15 km trở lên (đối với các xã còn lại) mà tự túc bằng phương tiện cá nhân của mình thì được thanh toán khoán tiền tự túc phương tiện bằng 0,2 lít xăng/km tính theo khoảng cách địa giới hành chính và giá xăng tại thời điểm đi công tác và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

 
Đối với quy định này có hai nhóm quan điểm như sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất: Cho rằng khi đi công tác ở các xã không thuộc địa bàn kinh tế khó khăn bằng phương tiện cá nhân của mình từ 15 km trở lên thì được thanh toán khoán tiền tự túc phương tiện bằng 0,2 lít xăng/km và giá xăng tại thời điểm đi công tác và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị mà mức chi được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ phải đúng như quy định của Thông tư, không được thấp hơn hoặc cao hơn với lý do Thông tư đã quy định cụ thể.
Đối với nhóm ý kiến thứ hai: Cho rằng khi đi công tác ở các xã không thuộc địa bàn kinh tế khó khăn bằng phương tiện cá nhân của mình từ 15 km trở lên thì được thanh toán khoán tiền tự túc phương tiện. Tuy nhiên mức khoán bao nhiêu là do quy chế chi tiêu nội bộ quyết định. Giả sử đi công tác 40 km, theo quy định của Thông tư 40 thì định mức chi là 0,2 lít x 40 km là 8 lít xăng. Tuy nhiên quy chế chi tiêu nội bộ có thể quy định chi thấp hơn có thể là 2 lít xăng…, với lý do là quy chế chi tiêu nội bộ sẽ quyết định mức chi công tác phí.
Theo quan điểm của tác giả thống nhất với cách hiểu theo nhóm ý kiến thứ nhất vì theo theo Thông tư số 40 đã quy định rõ thì phải thực hiện đúng và hơn nữa tại quyết định số 105/QĐ-VKSTC ngày 8/8/2017 của VKSND Tối cao quy định về việc ban hành mức chi công tác phí, chi hội nghị áp dụng trong ngành Kiểm sát nhân dân tại điểm b Điều 2 Mục I quy định như sau: “Đối với cán bộ, công chức, viên chức không có tiêu chuẩn được bố trí xe ô tô khi đi công tác, nhưng nếu đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 10 km trở lên (đối với các xã thuộc địa bàn kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo các quyết định của Thử tướng Chính phủ) và từ 15 km trở lên (đối với các xã còn lại) mà tự túc bằng phương tiện cá nhân của mình thì được thanh toán tiền tự túc phương tiền bằng 0,2 lít xăng/km tính theo khoảng cách địa giới hành chính và giá xăng tại thời điểm đi công tác và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị”.
Trước đây vấn đề này được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 phần I Thông tư số  97/2010/TT-BTC ngày 06 tháng 7 năm 2010 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập quy định như sau: “b) Đối với các đối tượng cán bộ, công chức không có tiêu chuẩn được bố trí xe ô tô khi đi công tác, nhưng nếu cán bộ đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 10 km trở lên (đối với khu vực vùng cao, hải đảo; miền núi khó khăn, vùng sâu) và từ 15 km trở lên (đối với vùng còn lại) mà tự túc bằng phương tiện cá nhân của mình thì được thanh toán khoán tiền tự túc phương tiện theo số km thực đi nhân với đơn giá khoán (bao gồm tiền nhiên liệu và khấu hao xe)”. Do quy định chưa rõ là chi bao nhiên nên quy chế chi tiêu nội bộ mới quy định định mức chi. Nhưng Thông tư số 40 đã bổ sung thêm định mức chi nên cần căn cứ quy định tại Thông tư số 40 mà thực hiện, quy chế chi tiêu nội bộ không được quy định khác.

09 nguyên tắc xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa DNNN

Các tổ chức, cá nhân có liên quan khi thực hiện xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp không chấp hành đúng chế độ quy định, gây ra tổn thất hoặc thất thoát tài sản nhà nước thì tổ chức, cá nhân đó chịu trách nhiệm hành chính, bồi thường vật chất hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/5/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 41/2018/TT-BTC hướng dẫn một số nội dung về xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần (sau đây gọi tắt là Nghị định số 126/2017/NĐ-CP).
Cụ thể, về nguyên tắc xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hóa, được thực hiện như sau:
– Căn cứ danh mục doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, doanh nghiệp phải chủ động thực hiện xử lý các vấn đề về tài chính theo quy định hiện hành; đồng thời xây dựng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai, pháp luật về sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước trước thời điểm quyết định cổ phần hoá.
– Khi nhận được quyết định cổ phần hóa của cơ quan có thẩm quyền, doanh nghiệp phải thực hiện tổ chức kiểm kê, phân loại tài sản, nguồn vốn và xử lý các vấn đề về tài chính tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 126/2017/NĐ-CP và các nội dung hướng dẫn tại Mục I, Mục II Chương 2 Thông tư này làm cơ sở để lập báo cáo tài chính tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp và tại thời điểm doanh nghiệp cổ phần hoá chuyển sang công ty cổ phần.
– Trường hợp sau khi đã được xử lý tài chính và xác định lại giá trị doanh nghiệp theo quy định mà giá trị thực tế doanh nghiệp thấp hơn các khoản phải trả thì xử lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 126/2017/NĐ-CP.
– Quá trình xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa phải đảm bảo chặt chẽ, công khai, minh bạch, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước. Các tổ chức, cá nhân có liên quan khi thực hiện xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp không chấp hành đúng chế độ quy định, gây ra tổn thất hoặc thất thoát tài sản nhà nước thì tổ chức, cá nhân đó chịu trách nhiệm hành chính, bồi thường vật chất hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
– Trường hợp phát hiện kê khai thiếu hoặc bỏ sót các tài sản, công nợ trong quá trình kiểm kê tài sản, đối chiếu xác nhận công nợ dẫn đến giảm giá trị doanh nghiệp và vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hóa do nguyên nhân chủ quan thì doanh nghiệp cổ phần hoá và các tổ chức, cá nhân liên quan phải chịu trách nhiệm bồi hoàn nộp vào Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp toàn bộ giá trị tài sản, công nợ kê khai thiếu hoặc bỏ sót; trường hợp cố tình kê khai thiếu hoặc cố tình bỏ sót thì sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Riêng các khoản phải nộp ngân sách nhà nước bị bỏ sót thì phải thực hiện kê khai và nộp vào ngân sách nhà nước theo đúng quy định của pháp luật.
– Cơ quan đại diện chủ sở hữu chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề về tài chính trong quá trình cổ phần hóa theo quy định tại Nghị định số 126/2017/NĐ-CP và những vấn đề về tài chính phát sinh (nếu có) có liên quan đến quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp cổ phần hóa chính thức chuyển thành công ty cổ phần.
– Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp và thời điểm doanh nghiệp cổ phần hóa chính thức chuyển thành công ty cổ phần (bao gồm: khoản mục tiền và tương đương tiền, nợ phải thu, nợ phải trả, đặt cọc, ký cược, ký quỹ) được xác định lại theo tỷ giá quy định của chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành.
– Tại thời điểm doanh nghiệp cổ phần hóa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cổ phần lần đầu, doanh nghiệp lập báo cáo tài chính và xử lý các vấn đề về tài chính theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 126/2017/NĐ-CP.
Trường hợp doanh nghiệp đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh giảm vốn nhà nước tại thời điểm doanh nghiệp cổ phần hóa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tương ứng với số lỗ phát sinh theo quy định tại Khoản 7 Điều 21 Nghị định số 126/2017/NĐ-CP thì công ty cổ phần không được chuyển số lỗ này khi xác định thu nhập chịu thuế của các năm sau theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
– Tổ chức tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp phải thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản quy định tại Mục 2 Chương III Nghị định số 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017 của Chính phủ và hướng dẫn cụ thể tại Thông tư này; đồng thời được lựa chọn thêm các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp thích hợp theo quy định của pháp luật giá và thẩm định giá để xác định giá trị doanh nghiệp, đảm bảo mỗi doanh nghiệp cổ phần hóa phải được áp dụng tối thiểu 02 phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp khác nhau trình cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định.
Công bố thông tin
Doanh nghiệp cổ phần hoá phải thực hiện công bố công khai thông tin về quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 126/2017/NĐ-CP và các nội dung hướng dẫn cụ thể sau: Chậm nhất 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được các quyết định, văn bản của cấp có thẩm quyền về xử lý các vấn đề về tài chính, lao động, đất đai liên quan đến quá trình cổ phần hoá và các nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 126/2017/NĐ-CP, doanh nghiệp cổ phần hoá phải thực hiện công bố công khai thông tin trên trang điện tử của doanh nghiệp và gửi về Cổng thông tin điện tử Chính phủ; đồng thời có văn bản gửi Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp.
Định kỳ trước ngày 05 hàng tháng, doanh nghiệp cổ phần hoá có trách nhiệm báo cáo về tình hình, tiến độ triển khai công tác cổ phần hoá theo kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đăng tải công khai thông tin trên trang điện tử của doanh nghiệp cổ phần hoá; đồng thời gửi cơ quan đại diện chủ sở hữu, Bộ Tài chính và Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp.
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 18/6/2018. Các nội dung quy định tại Thông tư này được áp dụng kể từ ngày 01/01/2018.
Thông tư này thay thế Thông tư số 127/2014/TT-BTC ngày 5/9/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
 

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (kiemsat.vn)

Kinh nghiệm trong tổ chức chính quyền tại đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt của một số quốc gia

Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội quyết định thành lập, được áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt về kinh tế – xã hội, có chính quyền địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đó”[1].

Để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, cần nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể hiện nay của Việt Nam.

1. Một số vấn đề lý luận về tổ chức chính quyền tại đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt

1.1 Khái niệm đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt

Điều 110 Hiến pháp năm 2013 đã mô phỏng một cách khái quát nhất các dạng thức của thiết chế hành chính này. Loại thiết chế này tồn tại dưới nhiều tên gọi như: Khu kinh tế tự do, đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở, khu kinh tế cửa khẩu, khu thương mại tự do, khu kinh tế hay đặc khu hành chính, khu đặc biệt,…([2]) Dù tên gọi là gì thì thiết chế hành chính này cũng có một đặc điểm chung là do Quốc hội thành lập. Đến Luật tổ chức chính quyền địa phương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đã được mô tả một cách cụ thể hơn, theo đó: Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội quyết định thành lập, được áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt về kinh tế – xã hội, có chính quyền địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đó. Như vậy, hiểu một cách khái quan, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt là một đơn vị hành chính được Nhà nước trao những cơ chế, chính sách đặc biệt, có tính ưu đãi về kinh tế, xã hội và quản lý nhà nước, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững ở mỗi địa phương cũng như của cả nước.
Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt sẽ có những đặc trưng chủ yếu sau:
Thứ nhất, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có đặc điểm chung của một đơn vị hành chính nhà nước, tức là sẽ có ranh giới địa lý xác định, có quy mô lãnh thổ và dân cư nhất định, có bộ máy chính quyền để thực hiện chức năng quản lý nhà nước và cung ứng các dịch vụ công trên địa bàn.
Thứ hai, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có vị trí địa lý thuận lợi và nhiều ưu đãi để phát triển kinh tế hoặc cóvị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội như: những địa bàn có vị trí địa lý thuận lợi để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xuất khẩu, gần các đầu mối giao thương quốc tế (cửa khẩu, bến cảng, sân bay quốc tế) hoặc các trung tâm kinh tế, tài chính lớn hoặc các vị trí đắc địa của quốc gia (khu vực biên giới, hải đảo…),… nơi có nhiều điều kiện thuận lợi.
Thứ ba, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt là khu vực hành chính – lãnh thổ có nhiều các cơ chế, chính sách đặc biệt,tính đặc biệt liên quan đến những ưu đãi mang tính thể chế nhằm thu hút các nhà đầu tư góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của vùng lãnh thổ có ranh giới xác định của đơn vị hành chính, gắn liền với hệ thống các chính sách ưu đãi nhằm tạo “vượt trội” cho các hoạt động đầu tư vào các vùng lãnh thổ khác nhau; đó là những ưu đãi về thuế quan, về xuất, nhập khẩu, về cơ sở hạ tầng, sử dụng đất đai, tài nguyên, lao động, tài chính – tiền tệ.v.v…
Thứ tư, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt là những đơn vị hành chính – lãnh thổ có những nét đặc biệt về thể chế hành chính, về luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công trên địa bàn. Theo đó, khung khổ thể chế, luật pháp, chính sách, thủ tục hành chính… tại các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt tạo thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và người dân trên địa bàn. Ở các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt thường phải có cơ cấu bộ máy chính quyền gọn nhẹ, ít đầu mối trung gian, vận hành thông suốt, nhanh nhạy, với đội ngũ nhân lực công tinh, gọn, có năng lực và trách nhiệm cao mới có thể thực thi công vụ có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các đòi hỏi của nhà đầu tư trong và ngoài nước, của các tổ chức kinh tế – xã hội và người dân.

1.2. Về khái niệm tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt

Về tổ chức chính quyền địa phương, Điều 111 Hiến pháp 2013 quy định: Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định. Với quy định này, Hiến pháp 2013 đã khẳng định chính quyền địa phương được tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính, tuy nhiên không phải ở tất cả các đơn vị hành chính thì mô hình tổ chức chính quyền địa phương đều giống nhau, chỉ có các đơn vị hành chính có tổ chức “cấp chính quyền” thì mới có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Tuy nhiên, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định tất
cả các đơn vị hành chính lãnh thổ từ cấp tỉnh đến cấp xã đều tổ chức cấp chính
quyền với đầy đủ cấu trúc gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Như vậy, mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại mọi đơn vị hành chính lãnh thổ bao gồm cả đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt đều được tổ chức theo quy định tại khoản 2 Điều 111 Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó tại Điều 75 Luật Tổ chức chính quyền địa phương cũng quy định:“Chính quyền địaphương tại đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt thực hiện theo quy định của Luật này.
Với cơ sở pháp lý như vậy, mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở
đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt cũng đã được xác định với cấu trúc bao
gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Vì vậy, khi bàn về mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt là xem xét đến cơ quan Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên các phương diện như: vị trí, vai trò; chức năng, nhiệm vụ; cơ cấu bộ máy; phương thức hoạt  động.

1.3 Nguyên tắc tổ chức chính quyền tại đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt

Dựa trên khái niệm và căn cứ pháp lý về đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và tổ chức chính quyền địa phương tại đơn vị – hành chính kinh tế đặc biệt, việc tổ chức chính quyền tại đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, cần xác định chính xác cấp chính quyền địa phương để lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy thích ứng, phù hợp với thông lệ chung về cách tổ chức chính quyền địa phương theo pháp luật hiện hành, đúng với quy định chung mang tính hiến định và có những nét “vượt trội” đặc trưng của chính quyền địa phương tại đơn vị – hành chính kinh tế đặc biệt.
Thứ hai, việc xác định loại, cấp đơn vị hành chính lãnh thổ cho đơn vị – hành chính kinh tế đặc biệt sẽ do Quốc hội quyết định phương án lựa chọn cơ cấu tổ chức.
Thứ ba, phải có một chính quyền địa phương đầy đủ để quản lý đơn vị hành chính lãnh thổ đặc biệt để phân biệt với ban quản lý khu kinh tế đặc biệt như đã có với Phú Quốc, Vân Đồn, Bắc Vân Phongvà nhiều khu kinh tế khác.
Thứ tư, chính quyền địa phương của đơn vị – hành chính kinh tế đặc biệt sẽ được trao thêm những nhiệm vụ và quyền hạn bổ sung, mở rộng hơn so với các cấp chính quyền địa phương hiện nay. Cơ cấu tổ chức bộ máy sẽ không thay đổi nhiều so với cơ cấu chung, tùy thuộc vào tính chất đặc biệt được trao cho từng loại đơn vị – hành chính kinh tế đặc biệt để có thể lựa chọn một cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền thích ứng.

2. Tổ chức chính quyền và một số kinh nghiệm trong tổ chức chính quyền tại các đơn vị hành chính lãnh thổ đặc biệt về kinh tế của một số quốc gia trên thế giới

Đặc khu kinh tế (còn gọi là khu kinh tế tự do) là hình thức tổ chức mới, một sản phẩm của sự phát triển so với khu kinh tế truyền thống, được tạo ra nhằm tạo điều kiện đặc biệt để phát triển mạnh một khu vực, mang tính đột phá và dẫn dắt cho các nơi khác. Đây thường là một khu vực rộng về địa lý và hệ thống các thể chế áp dụng trong khu linh hoạt, bao gồm các chính sách kinh tế và các chính sách hỗ trợ khác, bảo đảm cho doanh nghiệp đến đầu tư được cung cấp hệ thống các dịch vụ công tốt nhất, thuận tiện nhất, chuẩn mực nhất. Mục tiêu cơ bản là tạo ra môi trường kinh doanh và môi trường sống thật sự tân tiến, nhằm thu hút các công ty lớn nước ngoài và nguồn nhân lực cao của các nước đến sống và làm việc, qua đó tạo ra một khu kinh tế vượt trội về khả năng cạnh tranh và phát triển để tạo ra ảnh hưởng lớn, nhất là sự lan tỏa công nghệ đối với toàn bộ nền kinh tế.([3])
Mô hình đặc khu kinh tế hiện đại đầu tiên được thành lập tại Puerto Rico (vùng quốc hải ở phía Đông Bắc biển Caribe thuộc chủ quyền của Hoa Kỳ) năm 1942. Từ đó, mô hình này dần được nhân rộng tại nhiều quốc gia Châu A, điển hình như Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Philippines, Singapore vào cuối thập niên 60. Trong thập niên 70-80, nhiều quốc gia bắt đầu xây dựng những khu công nghệ cao nhằm khuyến khích nghiên cứu và phát triển các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại. Số lượng các đặc khu kinh tế tăng nhanh qua từng thời kỳ, từ 9 khu tại 9 nước vào những năm 60, đến năm 2015 đã có khảng 4500 khu tại 140 quốc gia, trong đó có nhiều nước đang phát triển. Trong số các đặc khu kinh tế đã được thành lập trên thế giới, có những đặc khu thành công như ở Trung Quốc, Philippines, Hàn Quốc, Myanma. Ngược lại có những đặc khu không mấy thành công như Ấn Độ, Senegal… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại của các đặc khu, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại các đặc khu.
Hầu hết các đặc khu kinh tế trên thế giới đều được xây dựng trên cơ sở có luật hoặc Nghị quyết của Quốc hội về đặc khu kinh tế.Hệ thống pháp luật được xây dựng phải hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế; vượt trội so với các quy định hiện hành, đảm bảo sự chuẩn mực và mục tiêu hướng tới là phục vụ phát triển kinh tế, đảm bảo tính tự do cạnh tranh.Bộ máy quản lý nhà nước được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao, quyền tự quyết trên nguyên tắc được làm tất cả những gì mà phát luật không cấm. Chính quyền địa phương tại các đặc khu kinh tế được phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ trong việc ban hành các văn bản pháp quy đã góp phần giải quyết nhanh, hiệu quả các vấn đề mà thực tiễn đời sống kinh tế xã hội đặt ra, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển nhanh chóng.
Để quản lý và điều hành hoạt động của các đặc khu kinh tế, cần phải xây dựng được một bộ máy hành chính hiệu quả. Mô hình bộ máy quản lý có sự đa dạng, linh hoạt phù hợp với đặc điểm từng khu vực và theo từng giai đoạn khác nhau. Hiện nay, trên thế giới, thường có các mô hình quản lý sau:
a) Mô hình cơ quan nhà nước trung ương hoặc chính quyền địa phương trực tiếp quản lý, vận hành các đặc khu kinh tế. Mô hình tổ chức này được thể hiện rõ nét nhất trong tổ chức chính quyền tại đặc khu kinh tế Thâm Quyến của Trung Quốc, và các khu kinh tế tự do của Hàn Quốc.
Trong số các đặc khu kinh tế trên thế giới, Thâm Quyến được đánh giá là thành công nhất.Đặc khu kinh tế Thâm Quyến nằm trong địa giới quản lý hành chính của thành phố Thâm Quyến, nhưng là một khu vực hành chính đặc biệt của tỉnh Quảng Đông.Tổ chức chính quyền tại Thâm Quyến được tổ chức một cách hiệu quả, tạo ra sự khác biệt thực sự so với chính quyền tại các đơn vị hành chính lãnh thổ khác. Bộ máy quản lý hành chính Nhà nước tại đặc khu kinh tế Thâm Quyến có sự phân cấp quản lý theo 3 cấp sau: cấp chính quyền trung ương, cấp chính quyền tỉnh và cấp chính quyền vùng, địa phương điều hành trực tiếp các đặc khu.
– Cấp chính quyền trung ương: Hội đồng Nhà nước Trung Quốc thành lập ra đơn vị có tên gọi là “Văn phòng phụ trách các đặc khu kinh tế” với hai chức năng cơ bản: chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát hoạt động của các đặc khu; tham mưu cho chính quyền trung ương trong việc ban hành các cơ chế, chính sách về đặc khu phù hợp với định hướng và điều kiện đất nước.
– Cấp chính quyền tỉnh: đặc khu kinh tế Thâm Quyến nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Đông, vì vậy, chính quyền tỉnh Quảng Đông thực hiện quản lý nhà nước đối với đặc khu kinh tế Thâm Quyến thông qua “Ủy ban Quản lý các đặc khu kinh tế” – đơn vị được thành lập để quản lý các đặc khu kinh tế của tỉnh.
– Cấp chính quyền của các vùng và địa phương điều hành trực tiếp các đặc khu: Chính quyền tỉnh Quảng Đông lập ra một chính quyền nhân dân ở đặc khu Thâm Quyến trực thuộc trực tiếp chính quyền tỉnh Quảng Đông. Trong đặc khu được phân chia thành các quận hay các vùng, khu khác nhau phục vụ mục đích quản lý hoặc phát triển các vấn đề đặc biệt (ví dụ: Khu công nghiệp, Khu miễn thuế…). Mỗi vùng, khu như vậy lại có hệ thống quản lý hành chính riêng và tùy thuộc vào tính chất đặc biệt của loại hình phát triển mà hệ thống quản lý hành chính của vùng, khu đó có thể chịu sự quản lý của trung ương hay của chính quyền tỉnh Quảng Đông. Chính quyền địa phương tại các đặc khu kinh tế được phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ trong việc ban hành các văn bản pháp quy đã góp phần giải quyết nhanh, hiệu quả các vấn đề mà đời sống kinh tế xã hội đặt ra, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển nhanh chóng. Chính quyền thành phố Thâm Quyến là đơn vị chính quyền hoàn chỉnh gồm có Hội đồng nhân dân thành phố, Chính phủ nhân dân đặc khu đừng đầu là Thị trưởng. Thành phố chia thành 8 chuyên quận, trong đó 4 quận là các đặc khu kinh tế chuyên ngành, 1 quận là trung tâm tài chính thương mại, 1 quận là trung tâm hành chính của thành phố, 1 quận là trung tâm công nghệ cao và 1 quận là cơ sở dịch vụ hậu cần hàng hải – logistic.
Nhìn chung, chính quyền ở đặc khu kinh tế Thâm Quyến rất gọn, nhẹ với chỉ có 3 cấp hành chính, giúp đơn giản hóa bộ máy hành chính, bộ máy điều hành gọn nhẹ, linh hoạt, được điện tử hóa (xây dựng chính phủ điện tử), không bị trùng chéo về chức năng, nhiệm vụ.([4])
Hàn Quốc đã thành lập ra 8 khu kinh tế tự do, mô hình tổ chức chính quyền tại các khu kinh tế tự do của Hàn Quốc thì chính quyền địa phương trực tiếp quản lý tùy theo quy mô cấp tỉnh, huyện. Theo đó, hội đồng gọi là “Ủy ban phát triển khu kinh tế” được thành lập ra nhằm quản lý các đặc khu kinh tế. Ủy ban này trực thuộc Thủ tướng Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Công Thương và Năng lượng làm Trưởng Ủy ban, gồm lãnh đạo nhiều bộ, ngành và các chuyên gia kinh tế. Ủy ban xây dựng quy hoạch, chính sách, kế hoạch phát triển các khu kinh tế tự do, quyết định những vấn đề lớn ngoài thẩm quyền của chính quyền tỉnh. Nếu được sự đồng ý của Ủy ban này thì Chính phủ có thể sẽ hỗ trợ 100% vốn đầu tư hạ tầng cho đặc khu kinh tế. Tại mỗi khu kinh tế tự do, thành lập một Ban quản lý có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển, quyết định cấp phép đầu tư, xây dựng khu kinh tế. Chỉ những dự án lớn đầu tư vào khu kinh tế trong những ngành quan trọng, có tính định hướng cho toàn ngành mới cần xin ý kiến cấp Ủy ban Phát triển khu kinh tế.([5])
b) Mô hình tổ chức do Chính phủ, Quốc hội hoặc Tổng thống thành lập các đặc khu kinh tế nhưng giao cho tư nhân điều hành, quản lý theo mô hình “lãnh đạo công – quản trị tư”. Tiêu biểu cho mô hình này là mô hình tổ chức trong các đặc khu kinh tế của Philippines, mô hình hỗn hợp nhà nước và tư nhân này cũng được nhiều quốc gia khác áp dụng như UAE, Indonesia, Malaysia,… tuy nhiên không được thành công như Philippines.
Đặc khu kinh tế ở Philippines có các dạng như: Vùng kinh tế đặc biệt theo đạo luật năm 1945; Đặc biệt khu kinh tế; Xuất khẩu phát triển Acact (EDA) năm 1994; Đặc khu kinh tế; Các doanh nghiệp SBF; Khu kinh tế Clark Special (CSEZ). Tại các đặc khu kinh tế, Philippines tổ chức bộ máy quản lý bao gồm 2 cấp: Cơ quan quản lý nhà nước trung ương các SEZ và ở từng vùng kinh tế đặc biệt có chủ thể riêng để quản lý, được trao quyền đủ để quản lý. Hai chủ thể này đều được pháp luật quy định định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy.Tuy nhiên, tổng thống vẫn là người quyết định nhiều vấn đề về SEZ.
Chính quyền Khu kinh tế đặc biệt của Philippies (PEZA) được gắn với Sở Thương mại và Công nghiệp và được giao nhiệm vụ thúc đẩy đầu tư, mở rộng hỗ trợ, đăng ký, cấp ưu đãi và tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư trong sản xuất định hướng xuất khẩu và các cơ sở dịch vụ trong các lĩnh vực được lựa chọn trong cả nước và công bố bởi Tổng thống Philippines. PEZA giám sát và quản lý khuyến khích các nhà phát triển, nhà điều hành và định vị ở đẳng cấp thế giới. Đặc khu kinh tế được bảo đảm và giá car cạnh tranh, thân thiện môi trường, năng động, đạo đức đáp ứng và định hướng khách hang. PEZA đã giành được sự tin tưởng và niềm tin của các nhà đầu tư vào các khu kinh tế đặc biệt, được chứng nhận bởi tiêu chuẩn ISO 9001:2000.
Việc tổ chức PEZA và các ưu đãi đầu tư bên trong đặc khu kinh tế PEZA được thể hiện trong Luật đặc khu kinh tế của năm 1995 (Đạo luật Cộng hoàn số 7916).Theo đó, Ban PEZA được chủ trì bởi Bộ trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp.Phó Chủ tịch là Tổng Giám đốc (Giám đốc) của PEZA. Thành viên Hội đồng là đại diện cho các Sở của Chính phủ, để đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa PEZA và các Sở tương ứng của họ về các vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư trong các khu kinh tế đặc biệt.([6])
c) Mô hình hợp tác liên chính phủ trong phát triển đặc khu kinh tế. Điển hình là mô hình của đặc khu Tô Châu của Trung Quốc.Tô Châu được xem là đặc khu thành công với mô hình hợp tác kinh tế – kỹ thuật giữa Trung Quốc và nước ngoài.Tô Châu liên tục nhiều năm đứng đầu bẳng xếp hạng về “khu phát triển có sự cạnh tranh nhất trong các thành phố Trung Quốc”. Tại Tô Châu chính phủ Trung Quốc và Chính phủ Singapore cung cấp vốn khởi động, chuyển giao chuyên môn trong quy hoạch đô thị, phát triển công nghiệp, thiết kế đô thị và đặc biệt nhất là chiến lược kinh doanh gia công phần mềm. Với cam kết của Chính phủ Singapore, nhiều nhà đầu tư Singapore và đối tác quốc tế của họ đã di chuyển đến Tô Châu đầu tư nhằm thu lợi nhuận.([7])
Bên cạnh đó, phải có một chủ thể quản lý nhà nước có hiệu lực. Ở Hàn Quốc có Ủy ban phát triển kinh tế tự do do Thủ tướng đứng đầu. Nam Phi có Hội đồng cố vấn để tư vấn cho Bộ trưởng (Bộ Công thương) để quyết định cho phép thành lập hay không thành lập các khu kinh tế tự do. Myanmar lại thành lập cơ quan quản lý (nhà nước) các đặc khi kinh tế do Tổng thống làm chủ tịch. Ở Philippines, Ban PEZA được chủ trì bởi Bộ trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp.Với cơ chế đó, cơ quan quản lý các đặc khu kinh tế mới thực sự có quyền quản lý.
Đồng thời vớ bộ máy hành chính hiệu quả, các thủ tục hành chính cũng được đơn giản hóa, công khai, minh bạch, dễ hiểu, dễ tiếp cận vớ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Phương châm thường được áp dụng tại các đặc khu là “chính phủ nhỏ, xã hội lớn”, “phê duyệt ít – dịch vụ nhiều”, “lãnh đạo công – quản trị tư”, “hiệu quả cao, pháp chế hóa”, “tinh giản, thống nhất và hiệu quả”, ưu tiên vận dụng các phương pháp, cách thức quản lý của khu vực tư vào cải thiện khu vực công.([8])

3. Bài học trong tổ chức chính quyền địa phương tại các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ở nước ta

Việc xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ở nước ta nên học tập có chọn lọc những kinh nghiệm thành công trong việc xây dựng các đặc khu ở các nước trên thế giới, như:
Thứ nhất, việc xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức chính quyền của các đơn bị hành chính lãnh thổ nói chung như: tuân thủ Hiến pháp, pháp luật (chính quyền địa phương của đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt phải là chính quyền địa phương đầy đủ, bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân) , phù hợp với các chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển của đất nước và từng vùng, miền, đảm bảo công khai, dân chủ,… Đồng thời, phải phù hợp với những đặc điểm riêng của đơn vị hành chính lãnh thổ đó, đặc biệt là các yếu tố lịch sử, văn hóa, nguyện vọng, ý chí của nhân dân địa phương, trình độ, năng lực quản lý của bộ máy chính quyền nơi đây.
Thứ hai, chính quyền tại đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt phải có tính độc lập tương đối, tính tự chủ ở lĩnh vực kinh tế. Muốn vậy, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước cho chính quyền địa phương đặc khu. Theo đó, ngày càng phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với các vấn đề của địa phương để phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của mỗi cấp chính quyền địa phương, trong đó quan trọng nhất là vấn đề phân cấp về mặt quản lý và sử dụng ngân sách. Bên cạnh đó, để tạo sự đồng thuận xã hội cần thu hút sự tham gia của các chủ thể khác nhau trong xã hội (dân cư, tổ chức xã hội,…) vào quản trị địa phương. Đây là kinh nghiệm thành công của hầu hết các đặc khu kinh tế trên thế giới.Tuy nhiên, vẫn rất cần sự kiểm soát của chính quyền trung ương nhằm tránh tình trạng lạm quyền hoặc chệch định hướng của chính quyền đặc khu, giúp cho việc bảo đảm thực hiện hiệu quả quản lý địa phương, thông qua việc xây dựng thể chế quy định chặt chẽ về mối quan hệ phân cấp, phân quyền, ủy quyền giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương các đặc khu. Bên cạnh đó, cần xây dựng một chủ thể quản lý thật sự có hiệu lực, hiệu quả – một cơ quan phát triển, quản lý đặc khu kinh tế như mô hình của Philippines, Hàn Quốc.([9])
Thứ ba, bộ máy chính quyền tại các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt phải được xây dựng theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Chính quyền đơn vị hành chính –  kinh tế đặc biệt là chính quyền địa phương bao gồm đầy đủ Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, nhưng chỉ tổ chức theo mô hình một cấp. Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt được trao tất cả chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn như các cấp chính quyền địa phương khác, nhưng được trao thêm những nhiệm vụ, quyền hạn “vượt trội”. Cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt là mô hình của Chính phủ (Trung ương) thu gọn, có đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn để quản lý nhà nước tất cả các vấn đề thuộc đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và triển khai các chính sách, thể chế vượt trội để thu hút đầu tư phát triển vùng lãnh thổ thuộc đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.([10])Chủ thể nắm quyền hành pháp địa phương nên là một chủ thể duy nhất, do nhân dân địa phương bầu, trung ương phê chuẩn. Do đặc thù về cơ chế một Đảng duy nhất lãnh đạo nên trong xây dựng chính quyền đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ở nước ta, có thể xem xét nhất thể hóa chứng danh Bí thư và Người đứng đầu hành chính đặc khu. Đây cũng là bài học kinh nghiệm được đút rút từ thành công của các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc, tuy nhiên cần được nghiên cứu một cách kỹ càng khi đưa vào luật.
Thứ tư, xây dựng cơ chế “lãnh đạo công – quản trị tư” trong tổ chức chính quyền tại đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Tư duy “lãnh đạo công – quản trị tư” thể hiện thông qua việc Nhà nước chỉ nắm phần định hướng, còn lại dịch vụ công có thể để tư nhân làm. Đây là tư duy quản lý công mới, đẩy mạnh hoạt động phân quyền, theo đó giao quyền nhiều hơn cho các cơ quan nhà nước ở địa phương và các bộ, ngành nhằm tăng cường tính chủ động trong hoạt động quản lý nhà nước. Quản lý công mới cũng chỉ rõ vai trò của Nhà nước không trực tiếp cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho xã hội mà chỉ chịu trách nhiệm đảm bảo cung cấp dịch vụ, hướng đến chuyển giao cho khu vực tư đảm nhiệm chức năng này và chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý ở tầm vĩ mô. Quản lý theo hướng chú trọng đến kết quả đầu ra, dùng các tiêu chí cụ thể để đánh giá kết quả hành chính. Điều này tạo ra một môi trường làm việc mềm dẻo linh hoạt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất.([11])

 

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)

 
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp 2013
2. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
3. Về mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, PGS.TS. Võ Kim Sơn – Học viện Hành chính Quốc gia
4. Nguyễn Thị Ngọc Lan, Luận án “Tổ chức chính quyền tại các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay”
5. Viện Nghiên cứu lập pháp, thông tin chuyên đề mô hình tổ chức chính quyền tại các đơn bị hành chính lãnh thổ đặc biệt ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam (năm 2018)
6. Chuyên đề: Mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt: những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết, Viện Nghiên cứu lập pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (năm 2017)
7. https://en.wikipedia.org/wiki/Philippine_Economic_Zone_Authority
8. https://thethaovanhoa.vn/the-gioi/dac-khu-kinh-te-nhung-dieu-can-biet-va-nhung-mo-hinh-thanh-cong-tren-the-gioi-n20180604112505138.htm


([1]) Điều 74 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

([2]) Chuyên đề: Mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt: những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết, Viện Nghiên cứu lập pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (năm 2017)

([3]) Nguyễn Thị Ngọc Lan, Luận án “Tổ chức chính quyền tại các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay

([4]) http://cafef.vn/tham-quyen.html.chn

([5]) https://baomoi.com/dac-khu-kinh-te-luc-day-dot-pha-k3-nhung-hinh-mau-toa-sang/c/23965074.epi

([6]) https://en.wikipedia.org/wiki/Philippine_Economic_Zone_Authority

([7]) https://thethaovanhoa.vn/the-gioi/dac-khu-kinh-te-nhung-dieu-can-biet-va-nhung-mo-hinh-thanh-cong-tren-the-gioi-n20180604112505138.htm

([8])Nguyễn Thị Ngọc Lan, Luận án “Tổ chức chính quyền tại các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay

([9]) Viện Nghiên cứu lập pháp, thông tin chuyên đề mô hình tổ chức chính quyền tại các đơn bị hành chính lãnh thổ đặc biệt ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam

([10]) Về mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, PGS.TS. Võ Kim Sơn – Học viện Hành chính Quốc gia

([11]) Nguyễn Thị Ngọc Lan, Luận án “Tổ chức chính quyền tại các đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt ở Việt Nam hiện nay